Tóm tắt:
Nội dung bài viết này nêu kết quả ứng dụng đề tài khoa học – công nghệ “Nghiên cứu, xây dựng phương pháp biên soạn chỉ số đánh giá trình độ phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam”, Mã số: 2.1.6-B20-21 (sau đây viết gọn là chỉ số phát triển) và đề tài “Nghiên cứu, xây dựng chỉ số hạnh phúc quốc gia của Việt Nam”, Mã số: 2.1.5-B22-23 (sau đây viết gọn là chỉ số hạnh phúc) sau khi cả nước hoàn thành sáp nhập còn 34 tỉnh, thành phố (sau đây viết chung là tỉnh) kể từ ngày 01/7/2025. Bài viết cung cấp thêm thông tin đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ thứ tư của Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng ta là “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;… nâng cao chất lượng cuộc sống và chỉ số hạnh phúc của con người Việt Nam”, đồng thời xác định điểm xuất phát của cả nước, của từng tỉnh khi bước vào Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình phát triển phồn vinh, thịnh vượng, mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; phấn đấu đến năm 2045 là nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao.
I. Nghiên cứu áp dụng hai đề tài trong điều kiện sáp nhập từ 63 tỉnh còn 34 tỉnh hiện nay
Hai đề tài trên đều cho phép khi tình hình, hoàn cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội có thay đổi thì có thể rà soát, đánh giá tăng, giảm số lượng các chỉ tiêu riêng biệt của chỉ số phát triển và chỉ số hạnh phúc cho phù hợp. Theo đó, sau khi hoàn thành sáp nhập từ 63 tỉnh còn 34 tỉnh hiện nay, trong số các chỉ tiêu riêng biệt của chỉ số phát triển và chỉ số hạnh phúc của Việt Nam có hai chỉ tiêu riêng biệt không còn đảm bảo tính so sánh được, có một chỉ tiêu có dữ liệu mới có thể thay thế, có một chỉ tiêu không còn phù hợp, và có ba chỉ tiêu thực tế những năm gần đây ít có sự biến động theo thời gian.
- Hai chỉ tiêu không đảm bảo tính so sánh được, gồm:
+ Chỉ tiêu Tỷ lệ đô thị hóa: Giai đoạn 63 tỉnh, khu vực thành thị được xác định là các phường và thị trấn; giai đoạn 34 tỉnh các phường được sáp nhập gồm các phường, nhưng có phường gồm các phường và các xã; các xã được sáp nhập gồm các xã, nhưng có xã gồm các xã và thị trấn; 13 đặc khu chưa có quy định đặc khu nào là thành thị, đặc khu nào là nông thôn. Do đó, chỉ tiêu tỷ lệ đô thị hóa giai đoạn 63 tỉnh và tỷ lệ đô thị hóa giai đoạn 34 tỉnh không đồng phạm vi nên không so sánh được.
+ Chỉ tiêu Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới: Tương tự, do tiến hành sáp nhập các xã như trên nên trong một số xã mới sáp nhập có xã cũ đã đạt xã nông thôn mới, có xã cũ chưa đạt xã nông thôn mới nên do các xã trước và sau sáp nhập không đồng phạm vi nên cũng không so sánh được.
- Chỉ tiêu có dữ liệu mới có thể thay thế là Chỉ số hiệu quả quản trị hành chính và dịch vụ công (PAPI) không có trọng số: Trong thời gian tới, Đảng và Nhà nước chủ trương áp dụng phần mềm riêng để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ tới từng công chức, viên chức trong toàn hệ thống các cơ quan Nhà nước các cấp một cách khách quan và minh bạch, và có thể đánh giá, khai thác dữ liệu của phần mềm đó phục vụ xác định chỉ số phát triển và chỉ số hạnh phúc của cả nước/vùng/tỉnh.
- Chỉ tiêu không phù hợp với với mục tiêu phấn đấu trở thành nước/vùng/tỉnh phát triển, thu nhập cao là Tỷ lệ lao động đang làm việc trong các ngành phi nông lâm thủy sản. Bởi vì, để phấn đấu trở thành nước/vùng/tỉnh phát triển, thu nhập cao trong Kỷ nguyên mới thì quan trọng là toàn bộ lực lượng lao động trong xã hội đều có việc làm hợp pháp và có thu nhập cao, không phân biệt ngành nghề nông nghiệp hay phi nông nghiệp.
- Theo Niên giám Thống kê năm 2024, có ba chỉ tiêu có sự biến động nhỏ theo thời gian trong các năm gần đây, đó là:
+ Chỉ tiêu Tỷ lệ lao động có việc làm: Qua thực tế chỉ tiêu này thường đạt gần 100% và ít biến động. Năm 2020 tỷ lệ lao động có việc làm của cả nước đạt 97,75%, sơ bộ năm 2024 đạt 97,96%, bình quân tăng 0,05%/năm.
+ Chỉ tiêu Tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền: Tỷ lệ này của hầu hết các tỉnh và cả nước đều đã tiệm cận 100% và biến động rất ít hoặc không có biến động qua các năm. Năm 2020 tỷ lệ hộ có đồ dùng lâu bền của cả nước đạt 99,9%, sơ bộ năm 2024 đạt 99,9%.
+ Chỉ tiêu Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (GINI): Thực tế cho thấy chỉ tiêu GINI biến động rất chậm qua các năm gần đây. GINI của cả nước năm 2020 đạt 0,373 lần, sơ bộ GINI năm 2024 đạt 0,372 lần.
Theo đó, việc áp dụng đề tài mã số 2.1.6-B20-21 và đề tài mã số 2.1.5-B22-23 trong điều kiện sáp nhập từ 63 tỉnh còn 34 tỉnh hiện nay cho phép thực hiện như sau:
i) Tổng hợp lại thành chỉ số có tên là chỉ số phát triển và hạnh phúc của Việt Nam, tiếng Anh viết là Vietnam Development and Happiness Index, Ký hiệu: VDHI.
ii) Các chỉ tiêu riêng biệt của chỉ số VDHI gồm 7 chỉ tiêu sau:
+ Về kinh tế - vật chất gồm 2 chỉ tiêu:
(1) Chỉ tiêu Thu nhập quốc gia (GNI) bình quân đầu người đạt và vượt ngưỡng nước thu nhập cao do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố áp dụng cho năm nghiên cứu; hoặc chỉ tiêu Thu nhập bình quân đầu người (được quy tương đương ngưỡng nước thu nhập cao do WB công bố áp dụng cho năm nghiên cứu) áp dụng khi tính và so sánh cho phạm vi tỉnh/vùng/toàn quốc.
(2) Tỷ lệ hộ có nhà ở kiên cố và bán kiên cố đạt 100%.
+ Về xã hội gồm 3 chỉ tiêu:
(3) Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ từ sơ cấp trở lên đạt 50%.
(4) Tuổi thọ trung bình của dân số tính từ lúc sinh đạt 80 năm.
(5) Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của Chính phủ đạt dưới 2,5%.
+ Về môi trường gồm 2 chỉ tiêu:
(6) Tỷ lệ diện tích rừng hiện có so với tổng diện tích đất lâm nghiệp đạt 100%.
(7) Tỷ lệ hộ dân cư được sử dụng nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh đạt 100%.
iii) Quy trình biên soạn, tính chỉ số VDHI gồm 5 bước sau:
- Bước 1. Xác định giá trị chuẩn của chỉ tiêu 1 năm n.
- Bước 2. Thu thập, xử lý thông tin xác định kết quả đạt được của từng chỉ tiêu riêng biệt từ chỉ tiêu thứ 2 đến chỉ tiêu thứ 7 năm (n)
- Bước 3. Xác định điểm tương ứng kết quả đạt được của từng chỉ tiêu riêng biệt năm n
- Bước 4. Xác định trọng số tương ứng với giá trị đạt được của từng chỉ tiêu riêng biệt năm n của cả nước.
- Bước 5. Xác định 7 chỉ số riêng biệt, 3 chỉ số thành phần và chỉ số VDHI năm n; xếp hạng, xếp loại các tỉnh theo chỉ số VDHI từng tỉnh năm n.
Ba chỉ số thành phần gồm: Chỉ số Kinh tế - vật chất, ký hiệu: VDHIKTVCn, chỉ số Xã hội, ký hiệu: VDHIXHn, chỉ số Môi trường, ký hiệu: VDHIMTn. Từng chỉ số thành phần được xác định bằng tổng các chỉ số riêng biệt trong từng nhóm tương ứng.
iv) Quy ước xếp loại chỉ số VDHI như sau:
- Dưới 50 điểm: Kém phát triển và chưa hạnh phúc (Kém & chưa HP);
- Từ 50 điểm đến dưới 75 điểm: Phát triển trung bình và tương đối hạnh phúc (TB-TĐHP);
- Từ 75 điểm đến dưới 90 điểm: Phát triển khá và hạnh phúc (Khá & HP);
- Từ 90 điểm đến 100 điểm: Phát triển, thu nhập cao và rất hạnh phúc (PTTNC & RHP).
II. Điểm xuất phát của cả nước khi bước vào Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam
Đảng ta xác định, từ Đại hội Đảng lần thứ XIV, nước ta sẽ bước vào Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam. Vậy điểm xuất phát khi bước vào Kỷ nguyên mới của cả nước ở đâu?
Căn cứ các số liệu liên quan khai thác từ Niên giám Thống kê năm 2024 của Cục Thống kê xác định dược kết quả thực hiện 7 chỉ tiêu của chỉ số VDHI năm 2020, sơ bộ năm 2024, áp dụng các điểm i, ii, iii và iv trên đây xác định được chỉ số VDHI của cả nước và của 34 tỉnh năm 2020, sơ bộ năm 2024, từ đó ước tính được VDHI năm 2025. Cụ thể theo bảng sau:
Bảng 1. Chỉ số VDHI của cả nước, của 34 tỉnh năm 2020, sơ bộ năm 2024, ước tính và xếp hạng, xếp loại năm 2025
Đơn vị tính: Điểm
|
Tỉnh |
VDHI20 |
Sơ bộ VDHI24 |
Ước VDHI25 |
Xếp hạng 2025 |
Xếp loại 2025 |
|
A |
1 |
2 |
|
3 |
|
|
Cả nước |
67,96 |
71,92 |
72,91 |
x |
TB & TĐHP |
|
TP Hà Nội |
82,99 |
85,12 |
85,66 |
1 |
Khá & HP |
|
Cao Bằng |
55,68 |
59,16 |
60,03 |
32 |
TB & TĐHP |
|
Tuyên Quang |
54,49 |
61,39 |
63,11 |
27 |
TB & TĐHP |
|
Điện Biên |
54,42 |
60,46 |
61,97 |
30 |
TB & TĐHP |
|
Lai Châu |
52,53 |
60,78 |
62,84 |
28 |
TB & TĐHP |
|
Sơn La |
53,95 |
61,79 |
63,74 |
26 |
TB & TĐHP |
|
Lào cai |
57,54 |
65,36 |
67,32 |
23 |
TB & TĐHP |
|
Thái Nguyên |
64,25 |
73,64 |
75,99 |
6 |
Khá & HP |
|
Lạng Sơn |
61,73 |
68,03 |
69,61 |
18 |
TB & TĐHP |
|
Quảng Ninh |
75,16 |
76,69 |
77,07 |
5 |
Khá & HP |
|
Bắc Ninh |
66,70 |
75,51 |
77,72 |
2 |
Khá & HP |
|
Phú Thọ |
63,92 |
72,91 |
75,16 |
9 |
Khá & HP |
|
TP Hải Phòng |
68,94 |
74,01 |
75,27 |
8 |
Khá & HP |
|
Hưng Yên |
65,12 |
72,64 |
74,51 |
10 |
TB & TĐHP |
|
Ninh Bình |
65,77 |
73,42 |
75,33 |
7 |
Khá & HP |
|
Thanh Hóa |
65,80 |
71,59 |
73,04 |
13 |
TB & TĐHP |
|
Nghệ An |
61,97 |
68,15 |
69,69 |
17 |
TB & TĐHP |
|
Hà Tĩnh |
66,51 |
71,66 |
72,94 |
14 |
TB & TĐHP |
|
Quảng Trị |
61,24 |
69,03 |
70,97 |
15 |
TB & TĐHP |
|
TP Huế |
65,79 |
72,51 |
74,20 |
11 |
TB & TĐHP |
|
TP Đà Nẵng |
68,90 |
75,65 |
77,34 |
3 |
Khá & HP |
|
Quảng Ngãi |
59,91 |
59,91 |
59,91 |
33 |
TB & TĐHP |
|
Gia Lai |
60,01 |
66,31 |
67,89 |
21 |
TB & TĐHP |
|
Khánh Hòa |
61,53 |
66,71 |
68,01 |
20 |
TB & TĐHP |
|
Đắc Lắc |
59,71 |
66,14 |
67,74 |
22 |
TB & TĐHP |
|
Lâm Đồng |
61,99 |
68,26 |
69,83 |
16 |
TB & TĐHP |
|
Đồng Nai |
67,99 |
72,37 |
73,47 |
12 |
TB & TĐHP |
|
TP Hồ Chí Minh |
75,82 |
76,86 |
77,11 |
4 |
Khá & HP |
|
Tây Ninh |
62,34 |
66,21 |
67,18 |
24 |
TB & TĐHP |
|
Đồng Tháp |
58,37 |
61,28 |
62,00 |
29 |
TB & TĐHP |
|
Vĩnh Long |
59,21 |
61,80 |
57,63 |
34 |
TB & TĐHP |
|
An Giang |
61,38 |
65,39 |
66,39 |
25 |
TB & TĐHP |
|
TP Cần Thơ |
64,13 |
67,29 |
68,08 |
19 |
TB & TĐHP |
|
Cà Mau |
55,67 |
60,27 |
61,42 |
31 |
TB & TĐHP |
Nguồn: Tính toán của tác giả.
Bảng 1 cho thấy, đến năm 2025, VDHI của chung cả nước ước đạt 72,91 điểm - nước ta là nước phát triển trung bình và tương đối hạnh phúc.
Trong số 34 tỉnh: 10 tỉnh có VDHI cao nhất, theo thứ tự từ cao đến thấp lần lượt là: Xếp thứ 1- TP. Hà Nội (85,66 điểm), 2- tỉnh Bắc Ninh, 3- TP. Đà nẵng, 4- TP. Hồ Chí Minh, 5- Tỉnh Quảng Ninh, 6- Tỉnh Thái Nguyên, 7- Tỉnh Ninh Bình, 8- TP. Hải Phòng, 9- Tỉnh Phú Thọ và 10- Tỉnh Hưng Yên.
10 tỉnh có VDHI thấp nhất, theo thứ tự từ dưới lên lần lượt là: Xếp thứ 34- Tỉnh Vĩnh Long (57,63 điểm), 33- Tỉnh Quảng Ngãi, 32- Tỉnh Cao Bằng, 31- Tỉnh Cà Mau, 30- Điện Biên, 29- Tỉnh Đồng Tháp, 28- Tỉnh Lai Châu, 27- Tỉnh Tuyên Quang, 26- Tỉnh Sơn La, 25- Tỉnh An Giang.
Sau 5 năm, khoảng cách giữa tỉnh phát triển và hạnh phúc xếp thứ nhất so với tỉnh phát triển và hạnh phúc xếp cuối cùng có xu hướng giảm dần: Năm 2020, TP. Hà Nội xếp thứ nhất có VDHI đạt 82,99 điểm, Xếp thứ 34 là tỉnh Lai Châu có VDHI đạt 52,53 điểm, chênh lệch 30,46 điểm; Năm 2025, TP. Hà Nội vẫn giữ vị trí thư nhất, có VDHI ước đạt 85,66 điểm, xếp thứ 34 là tỉnh Vĩnh Long, có VDHI ước đạt 57,63 điểm, chênh lệch 28,03 điểm (giảm 2,43 điểm so với năm 2020).
Đến năm 2025, cả nước có 9/34 tỉnh đạt trình độ phát triển “khá và hạnh phúc”, gồm các tỉnh có thứ hạng từ 1 đến 9 (tăng 4 tỉnh so với năm 2020), có 25/34 tỉnh đạt trình độ phát triển “trung bình và tương đối hạnh phúc”.
Như vậy, sau gần 40 năm đổi mới, kế thừa kết quả, thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của các giai đoạn trước, nước ta đã vượt qua trên 2/3 chặng đường từ nghèo nàn, lạc hậu trở thành nước “phát triển, thu nhập cao và hạnh phúc”. 1/3 chặng đường còn lại là giai đoạn cả nước bước vào Kỷ nguyên mới, Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam với xuất phát điểm VDHI của cả nước ước đạt trên 72,91 điểm. Với xuất phát điểm đó, mục tiêu phấn đấu đến năm 2045 nước ta trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, thu nhập cao và hạnh phúc có tính khả thi cao./.
TS. Nguyễn Huy Lương
Nguyên Cục trưởng Cục Thống kê tỉnh Phú Thọ