Tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc năm 2021 (COP26), Việt Nam đã cam kết sẽ đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Đây được coi là cam kết mạnh mẽ đối với một quốc gia đang phát triển dựa trên các nguyên liệu hóa thạch với lượng phát thải tương đối lớn. Vì vậy, để có thể hiện thực được cam kết này, Việt Nam cần huy động sự tham gia đóng góp của cả xã hội, đặc biệt là từ phía các doanh nghiệp trên cả nước.
Phát thải khí nhà kính từ hiện thực trước mắt
Phát thải khí nhà kính do con người tạo ra được coi là nguyên nhân chính dẫn đến biến đổi khí hậu, thách thức lớn nhất đối với thế giới hiện nay. Việt Nam là một trong những quốc gia dễ bị tổn thương nhất trước biến đổi khí hậu với các hiện tượng lũ lụt, hạn hán, nước biển dâng, xâm thực mặn; xếp thứ 13 trong bảng xếp hạng Chỉ số Rủi ro Khí hậu 2021. Theo phân tích của Viện Tài nguyên thế giới về ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, đặc biệt là lũ lụt đến GDP, Việt Nam đứng thứ 4 trong số 164 quốc gia được khảo sát về tác hại nghiêm trọng của lũ lụt đến toàn nền kinh tế, làm thiệt hại khoảng 2,3% GDP mỗi năm. Còn Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra dự báo biến đổi khí hậu có thể gây ảnh hưởng 1,5% tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam từ nay đến năm 2050 và sẽ tác động tiêu cực đến thành tựu vĩ mô, cải cách thể chế, đảm bảo mục tiêu bền vững môi trường của Việt Nam.
Nông nghiệp là ngành chịu nhiều thiệt hại nhất bởi theo ước tính, nếu mực nước biển dâng cao thêm 1m mà không có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu thì khoảng 40% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), 11% diện tích Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) và 3% diện tích của các tỉnh khác thuộc vùng ven biển sẽ bị ngập. Lũ lụt sẽ khiến gần 50% diện tích đất nông nghiệp vùng ĐBSCL bị ngập chìm không còn khả năng canh tác.
Bên cạnh nông nghiệp, lĩnh vực khai khoáng, lâm nghiệp, thủy sản cũng được đánh giá là có giá trị tổn thất cao ở các vùng kinh tế do biến đổi khí hậu gây ra. Các tác động rủi ro thiên tai và biến đổi khí hậu đến các doanh nghiệp ngành này chủ yếu là: Gián đoạn sản xuất kinh doanh, năng suất lao động bị giảm, suy giảm doanh thu, bị gián đoạn kênh vận chuyển, gia tăng chi phí sản xuất, mạng lưới phân phối đình trệ, giảm chất lượng sản phẩm, thiết hụt nhân lực, thiếu nguồn cung nguyên liệu sản xuất. Nghiên cứu của WWF Việt Nam cho thấy, năm 2019, giá trị tổn thất của ngành ngành khai khoáng cao nhất khoảng 1,8 tỷ đồng, ngành nông nghiệp thiệt hại khoảng 962 triệu đồng, ngành công nghiệp thiệt hại khoảng 712 triệu đồng, ngành xây dựng thiệt hại khoảng 669 triệu đồng do biến đổi khí hậu gây ra.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận một thực tế rằng, Việt Nam hiện cũng đang là một nguồn phát thải mới nổi. Trong vài thập kỷ gần đây, Việt Nam đang phát triển rất nhanh chóng dựa vào nguồn nguyên liệu hóa thạch vốn là tài nguyên của đất nước khiến cho Việt Nam trở thành nguồn phát thải khí nhà kính nhanh nhất Tiểu vùng sông Mê-kông mở rộng.
Ảnh minh họa, nguồn Internet
Nhận thức được những tác động khốc liệt tới môi trường Chính phủ Việt Nam đã rất tích cực coi trọng nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Trong Đóng góp do Quốc gia tự Quyết định (NDC) bản điều chỉnh, Việt Nam cam kết cắt giảm 9% khí nhà kính so với kịch bản thông thường (BAU) và 27% với hỗ trợ quốc tế vào năm 2030. Đặc biệt tại Hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu của Liên Hợp quốc năm 2021, Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) là sự cân bằng lượng khí nhà kính do hoạt động của con người tạo ra với một lượng tương đương được loại bỏ khỏi bầu khí quyển. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cam kết sẽ chấm dứt nạn phá rừng vào năm 2030, không xây dựng nhà máy điện than mới sau năm 2030 và loại bỏ năng lượng điện than vào năm 2040. Những cam kết trên đã thể hiện quyết tâm cao độ của Việt Nam phát thải khí nhà kính.
Sự vào cuộc của Chính phủ
Để thực hiện các nội dung đã cam kết về Net Zero, Chính phủ Việt Nam đã vào cuộc mạnh mẽ bằng hàng loạt các chủ trương, chính sách. Trong đó phải kể đến Nghị định 06/2022/NĐ-CP về giảm phát thải khí nhà kinh và bảo về tầng ô-zôn. Nghị định này quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường, trong đó bao gồm điều 91 về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính, Điều 92 về bảo vệ tầng ô-zôn, Điều 139 về tổ chức và phát triển thị trường carbon. Mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt trong Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), bao gồm mục tiêu giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho các lĩnh vực năng lượng, nông nghiệp, sử dụng đất và lâm nghiệp, quản lý chất thải, các quá trình công nghiệp phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.
Chiến lược hướng đến Net Zero cũng là một phần của kinh tế xanh và tăng trưởng xanh. Trong nền kinh tế xanh, các khoản đầu tư kinh tế không chỉ góp phần tạo ra việc làm mới và cải thiện thu nhập mà còn góp phần giảm phát thải và các vấn đề về môi trường, sử dụng bền vững và hiệu quả các nguồn tài nguyên cũng như bảo vệ loại và các hệ sinh thái. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 đặt ra mục tiêu đến năm 2030, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP giảm ít nhất 15% so với năm 2014; đến năm 2050, cường độ phát thải khí nhà kính trên GDP giảm ít nhất 30% so với năm 2014. Đồng thời chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh hóa các ngành kinh tế, áp dụng mô hình kinh tế tuần hoàn thông qua khai thác và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và năng lượng dựa trên nền tảng khoa học và công nghệ, ứng dụng công nghệ số và chuyển đổi số, phát triển kết cấu hạ tầng bền vững để nâng cao Chất lượng tăng trưởng, phát huy lợi thế cạnh tranh và giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.
Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được phê duyệt theo Quyết định số 450/QĐ-TTg ngày 13/4/2022 do Phó Thủ tướng Lê Văn Thành ký ban hành đã xác định: Đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo, sử dụng nhiên liệu sạch, sử dụng vật liệu xây dựng không nung, thân thiện với môi trường; kiểm soát các chất làm suy giảm tầng ô-zôn từ các hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Thiết lập và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế carbon thấp. Áp dụng các mô hình kinh tế tuần hoàn, thực hiện quản lý tổng hợp chất thải rắn; kiểm soát và giảm phát thải khí mêtan từ các bãi chôn lấp chất thải.
Vai trò và đóng góp của doanh nghiệp
Nội dung Đóng góp do Quốc gia tự Quyết định năm 2020 của Việt Nam đã nêu rằng, các doanh nghiệp là một trong những nhóm tác nhân chính có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các cam kết của Việt Nam. Điều này là hiển nhiên, bởi, các doanh nghiệp trên toàn cầu đóng góp tới 70% lượng khí thải carbon của thế giới. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp đóng góp phần lớn vào GDP và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời cũng chiếm phần lớn lượng phát thải khí nhà kính do các hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó, doanh nghiệp có vai trò khá quan trọng trong các hành động chung của Việt Nam để thực hiện các cam kết.
Hơn thế nữa, việc tuân theo các nguyên tắc vầ phát thải đối với các doanh nghiệp ngày nay là một trong các yêu cầu bắt buộc trong xu thế hội nhập kinh tế toàn cầu. Quản lý rủi ro của biến đổi khí hậu đang nhanh chóng trở thành một yếu tố cần thiết nếu doanh nghiệp muốn đảm bảo sự thịnh vượng lâu dài và đạt được lợi ích thương mại. Hiện nay, có hơn 190 quốc gia và vùng lãnh thổ đã thông qua Thỏa thuận Paris, một hiệp ước quốc tế ràng buộc về mặt pháp lý về biến đổi khí hập tạo COP21 năm 2015. Qua đó, các nhà đầu tư, người tiêu dùng đã có những yêu cầu chặt chẽ hơn, đòi hỏi sự cam kết của các doanh nghiệp trong thực hiện các hành động bảo vệ môi trường. Khi đứng ngoài các cam kết, doanh nghiệp sẽ có nhiều khả năng phải đối mặt với các vấn đề như: Không tuân thủ các quy định của Chính phủ, đầu tư thua lỗ, bị bỏ lại phía sau, bị đe dọa bởi sự bất ổn của chuỗi cung ứng và tiếp tục chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt.
Bên cạnh đó, khi đưa mục tiêu Net Zero vào chiến lược kinh doanh, doanh nghiệp sẽ có cơ hội để tái định vị, xác định và chuyển đổi mục đích sử dụng các sản phẩm và dịch vụ hiện có thành các dịch vụ có năng suất cao hơn, chất lượng tốt hơn. Thêm vào đó, để thúc đẩy quá trình thực hiện cam kết, nhiều nguồn vốn đầu tư cũng ưu tiên sử dụng cho các doanh nghiệp có cam kết hành động vì khí hậu. Điều này cũng tạo cơ hội đặc biệt cho các doanh nghiệp đầu tư cho quá trình chuyển đổi bằng cách mở rộng phạm vi các nguồn vốn truyền thống.
Để thực hiện mục tiêu phát thải ròng bằng 0, trước hết, doanh nghiệp cần xây dựng báo cáo khí hậu rõ ràng. Báo cáo này sẽ giúp tạo dựng niềm tin với các bên đối tác, thể hiện thông điệp rõ ràng đến thị trường, chuỗi cung ứng, nhân viên chính phủ rằng doanh nghiệp đó minh bạch và có trách nhiệm trong quá trình chuyển đổi của mình. Nghị định 06/2022/NĐ-CP cũng quy định rõ các cơ sở phát thải khí nhà kính thuộc danh mục theo Quyết định dố 01/2022/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phải thực hiện giảm nhẹ phát thải khí nhà kinh theo kế hoạch do doanh nghiệp xây dựng bằng cách: Cung cấp dữ liệu và thông tin liên quan đến kiểm kê khí nhà kính theo hướng dẫn của Bộ tài Nguyên và Môi trường và thực hiện các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính kể từ năm 2023; Kiểm kê phát thải khí nhà kính, xây dựng và thực hiện kế hoạch giảm phát thải khí nhà kính từ năm 2025.
Giải pháp tốt nhất để giải bài toán carbon thấp cho doanh nghiệp hiện nay là tập trung vào sự chuyển dịch năng lượng thông qua sử dụng năng lượng tái tạo, thực hành sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, quản lý năng lượng thông qua giám sát và kiểm soát năng lượng. Thực tế cho thấy, phát triển nguồn năng lượng tái tạo đang dần chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế bền vững ở các quốc gia do lợi ích to lớn của việc tận dụng tối đa nguồn tài nguyên thiên nhiên vô tận như gió, mặt trời, nước, sóng biển…, đồng thời góp phần giảm tác động của hiệu ứng nhà kính và biến đổi khí hậu. Ngoài ra, sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả mang lại rất nhiều lợi ích: Giảm phát thải khí nhà kính, giảm nhu cầu nhập khẩu năng lượng và giảm chi phí cho doanh nghiệp. Cải thiện hiệu suất sử dụng năng lượng là lựa chọn tiết kiệm hơn nhiều so với chuyển đổi sang năng lượng tái tạo và thường là cách nhanh nhất để giảm sử dụng năng lượng hoá thạch. Các giải pháp trên cũng sẽ góp phần thúc đẩy doanh nghiệp sẵn sàng thể hiện khả năng thích ứng nhanh chóng và đưa ra các giải pháp sáng tạo thúc đẩy sự chuyển đổi hướng đến phát triển bền vững./.
Duy Hưng