Công nghiệp hỗ trợ Việt tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

11/08/2021 - 11:02 AM

Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng hội nhập và phát triển sâu rộng vào "sân chơi" khu vực và toàn cầu đã mở ra cơ hội rất lớn cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ (CNHT) Việt tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, do thiếu các doanh nghiệp “đầu tàu”, đủ khả năng dẫn dắt nên ngành CNHT Việt Nam còn kém phát triển, đòi hỏi trong thời gian tới cần có nhiều giải pháp thúc đẩy doanh nghiệp CNHT tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI và chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia.

CNHT tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Năm 2014, Tập đoàn Samsung đưa ra danh sách 170 phụ kiện doanh nghiệp Việt Nam có thể cung ứng cho sản phẩm GalaxyS4 và Tab nhưng các doanh nghiệp CNHT của Việt Nam đã không thể đáp ứng được dù chỉ là linh kiện đơn giản nhất và phải chấp nhận thất bại ngay trên sân nhà. Một năm sau, để không bỏ lỡ cơ hội, 4 doanh nghiệp CNHT Việt Nam đã đạt cấp độ nhà cung ứng cấp 1 của Samsung và tiếp tục gia tăng số lượng nhà cung ứng cho Samsung trong những năm sau đó. Cụ thể, đến năm 2020 số lượng nhà cung ứng cấp 1 của Samsung tăng từ 35 doanh nghiệp năm 2018 lên 42 doanh nghiệp; số lượng nhà cung ứng cấp 2 tăng từ 157 doanh nghiệp lên 170 doanh nghiệp, 240 doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới cung ứng của Samsung. Ngoài Samsung, hiện có hàng trăm doanh nghiệp CNHT Việt Nam đã trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng cho các hãng Toyota, LG, Trường Hải…

 Công nghiệp hỗ trợ Việt tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Bên cạnh việc gia tăng số lượng nhà cung ứng, nhiều sản phẩm “made in Việt Nam” đã ra đời. Năm 2015, đánh dấu bước đầu phát triển của ngành công nghiệp công nghệ thông tin Việt Nam với sự xuất hiện của chiếc điện thoại cao cấp “made in Việt Nam” thương hiệu Bphone trên thị trường. Đến năm 2019, ô tô VinFast thương hiệu Việt xuất hiện đánh dấu vị thế mới của ngành công nghiệp ô tô đang vươn lên tự chủ trong đầu tư, sản xuất, làm chủ công nghệ và tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, sau 30 năm chủ yếu làm lắp ráp với tỷ lệ nội địa hóa chưa bao giờ đạt kỳ vọng. Hiện, Việt Nam được xem là địa điểm thu hút nhiều tập đoàn công nghệ hàng đầu thế giới như: Samsung, LG, Canon, Intel, Foxconn... Đây là cơ hội cho ngành CNHT Việt Nam tham gia tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Về phía các doanh nghiệp FDI cũng đã có những thay đổi tích cực trong sử dụng nhà cung cấp khi chú ý hơn tới nguồn cung cấp từ các doanh nghiệp Việt. Theo khảo sát của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), năm 2020, tỷ lệ doanh nghiệp FDI mua nguyên liệu đầu vào từ các doanh nghiệp tại nước xuất xứ đã giảm dần từ 58,7% năm 2016 xuống 41,4% năm 2020. Ngoài ra, doanh nghiệp FDI cũng đã giảm phụ thuộc vào các nhà cung cấp từ nước thứ ba hơn so với 5 năm trước. Theo đó, chỉ có 26,8% doanh nghiệp FDI cho biết đã sử dụng nhà cung cấp bên thứ ba trong năm 2020, thấp hơn so với 39% năm 2016. Theo đánh giá của VCCI, kết quả khảo sát tỷ lệ doanh nghiệp FDI sử dụng nhà cung cấp Việt Nam cho thấy, dường như mức độ hài lòng của những DN FDI - vốn có nguồn cung ứng đa dạng, đối với các nhà cung cấp Việt Nam đã đủ để họ ngừng sử dụng hoặc giảm phụ thuộc vào các nhà cung ứng nước ngoài. Còn theo khảo sát do Qima - một nhà cung cấp các giải pháp chuỗi cung ứng - thực hiện với hơn 700 doanh nghiệp trên toàn cầu trong tháng 3 vừa qua cũng cho thấy, Việt Nam tiếp tục được nhiều doanh nghiệp Mỹ và châu Âu lựa chọn vào chuỗi cung ứng. Cụ thể, 1/4 doanh nghiệp được hỏi trên toàn cầu đã coi Việt Nam là một trong 3 thị trường cung ứng hàng đầu, đặc biệt, Việt Nam được các doanh nghiệp có trụ sở tại Mỹ ưa chuộng. Tỷ lệ các doanh nghiệp có trụ sở tại Mỹ coi Việt Nam là một trong 3 khu vực cung ứng hàng đầu đã tăng gấp đôi trong 4 năm qua (đạt 43% trong đầu năm 2021). Trong số các doanh nghiệp tham gia khảo sát đã chuyển sang các nhà cung cấp khác vào năm ngoái để tránh đại dịch và các rủi ro khác, có 1/3 doanh nghiệp cho biết Việt Nam là lựa chọn hàng đầu của họ. Riêng với doanh nghiệp Mỹ, con số này thậm chí còn cao hơn, ở mức 40%. Trong số những doanh nghiệp được hỏi có ý định tìm kiếm các nhà cung ứng mới trong 12 tháng tới, có 38% doanh nghiệp Mỹ và 28% doanh nghiệp châu Âu cho biết có kế hoạch chọn Việt Nam hoặc mua thêm từ các nhà cung cấp ở đây.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ngày càng hoàn thiện, các chính sách hỗ trợ phát triển CNHT và chính sách ưu đãi cho lĩnh vực này cũng đang được triển khai thực hiện góp phần hỗ trợ thúc đẩy ngành CNHT ngày càng phát triển và lớn mạnh, khẳng định việc chú trọng phát triển CNHT nhằm giúp doanh nghiệp CNHT Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu là chủ trương đúng đắn của Chính phủ và đang đem lại hiệu quả rõ nét. Theo Bộ Công Thương, Việt Nam hiện có khoảng 2.000 doanh nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện, trong đó chỉ có khoảng 300 doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng đa quốc gia, tạo việc làm cho hơn 600.000 lao động. Một số doanh nghiệp sản xuất linh kiện của Việt Nam có năng lực tốt ở các lĩnh vực như: Sản xuất khuôn mẫu các loại; linh kiện xe đạp, xe máy; linh kiện cơ khí tiêu chuẩn; dây cáp điện; linh kiện nhựa - cao su kỹ thuật; săm lốp các loại… Các sản phẩm này đã đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và được xuất khẩu sang nhiều quốc gia trên thế giới. Doanh nghiệp CNHT trong nước cũng ngày càng tích cực áp dụng các tiêu chuẩn, công cụ quản lý hiện đại vào sản xuất, chế tạo, trong đó đã hình thành và phát triển được các tập đoàn kinh tế lớn hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp cơ bản, vật liệu, cơ khí chế tạo như: Viettel, Vingroup, Trường Hải, Thành Công, Hòa Phát..., đã tạo nền tảng cho ngành CNHT, giúp các doanh nghiệp CNHT của Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được ngành CNHT Việt Nam vẫn bộc lộ những điểm nghẽn cần được giải tỏa để các doanh nghiệp có thể tiếp cận gần hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu như: Hạn chế về năng lực tổ chức quản lý sản xuất và công nghệ; thiếu nguồn lực để đổi mới; lĩnh vực sản xuất khá giống nhau, cả về trình độ, quy mô, công nghệ và sản phẩm; chưa đủ năng lực cung cấp linh kiện và phụ tùng đáp ứng các yêu cầu để tham gia sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu. Đặc biệt, Việt Nam còn thiếu các doanh nghiệp “đầu tàu”, đủ khả năng dẫn dắt các lĩnh vực CNHT phát triển. Bên cạnh đó, việc đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp cũng chưa được chú trọng do thiếu vốn đầu tư, tiềm lực tài chính chưa đủ mạnh và thiếu nguồn nhân lực kỹ thuật cao.

 Công nghiệp hỗ trợ Việt tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu 1

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Đánh giá về cơ hội trong thời gian tới, các chuyên gia cho rằng, các doanh nghiệp CNHT Việt Nam hiện đang đứng trước cơ hội rất lớn để được kết nối, tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn toàn cầu. Với điểm thuận lợi Việt Nam là một trong những nền kinh tế có độ mở lớn khi tích cực nỗ lực hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng thông qua việc tham gia vào nhiều thỏa thuận thương mại tự do thế hệ mới và đã từng bước đa dạng hóa thị trường cũng như sản phẩm xuất khẩu; phần lớn các rào cản trong thương mại quốc tế dần được dỡ bỏ, thủ tục pháp lý cũng tối giản hơn; môi trường kinh doanh của Việt Nam được cải thiện… là động lực để ngày càng có nhiều tập đoàn lớn tham gia sản xuất kinh doanh tại Việt Nam. Mới đây, một số tập đoàn lớn của Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã “đánh tiếng” tìm hiểu về các năng lực sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp điện tử, cơ khí của Việt Nam. Tại Hội chợ Vietnam Expo 2021 diễn ra vào tháng 4/2021 cũng cho thấy, một danh sách các công ty tìm kiếm cơ hội kết nối hợp tác với Việt Nam đến từ các nước có ngành công nghiệp phát triển như: Liên bang Đức, Nhật Bản, Liên bang Nga, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc…

Cùng với đó, ngày 6/8/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 115/NQ-CP về các giải pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp hỗ trợ, đây được xem là“bệ phóng” giúp tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo phát triển nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nghị quyết đặt ra mục tiêu đến năm 2025, doanh nghiệp Việt Nam có khả năng sản xuất các sản phẩm CNHT có tính cạnh tranh cao, đáp ứng được 45% nhu cầu thiết yếu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa; chiếm khoảng 11% giá trị sản xuất toàn ngành công nghiệp; có khoảng 1.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam trong đó, doanh nghiệp trong nước chiếm khoảng 30%. Đến năm 2030, sản phẩm CNHT đáp ứng 70% nhu cầu cho sản xuất, tiêu dùng trong nội địa; chiếm khoảng 14% giá trị sản xuất công nghiệp; có khoảng 2.000 doanh nghiệp đủ năng lực cung ứng trực tiếp cho các doanh nghiệp lắp ráp và tập đoàn đa quốc gia trên lãnh thổ Việt Nam.

Đồng thời, Bộ Công thương cũng đã phê duyệt Chương trình phát triển CNHT năm 2021 với kinh phí gần 240 tỷ đồng, mục tiêu là tập trung phát triển CNHT cho các lĩnh vực chủ yếu như: Linh kiện phụ tùng điện tử, ô-tô, dệt may, da giày và công nghiệp công nghệ cao thông qua hỗ trợ nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; xúc tiến đầu tư nước ngoài; hỗ trợ doanh nghiệp áp dụng hệ thống quản trị hiện đại và đào tạo nâng cao nguồn nhân lực; hỗ trợ nghiên cứu phát triển, ứng dụng chuyển giao và đổi mới công nghệ trong sản xuất thử nghiệm;... qua đó tạo động lực giúp ngành CNHT có bước chuyển thực chất hơn, hỗ trợ các doanh nghiệp từng bước tự chủ nguồn nguyên vật liệu, linh phụ kiện trong nước cũng như tham gia hiệu quả hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Giải pháp phát triển CNHT tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu

Việt Nam đang dần trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Để CNHT Việt tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, trong thời gian tới cần tập trung vào các giải pháp như:

 Công nghiệp hỗ trợ Việt tiếp cận gần hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu 2

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Một là, xây dựng, hoàn thiện và triển khai hiệu quả, đồng bộ các cơ chế, chính sách đặc thù phát triển CNHT và các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ưu tiên phát triển (được Nhà nước ưu đãi và hỗ trợ theo quy định tại Luật Đầu tư), đảm bảo điều kiện thuận lợi cho phát triển CNHT, đồng thời xây dựng và triển khai các chính sách hiệu quả cho các ngành công nghiệp vật liệu và phát triển thị trường cho các ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh, tạo nền tảng cơ bản cho công nghiệp hóa theo hướng hiện đại và bền vững.

Hai là, thu hút đầu tư hiệu quả và thúc đẩy kết nối kinh doanh, liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam với các doanh nghiệp đa quốc gia, các công ty sản xuất, lắp ráp trong nước và nước ngoài; xây dựng các khu CNHT tập trung để tạo cụm liên kết ngành; phát triển các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu nhằm tự chủ về nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, giảm phụ thuộc nguồn nhập khẩu, nâng cao vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Ba là, thúc đẩy phát triển thị trường nội địa và thị trường ngoài nước để tạo điều kiện phát triển CNHT và các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ưu tiên; tìm kiếm, mở rộng các thị trường ngoài nước trên cơ sở tận dụng các hiệp định thương mại tự do FTA đã ký kết; triển khai các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo ưu tiên tham gia hiệu quả các FTA...

Bốn là, xây dựng và vận hành hiệu quả các trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp vùng và địa phương nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo ưu tiên đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, nghiên cứu - phát triển, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và năng suất, chất lượng sản phẩm.

Năm là, tập trung nâng cao năng lực khoa học và công nghệ cho doanh nghiệp CNHT, nhằm tạo sự bứt phá về hạ tầng công nghệ, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp CNHT.

Sáu là, phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực CNHT và công nghiệp chế biến, chế tạo thông qua các chương trình, kế hoạch quốc gia về nâng cao tay nghề, thúc đẩy liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp./.

TS. Trần Ánh Phương

Đại học Công nghiệp Hà Nội

 

 


Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top