Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2024

16/01/2025 - 10:01 AM
Năm 2024, đặc biệt là trong quý IV, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều khởi sắc, đóng góp thêm gam màu sáng vào bức tranh kinh tế tích cực chung của cả nước. Sự phục hồi và phát triển của hoạt động sản xuất kinh doanh có nhiều yếu tố tác động theo cả hai chiều đem lại nhiều thuận lợi nhưng cũng đi kèm không ít thách thức đối với doanh nghiệp.
 
Nhận diện khó khăn và thách thức song hành
 
Năm 2024, không thể không nhắc đến cơn bão số 3 (Yagi) xảy ra vào cuối quý III/2024 và mưa bão, lũ lụt ở các tỉnh miền Trung khiến nhiều công trình bị hư hỏng nặng cần phải sửa chữa và xây dựng mới. Cùng với đó, nhiều công trình xây dựng bị gián đoạn do thời tiết không thuận lợi là những yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động SXKD của các doanh nghiệp trong quý IV/2024. Kết quả khảo sát tình hình SXKD của doanh nghiệp trong quý IV/2024 do Tổng cục Thống kê thực hiện cho thấy, có 18,6% doanh nghiệp gặp khó khăn do thời tiết không thuận lợi (thấp hơn 4,9% so với quý III/2024).
 
Bên cạnh đó, kết quả khảo sát cho thấy nhận định của doanh nghiệp đối với các yếu tố tác động tới hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Phần lớn các doanh nghiệp đều gặp khsó khăn ở cả “đầu vào” và “đầu ra”.
 
Theo yếu tố đầu ra
 
“Nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” là hai yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp với tỷ lệ lựa chọn lần lượt là 51,9% và 44,3% (tỷ lệ này ở mức thấp hơn của quý II/2024 (tỷ lệ tương ứng là 53,8% và 43,6%) và quý III/2024 (là 51,9% và 42,1%). Riêng đối với doanh nghiệp xây dựng có 44,7% (giảm 0,3% so với quý III/2024 và giảm 2,2% so với quý II/2024) doanh nghiệp gặp khó khăn do “không có hợp đồng xây dựng mới”.
 
Theo yếu tố đầu vào
 
Giá nguyên, nhiên vật liệu đầu vào, chi phí vận tải kho bãi, chi phí các dịch vụ tăng cao vẫn là khó khăn lớn nhất của doanh nghiệp với 25,8% doanh nghiệp lựa chọn (tăng 1,1% so với quý III/2024). Vốn cho SXKD khó khăn được 18,5% doanh nghiệp lựa chọn (giảm 0,6% so với quý trước); 17,2% doanh nghiệp cho biết lãi suất vay vốn vẫn còn cao (giảm 0,8% so với quý trước). 17,7% doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn do thiếu nguyên, nhiên, vật liệu (giảm 1,1% so với quý trước); 14,4% doanh nghiệp cho rằng thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, quy trình đấu thầu còn phức tạp, chồng chéo làm ảnh hưởng đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp (tỷ lệ này tăng 1,2% so với quý trước). 10,4% (tăng 0,3%) doanh nghiệp không tuyển dụng được lao động đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp. Đánh giá về năng lực nội tại của doanh nghiệp, có 6,8% (tăng 0,4% so với quý trước) nhận định doanh nghiệp gặp khó khăn do năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp còn hạn chế, thiết bị, công nghệ lạc hậu.
 
Hình 1. Đánh giá của doanh nghiệp về các nhân tố ảnh hưởng
đến 
sản xuất kinh doanh quý IV/2024
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2024

 
 
Theo ngành kinh tế
 
Kết quả khảo sát cho thấy, hai yếu tố “nhu cầu thị trường trong nước thấp” và “tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp công nghiệp chế biến, chế tạo với tỷ lệ doanh nghiệp lựa chọn lần lượt là 53,0% và 51,2%. Bên cạnh đó, 30,3% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 25,8% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính; 20,5% gặp khó khăn do lãi suất vay vốn vẫn còn cao; 20,8% doanh nghiệp gặp khó khăn do không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp; 17,7% doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ hoạt động SXKD; 15,8% doanh nghiệp gặp khó khăn do thiết bị, công nghệ lạc lậu; 7,5% doanh nghiệp bị ảnh hưởng do chính sách pháp luật của Nhà nước; chỉ có 3,0% doanh nghiệp không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay và 1,6% doanh nghiệp gặp khó khăn do thiếu năng lượng.
 
Hình 2. Đánh giá của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo
về các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh quý IV/2024
 
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2024 1
 
Trong đó, khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp trong nhóm ngành dệt, may, da giày là đơn hàng xuất khẩu, nhu cầu thị trường trong nước thấp và lao động có tay nghề. Có tới 52,4% doanh nghiệp sản xuất trang phục; 50,8% doanh nghiệp sản xuất da và các sản phẩm có liên quan và 43,6% doanh nghiệp dệt gặp khó khăn do nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Về khó khăn do không tuyển được lao động theo yêu cầu doanh nghiệp sản xuất trang phục có 53,8%; doanh nghiệp sản xuất da và các sản phẩm có liên quan là 36,5% và doanh nghiệp dệt là 25,6%.
 
Các doanh nghiệp ngành sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại (đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất xi măng và các sản phẩm từ xi măng) là nhu cầu thị trường trong nước thấp trong khi việc cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành ngày càng cao. Bên cạnh đó, khó khăn về vốn, nguyên, nhiên vật liệu cũng là một trong những rào cản lớn của các doanh nghiệp. Có tới 69,3% doanh nghiệp gặp khó khăn do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 69,5% doanh nghiệp gặp khó khăn do phải cạnh tranh với các doanh nghiệp cùng ngành; 33,7% doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính và 26,7% doanh nghiệp khó khăn về nguyên, nhiên vật liệu.
 
Bên cạnh khó khăn chung của các doanh nghiệp về vốn, về thị trường đầu ra và việc cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nhóm, các doanh nghiệp nhóm ngành sản xuất, chế biến thực phẩm, đồ uống còn gặp phải vấn đề liên quan tới nguồn nguyên vật liệu và chính sách pháp luật của Nhà nước. Có tới 37,3% doanh nghiệp ngành sản xuất, chế biến thực phẩm gặp khó khăn do thiếu nguồn nguyên vật liệu đầu vào; 27,3% doanh nghiệp sản xuất đồ uống gặp khó khăn do chính sách pháp luật của Nhà nước.
 
Mặc dù nhóm ngành điện, điện tử có sự phục hồi rất tích cực trong quý IV/2024, tuy nhiên, khó khăn lớn nhất của các doanh nghiệp vẫn đến từ nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế thấp, thiếu hụt lao động có kỹ năng, khó khăn về vốn và tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao. Có tới 53,8% doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học và 42,8% doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện gặp khó khăn do nhu cầu thị trường quốc tế thấp. Về thị trường trong nước thấp tỷ lệ gặp khó khăn của 2 ngành lần lượt là 35,0% và 44,0%. Về lao động có kỹ năng, có 25,8% doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học và 22,0% doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện gặp khó khăn do không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp.
 
Bên cạnh khó khăn về vốn, thị trường đầu ra, lao động, các doanh nghiệp nhóm ngành sản xuất ô tô, xe máy còn gặp khó khăn do thiết bị công nghệ lạc lậu. Về thị trường trong nước, có tới 60,9% doanh nghiệp sản xuất phương tiện vận tải khác (xe máy) và 50,5% doanh nghiệp sản xuất xe có động cơ (ô tô) gặp khó khăn do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 55,5% doanh nghiệp sản xuất xe máy và 40,8% doanh nghiệp sản xuất ô tô gặp khó khăn do tính cạnh tranh của hàng trong nước cao. Về thị trường nước ngoài, có 34,0% doanh nghiệp sản xuất ô tô gặp khó khăn do thị trường quốc tế thấp. Ngoài ra, có 27,3% doanh nghiệp sản xuất xe máy gặp khó khăn do thiết bị công nghệ lạc hậu. Về lao động, 27,3% doanh nghiệp sản xuất xe máy và 25,2% doanh nghiệp sản xuất ô tô khó khăn trong tuyển lao động theo yêu cầu.
 
Đối với ngành xây dựng, hai yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp xây dựng là “giá nguyên vật liệu tăng cao” với 45,7% số doanh nghiệp lựa chọn và “không có hợp đồng xây dựng mới” với 44,7% doanh nghiệp lựa chọn, đã ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp. Có 26,3% doanh nghiệp gặp khó khăn do nợ đọng xây dựng cơ bản không được thanh quyết toán đúng kỳ hạn; 26,2% doanh nghiệp nhận định do năng lực của doanh nghiệp còn hạn chế; 21,8% doanh nghiệp thiếu vốn cho hoạt động SXKD; 18,6% doanh nghiệp ảnh hưởng thời tiết không thuận lợi; 18,1% gặp khó khăn do thủ tục hành chính còn rườm rà, phức tạp; 16,9% doanh nghiệp gặp khó khăn do công tác giải phóng mặt bằng chậm; 15,9% doanh nghiệp bị ảnh hưởng do thiếu nguồn cung nguyên vật liệu xây dựng; 13,2% doanh nghiệp gặp khó khăn do không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp và 11,6% doanh nghiệp gặp khó khăn do không biết đến các thông tin đấu thầu.
 
Hình 3. Đánh giá của doanh nghiệp ngành xây dựng về các nhân tố ảnh hưởng đến
sản xuất kinh doanh quý II
I/2024
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2024 2
 
Nhóm ngành thương mại, dịch vụ có 02 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ là “Nhu cầu thị trường trong nước thấp” với 54,1% số doanh nghiệp lựa chọn và “Tính cạnh tranh của thị trường trong nước cao” với 48,2% số doanh nghiệp lựa chọn. Tiếp đến 18,8% doanh nghiệp gặp khó khăn do giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào sản xuất sản phẩm dịch vụ và các chi phí kho, bãi tăng cao; 16,1% doanh nghiệp nhận định do lãi suất vay vốn cao; 14,8% doanh nghiệp khó khăn về tài chính cho hoạt động SXKD; 15,1% doanh nghiệp gặp khó khăn trong xúc tiến, quảng bá sản phẩm, mở rộng thị trường; 13,2% gặp khó khăn do thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, quy trình đấu thầu còn phức tạp, chồng chéo; 6,5% gặp khó khăn do không có khả năng tiếp cận nguồn vốn vay; 5,7% doanh nghiệp gặp khó khăn do không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu của doanh nghiệp và 3,7% doanh nghiệp gặp khó khăn do thiết bị công nghệ lạc hậu. 
 
Hình 4. Đánh giá của doanh nghiệp ngành thương mại, dịch vụ 
về các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh quý IV/2024
Các yếu tố ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong quý IV/2024 3
 
Điểm tựa chính sách để doanh nghiệp mạnh dạn bứt phá
 
Theo Báo cáo kinh tế - xã hội Quý IV và năm 2024 của Tổng cục Thống kê, năm 2024, cả nước có hơn 157,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là hơn 1.547,0 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký gần 1.001,5 nghìn lao động, giảm 1,4% về số doanh nghiệp, giảm 1,8% về vốn đăng ký và giảm 5,4% về số lao động so với năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong năm 2024 đạt 9,8 tỷ đồng, giảm 0,4% so với năm 2023. Tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong năm 2024 là gần 2.025,9 nghìn tỷ đồng, tăng 3,6% so với năm 2023.
 
Bên cạnh đó, cả nước có gần 76,2 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 30,4% so với năm 2023), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động trong năm 2024 lên hơn 233,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 7,1% so với năm 2023. Bình quân một tháng có gần 19,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
 
Mặc dù còn nhiều khó khăn là rào cản đối với hoạt động sản xuất kinh doanh, tuy nhiên, trong năm 2024, nhờ sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, doanh nghiệp vẫn có nhiều thuận lợi phát triển. Trong đó phải kể đến: Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 05/01/2024 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2024; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 05/01/2024 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2024, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là ngành công nghiệp. Công điện số 103/CĐ-TTg ngày 7/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh trong cuối năm 2024 và những năm tiếp theo.
 
Theo đó, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các Bộ, cơ quan, địa phương trong quá trình xây dựng và ban hành chính sách, cần kiến tạo môi trường thuận lợi giúp doanh nghiệp phát triển, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa để loại hình doanh nghiệp này có khả năng vươn lên và phát triển. Khuyến khích cơ chế doanh nghiệp lớn hỗ trợ, thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo ra chuỗi giá trị nội địa và phát triển ngành công nghiệp phụ trợ trong nước. Các chính sách hỗ trợ cần thiết thực, hiệu quả để doanh nghiệp cạnh tranh lành mạnh, hiệu quả giữa các khu vực; nghiên cứu việc hỗ trợ giảm chi phí cho doanh nghiệp để nâng cao năng lực cạnh tranh.
 
Các chính sách pháp luật được thực thi kịp thời và hiệu quả, đặc biệt là tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp thuận lợi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, giúp tháo gỡ khó khăn vướng mắc, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động. Theo đánh giá của các doanh nghiệp, chỉ có 2,1% doanh nghiệp còn gặp khó khăn do các chính sách pháp luật của Nhà nước và 1,7% doanh nghiệp sản xuất gặp khó khăn do thiếu năng lượng cho SXKD./.
 
Nguyễn Thị Xuân Huệ
Phó Vụ trưởng Vụ Thống kê Tổng hợp và Phổ biến Thông tin Thống kê - TCTK

 

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top