Báo cáo Chỉ số hiệu quả và quản trị hành chính công cấp tỉnh PAPI năm 2022 đã đưa ra những phát hiện về hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh với 8 chỉ số nội dung và điểm Chỉ số PAPI tổng hợp. Theo đó, trong năm 2022, hiệu quả hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp có những thăng trầm nhất định ở từng nhóm lĩnh vực được thể hiện qua mức độ thay đổi về điểm ở 8 chỉ số nội dung.
Tham gia của người dân ở cấp cơ sở
Chỉ số nội dung‘Tham gia của người dân ở cấp cơ sở’ được chú ý nhiều hơn trong bối cảnh Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 có hiệu lực. Tương tự với kết quả những năm trước, các tỉnh/thành phố đạt điểm thuộc nhóm ‘cao’ có xu hướng tập trung nhiều hơn ở phía Bắc. Phần lớn các tỉnh/thành phố dẫn đầu chỉ số này đều thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, trong khi một số tỉnh/thành phố Duyên hải Nam Trung bộ cũng vươn lên nhóm 1/4 tỉnh/thành phố có điểm số cao nhất. So với kết quả năm 2021, 33 tỉnh/thành phố có mức gia tăng về điểm và 5 tỉnh/thành phố có mức sụt giảm điểm đáng kể.
Ảnh minh họa
Việc bầu cử trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố đã diễn ra ở tất cả các tỉnh/thành phố trong năm 2022. Tuy nhiên, dữ liệu khảo sát cho thấy, nhiều người dân chưa thực hiện đầy đủ quyền bầu cử của mình. Ở 16 địa phương, chưa tới 50% số người trả lời cho biết họ được mời tham gia bầu chọn trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố. Ngoài ra, ở 28 tỉnh/thành phố, chưa đến 50% số người trả lời cho biết có ít nhất hai ứng cử viên để bầu chọn trưởng thôn/tổ trưởng tổ dân phố. Kết quả khảo sát cũng cho thấy, tất cả các tỉnh/thành phố cần cải thiện nhiều ở chỉ tiêu về phổ biến kiến thức về các vấn đề chính sách, pháp luật quan trọng liên quan tới người dân, cũng như tăng cường sự tham gia của người dân vào các dự án cơ sở hạ tầng tại địa phương. Đặc biệt, hầu hết các tỉnh/thành phố cần nỗ lực hơn nữa trong nâng cao nhận thức của người dân về những văn bản pháp luật quan trọng như Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 và Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2018.

Xu thế biến đổi của 8 chỉ số nội dung PAPI qua các năm 2019 -2022
Công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương
Để tìm hiểu tác động của các chính sách đến cuộc sống và sinh kế của người dân, PAPI xem xét những nỗ lực của chính quyền địa phương trong tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin và thực hiện các quyền của mình. Chỉ số nội dung này được đo lường bằng bốn nội dung thành phần, gồm: (i) Tiếp cận thông tin; (ii) Công khai danh sách hộ nghèo, (iii) Công khai thu, chi ngân sách cấp xã/phường; và (iv) Công khai kế hoạch sử dụng đất, bảng giá đất.
Tương tự kết quả các năm trước, các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung có xu hướng đạt kết quả tốt hơn ở Chỉ số nội dung 2. Trong khi đó, các tỉnh đạt điểm thấp hơn tập trung nhiều hơn ở khu vực Tây Nguyên và vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đáng khích lệ là có 18 tỉnh/ thành phố đạt mức điểm cao hơn đáng kể, và khoảng điểm của cả nước tăng nhẹ so với năm 2021. Phân tích sâu hơn cho thấy, việc tiếp cận thông tin đất đai của người dân vẫn còn rất hạn chế ở tất cả các tỉnh/thành phố. Người dân cho rằng giá bồi thường thu hồi đất thấp hơn so với giá giao dịch trên thị trường.
Số liệu cũng cho thấy, chưa có tỉnh/thành phố nào thực hiện tốt việc phổ biến và thực thi đầy đủ Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, chỉ có khoảng 20% số người cần thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước cho biết đã nhận được thông tin họ cần. Mức độ tin tưởng của người dân vào việc lập danh sách hộ nghèo còn thấp ở hầu hết các tỉnh/thành phố, trong khi chưa có cải thiện rõ rệt nào trong công khai thông tin về thu, chi ngân sách cấp xã so với năm 2021.
Trách nhiệm giải trình với người dân
Chỉ số nội dung này gồm ba nội dung thành phần: (i) Mức độ và hiệu quả tương tác với chính quyền địa phương; (ii) Giải đáp khiếu nại, tố cáo, khúc mắc của người dân; và (iii) Tiếp cận dịch vụ tư pháp. Những chỉ báo cụ thể này phản ánh hiệu quả của các cấp chính quyền trong giải quyết các yêu cầu, đề nghị, tố cáo, khiếu nại, kiến nghị của công dân.
Tương tự kết quả năm 2021, các tỉnh/thành phố trong nhóm ‘cao’ hoặc ‘trung bình-cao’ tập trung nhiều ở phía Bắc. Mặt khác, hầu hết các tỉnh vùng Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long vẫn nằm trong nhóm "trung bình - thấp" và "thấp". Nhìn chung, so với năm 2021, không có sự tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện trách nhiệm giải trình với người dân ở 45 tỉnh/thành phố.
Trong ba nội dung thành phần, các tỉnh/thành phố đạt điểm thấp nhất ở nội dung về xử lý khiếu nại, tố cáo và đề xuất của công dân. Trung bình chưa đến 50% người trả lời trên toàn quốc cho biết họ hài lòng với kết quả nhận được khi gửi đề xuất, khuyến nghị, tố giác tới chính quyền địa phương. Các cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự phi tòa án cũng chưa được người dân tin tưởng. Bên cạnh đó, khi có khúc mắc, người dân có xu hướng tìm tới cán bộ, công chức Ủy ban nhân dân xã/phường/thị trấn hơn đại biểu dân cử của họ ở Hội đồng nhân dân xã/phường/thị trấn.
Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công
Chỉ số nội dung này đo lường cảm nhận và trải nghiệm của người dân về hiệu quả phòng, chống tham nhũng của các cấp chính quyền. Bốn nội dung thành phần của Chỉ số nội dung 4 gồm: (i) Kiểm soát tham nhũng trong chính quyền địa phương; (ii) Kiểm soát tham nhũng trong cung ứng dịch vụ công; (iii) Công bằng trong tuyển dụng nhân lực vào khu vực công; và (iv) Quyết tâm chống tham nhũng của chính quyền địa phương.
Xu hướng đáng lưu ý nhất là hiệu quả kiểm soát tham nhũng trong khu vực công của các cấp chính quyền địa phương có phần giảm sút trong năm 2022, sau khi tăng liên tục trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021. Dù chiến dịch phòng, chống tham nhũng được triển khai mạnh mẽ khắp cả nước, chưa tới 75% số người trả lời ở tất cả các tỉnh/thành phố cho rằng, chính quyền địa phương đã nghiêm túc trong phòng, chống tham nhũng. Ở 42 tỉnh/thành phố, tỉ lệ này chỉ ở mức dưới 50%.
Tương tự kết quả của những năm trước, hiện trạng "chung chi" để có việc làm trong khu vực nhà nước vẫn khá phổ biến ở tất cả các tỉnh/thành phố. Tỉ lệ người làm thủ tục hành chính xin cấp mới hoặc cấp đổi GCNQSDĐ đã phải chi ‘lót tay’ giảm ở 34 tỉnh/thành phố, tuy nhiên vấn đề này vẫn phổ biến ở các tỉnh còn nghèo như Đắk Lắk, Quảng Trị và Sơn La. Tỉ lệ người sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe ở bệnh viện công tuyến huyện cho biết, họ đã phải trả chi phí ngoài quy định để được chăm sóc tốt hơn dao động từ 40% đến 80% ở 42 tỉnh/thành phố, tương tự kết quả năm 2021.
Đối mặt với hành vi nhũng nhiễu của cán bộ, công chức, người dân chỉ bắt đầu tố giác khi số tiền bị vòi vĩnh lên tới khoảng từ 20 triệu VNĐ đến 43 triệu VNĐ. Điều này phản ánh mức độ ‘chịu đựng’ tham nhũng của người dân.
Với Chỉ số nội dung 4, khác với kết quả ở ba chỉ số trước, nhiều tỉnh/thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long vươn lên nhóm ‘cao’; trong khi nhiều tỉnh/thành phố thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc và vùng Tây Nguyên lại ở trong nhóm‘thấp’. So với kết quả năm 2021, 7 tỉnh/thành phố (gồm Tiền Giang, Sóc Trăng, Cà Mau, Vĩnh Phúc, Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa và Điện Biên) có mức gia tăng về điểm đáng kể trong năm 2022.
Thủ tục hành chính công
Chỉ số nội dung 5 đo lường chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công ở những lĩnh vực cần thiết nhất cho đời sống của người dân, bao gồm 3 chỉ số thành phần: (i) Dịch vụ chứng thực, xác nhận của chính quyền cơ sở; (ii) Dịch vụ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ); và, (iii) Dịch vụ hành chính công cấp xã/phường. Qua các chỉ tiêu trên, các cấp chính quyền có thể đánh giá mức độ chuyên nghiệp và khả năng đáp ứng yêu cầu của người dân đối với dịch vụ hành chính công.
Năm 2022, một nửa trong số 32 tỉnh/thành phố trong hai nhóm ‘cao’ và ‘trung bình-cao’ thuộc hai vùng đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Trong khi đó, các tỉnh có số điểm trong nhóm ‘trung bình-thấp’ hoặc ‘thấp’ tập trung chủ yếu ở hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.
So với kết quả những năm trước, dịch vụ hành chính cấp mới/cấp đổi GCNQSDĐ vẫn còn nhiều vấn đề hơn so với các dịch vụ hành chính công khác như chứng thực, xác nhận của chính quyền địa phương, các thủ tục nhân thân và các thủ tục khác do cấp xã thực hiện. Trễ hẹn trả GCNQSDĐ là vấn đề nổi cộm nhất ở hầu hết các tỉnh/thành phố. Điểm tích cực là tại hơn nửa số tỉnh/thành phố (38 đơn vị), người đi làm thủ tục xin cấp mới/cấp đổi GCNQSDĐ năm 2022 cho biết họ ít phải đi qua nhiều cửa, gặp nhiều người hơn năm trước. Tương tự, người dân thực hiện các thủ tục nhân thân hoặc thủ tục hành chính cấp xã ở hầu hết các tỉnh/ thành phố có trải nghiệm khá tốt với dịch vụ này. Tuy nhiên, các tỉnh Điện Biên, Hòa Bình, Kon Tum và Quảng Trị chưa đạt được mức điểm cao từ người dùng dịch vụ hành chính công cấp xã.
Cung ứng dịch vụ công
Chỉ số nội dung ‘Cung ứng dịch vụ công’ đo lường mức độ hiệu quả cung ứng bốn dịch vụ công căn bản cho người dân, gồm: (i) Y tế công lập, (ii) Giáo dục tiểu học công lập, (iii) Cơ sở hạ tầng căn bản, và (iv) An ninh, trật tự tại địa bàn khu dân cư. Thông qua khảo sát PAPI, người dân đánh giá mức độ thuận tiện, chất lượng và mức độ sẵn có của các dịch vụ công trên.
Các tỉnh/thành phố trong hai nhóm ‘cao’ và ‘trung bình-cao’ ở chỉ số nội dung này chủ yếu tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng, vùng Bắc Trung Bộ, và Duyên hải miền Trung. Tuy nhiên, các tỉnh/thành phố ở hai vùng Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên vẫn tập trung ở hai nhóm ‘trung bình-thấp’ và ‘thấp’, tương tự như kết quả khảo sát những năm trước. Trong khi đó, có tới 40 tỉnh/thành phố không có sự thay đổi đáng kể nào qua hai năm.
Tương tự kết quả năm 2021, bệnh viện công huyện, quận, thành phố ở tất cả các tỉnh/thành phố cần cải thiện ở tất cả 10 tiêu chí đánh giá. Về chất lượng trường tiểu học công lập, hiện tượng giáo viên ưu ái học sinh tham gia các lớp học thêm vẫn còn tồn tại tương tự như những năm trước. Điều kiện đường sá gần nhà dân có mức độ khác biệt lớn giữa các tỉnh/thành phố chênh lệch về điều kiện kinh tế, trong khi tần suất thu gom rác thải ở các khu vực đã đô thị hóa phần lớn thường xuyên hơn so với khu vực đô thị.
Tình hình an ninh, trật tự địa bàn khu dân cư có xu hướng sụt giảm ở gần một nửa số tỉnh/thành phố, tỉ lệ người trả lời cho biết họ là nạn nhân của một trong bốn loại hình tội phạm an ninh, trật tự (đột nhập vào nhà, cướp giật, mất trộm, hoặc bị trộm hành hung) tăng ở 28 tỉnh/thành phố.
Quản trị môi trường
Chỉ số nội dung ‘Quản trị môi trường’ nhằm nắm bắt đánh giá của người dân về chất lượng không khí và chất lượng nguồn nước sinh hoạt nơi cư trú, cũng như sự tuân thủ của chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường.
Tương tự với kết quả những năm trước, mối quan ngại về môi trường vẫn tập trung ở vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Nam Bộ, nơi tập trung nhiều tỉnh/thành phố phát triển công nghiệp, bên cạnh vùng Tây Nguyên. Vùng đồng bằng sông Cửu Long dường như có kết quả đánh giá khả quan hơn so với 5 vùng kinh tế - xã hội còn lại, với 11/13 tỉnh/thành phố trong vùng có điểm số tích cực. Theo đánh giá, việc thiếu nghiêm túc trong thực hiện các yêu cầu về bảo vệ môi trường của chính quyền địa phương và chất lượng nguồn nước sinh hoạt là lý do chính dẫn tới điểm số của các tỉnh/thành phố ở chỉ số nội dung này còn rất thấp.
So với kết quả khảo sát năm 2021, tỉ lệ người trả lời cho biết doanh nghiệp hoạt động ở địa phương họ sinh sống không phải "chung chi" với chính quyền để trốn tránh nghĩa vụ bảo vệ môi trường giảm ở 49 tỉnh/ thành phố. Tỉ lệ cho biết chính quyền địa phương đã xử lý vấn đề môi trường ngay sau khi nhận được thông báo của họ tăng ở 21 tỉnh/thành phố. Trong khi đó, tỉ lệ người dân cho rằng, chính quyền địa phương có ưu tiên bảo vệ môi trường thay vì tập trung phát triển kinh tế bằng mọi giá tăng lên ở khoảng 2/3 số tỉnh/thành phố. Tỉ lệ người trả lời đánh giá chất lượng không khí đạt mức ‘tốt’ tăng lên ở 32 tỉnh/thành phố. Ngược lại, chất lượng nguồn nước vẫn đánh giá ở mức kém.
Quản trị điện tử
Chỉ số nội dung ‘Quản trị điện tử’ đo lường các khía cạnh về độ sẵn có của cổng thông tin điện tử, mức độ tiếp cận các dịch vụ công trực tuyến, và mức độ sử dụng internet của người dân - điều kiện thiết yếu để người dân tham gia quản trị điện tử. Nhìn chung, năm 2022, dù đã nhận được sự quan tâm lớn, cần nhiều nỗ lực hơn nữa để tăng cường khả năng tiếp cận và tỉ lệ sử dụng của người dân với các nền tảng quản trị điện tử của chính phủ.
Nhiều tỉnh/thành phố trong nhóm tứ phân vị ‘cao’ và ‘trung bình - cao’ tập trung ở ba vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, và Đông Nam Bộ. Trong số các địa phương trong nhóm dẫn đầu về kết nối internet và sử dụng cổng thông tin điện tử, có ba thành phố trực thuộc trung ương gồm
Hà Nội, Đà Nẵng, và TP. HCM. Về mức độ thân thiện của các trang thông tin điện tử, chưa đến 50% số người trả lời cho biết các trang thông tin của các tỉnh/thành phố dễ sử dụng.
Cổng dịch vụ công trực tuyến Quốc gia nhận được sự quan tâm sử dụng nhiều hơn trong năm 2022, nhưng người dùng chủ yếu tập trung ở Hà Nội và TP. HCM. Năm 2022, tỉ lệ người trả lời cho biết họ đã lập hồ sơ người dùng trên Cổng dịch vụ công trực tuyến Quốc gia trung bình toàn quốc là 3,05%, cao hơn đáng kể so với tỉ lệ 2,08% của năm 2021. Trong đó, Hà Nội và TP. HCM đóng góp tỉ trọng lớn nhất (tương ứng là 4,62% và 6,97%).
Điểm số PAPI tổng hợp năm 2022
Báo cáo PAPI 2022 tính toán điểm số tổng hợp của các tỉnh/thành phố bằng cách cộng điểm số 8 chỉ số nội dung của từng địa phương. Qua điểm PAPI tổng hợp, các tỉnh/thành phố có thể so sánh với những địa phương có cùng điều kiện phát triển kinh tế - xã hội và vùng địa lý. Tìm hiểu sâu hơn về các chỉ số thành phần và từng tiêu chí là chìa khóa để các địa phương có thể đáp ứng hiệu quả hơn nhu cầu của người dân.
Dựa trên kết quả khảo sát năm 2022, nhóm tứ phân vị cao có sự góp mặt của 6 tỉnh/thành phố thuộc vùng đồng bằng sông Hồng và 6 tỉnh/thành phố thuộc vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung. Trong số 14 tỉnh/thành phố trong nhóm tứ phân vị thấp chủ yếu là các địa phương vùng Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long, Trung du và miền núi phía Bắc.
Đáng chú ý, điểm Chỉ số PAPI 2022 có xu hướng hội tụ hơn, cho thấy nhiều tỉnh/thành phố không có tiến bộ đáng kể so với năm 2021. Số liệu cho thấy, 33 tỉnh/thành phố có mức độ cải thiện đáng kể ở Chỉ số nội dung 1 "Tham gia của người dân ở cấp cơ sở"; 18 tỉnh/thành phố có mức độ cải thiện đáng kể ở Chỉ số nội dung 2 "Công khai, minh bạch trong việc ra quyết định ở địa phương" và 30 tỉnh/thành phố có mức độ cải thiện đáng kể ở Chỉ số nội dung 8 "Quản trị điện tử". Tuy nhiên, 29 tỉnh/thành phố giảm sút đáng kể ở Chỉ số nội dung 7 "Quản trị môi trường", 18 tỉnh/thành phố giảm sút đáng kể ở Chỉ số nội dung 4 "Kiểm soát tham nhũng trong khu vực công" và 18 tỉnh/thành phố giảm sút đáng kể ở Chỉ số nội dung 6 "Cung ứng dịch vụ công".
Có thể nói, Chỉ số PAPI năm 2022 đã cho thấy một bức tranh đa diện về hiệu quả quản trị và hành chính công của các cấp chính quyền từ tỉnh đến cơ sở. Giới chuyên gia đánh giá, việc nghiên cứu, phân tích sự đánh giá hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh của người dân đem lại những chỉ báo quan trọng, giúp cho các nhà hoạch định chính sách kịp thời điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách và đổi mới phương thức hoạt động cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn./.
ThS. Võ Thị Khánh Linh
Đại học Nông lâm Bắc Giang