EVFTA - Mốc son trong quan hệ Việt Nam - EU

03/09/2019 - 10:10 AM
Sau gần 10 m đàm phán và trải qua quá trình rà soát pháp lý cht ch, ngày 30/6/2019, Việt Nam và Liên minh châu Âu (EU) đã chính thức kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA). Sự kiện này đã đánh dấu mốc son trong quan hệ song phương hai bên và tiếp tục khẳng định vthế ca Việt Nam trên trường quốc tế sau một chặng đường i chđộng và quyết m hội nhập.
 
 
 
Hành trình ký kết Hiệp định EVFTA và IPA
 
Tháng 10/2010 thời điểm đầu tiên đặt nền móng cho Hiệp định EVFTA khi Việt Nam EU cùng nhau đồng ý khởi động đàm phán, song phải đến tháng 6/2012 hoạt động đàm phán mới chính thức được khởi động. Sau 14 phiên họp với rất nhiều nỗ lực của cả hai bên, tháng 12/2015, hoạt động đàm phán hoàn tất với những cam kết có nội dung toàn diện, yêu cầu cao bắt đầu tiến hành soát pháp lý để chuẩn bị cho việckết Hiệp định. Tuy nhiên, vào tháng 9/2017, xuất phát từ những vấn đề nội bộ liên quan đến thẩm quyền phê chuẩn các hiệp định thương mại tự do của khu vực Liên minh và từng nước thành viên, EU đề nghị tách EVFTA thành 2 Hiệp địnhHiệp định thương mại tự do EU - Việt Nam (EVFTA) Hiệp định bảo hộ đầu(IPA). Đồng ý với đề xuất này, tháng 6/2018, hai bên đã kết thúc toàn bộ quá trình soát phápHiệp định EVFTA, đồng thời đi đến thống nhất các nội dung của Hiệp định IPA. Công việc soát phápIPA được hoàn tất vào tháng 8/2018.
 
Sau khi Ủy ban châu Âu (EC) chính thức thông qua EVFTA IPA vào tháng 10/2018, EU tiến hành thực hiện các báo cáo, giải trình với Hội đồng châu Âu (EC) để đi đến ký kết đồng thời hai hiệp định này. Trên cơ sở đó, ngày 30/6/2019, Việt Nam và EU đã chính thức cùng nhau ký kết Hiệp định thương mại tự do EU- Việt Nam (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (IPA). Đây là sự kiện quan trọng, đưa quan hệ Việt Nam - EU lên tầm cao mới cũng như mở ra cho Việt Nam hướng đi phát triển thịnh vượng và bền vững cùng đối tác lớn. Điều đặc biệt là Việt Nam là nước thứ 2 (sau Singapore) trong ASEAN và là nước đang phát triển đầu tiên trong khu vực ký kết hiệp định này, cho thấy đánh giá của 28 nước thành viên của EU với tầm nhìn hướng Đông, đã xác định Việt Nam làm đối tác trong tương lai.
 
EVFTA - Mốc son trong quan hệ Việt Nam - EU
 
Cánh cửa hợp tác mở rộng cùng nhiều cơ hội lớn
 
So với các hiệp định thương mại tự do được ký kết trước đó (ngoại trừ Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương - CPTPP) thì EVFTA được coi là một hiệp định thế hệ mới chất lượng cao với phạm vi cam kết rộng, đảm bảo cân bằng lợi ích cả hai bên, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).
 
Đối với xuất khẩu của Việt Nam, ngay khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với khoảng 85,6% số dòng thuế, tương đương 70,3% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU. sau 7 năm kể từ khi Hiệp định có hiệu lực, EU sẽ tiếp tục xóa bỏ thuế nhập khẩu đối với 99,2% số dòng thuế, tương đương 99,7% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Đối với khoảng 0,3% kim ngạch xuất khẩu còn lại, EU cam kết dành cho Việt Nam hạn ngạch thuế quan với thuế nhập khẩu trong hạn ngạch là 0%.
 
Đối với hàng xuất khẩu của EU, Việt Nam cam kết sẽ xóa bỏ thuế quan ngay khi Hiệp định có hiệu lực với 48,5% số dòng thuế (chiếm 64,5% kim ngạch nhập khẩu). Tiếp đó, sau 7 năm, 91,8% số dòng thuế, tương đương 97,1% kim ngạch xuất khẩu từ EU được Việt Nam xóa bỏ thuế nhập khẩu. Sau 10 năm, mức xóa bỏ thuế quan là khoảng 98,3% số dòng thuế (chiếm 99,8% kim ngạch nhập khẩu). Đối với khoảng 1,7% số dòng thuế còn lại của EU, Việt Nam áp dụng lộ trình xóa bỏ thuế nhập khẩu dài hơn 10 năm hoặc áp dụng hạn ngạch thuế quan theo cam kết WTO.
 
Bên cạnh các cam kết về thương mại hàng hóa là các cam kết về thương mại dịch vụ và đầu tư, mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ và các vấn đề liên quan tới cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, pháp lý - thể chế...
 
Còn trong Hiệp định IPA, hai bên cam kết sẽ dành đối xử quốc gia đối xử tối huệ quốc với đầucủa nhà đầubên kia, với một số ngoại lệ, cũng như sự đối xử công bằng, thỏa đáng, bảo hộ an toàn đầy đủ, cho phép tự do chuyển vốn lợi nhuận từ đầura nước ngoài, cam kết không trưng thu, quốc hữu hóa tài sản của nhà đầu tư mà không bồi thường thỏa đáng, cam kết bồi thường thiệt hại phù hợp cho nhà đầu của bên kia tương tự như nhà đầu trong nước hoặc của bên thứ ba trong trường hợp bị thiệt hại do chiến tranh, bạo loạn,...
 
Với những cam kết trên, EVFTA IPA được xem là hai tuyến cao tốc quy mô lớn, hiện đại nối gần hơn EU và Việt Nam để hai bên tiếp cận thị trường của nhau. Đặc biệt, khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực sẽ tạo ra lực đẩy khổng lồ cho hoạt động xuất khẩu của cả hai bên.
 
Về xuất khẩu, khác với các FTA khác, với mức cắt giảm thuế theo nguyên tắc 7/10, EU sẽ dần xóa bỏ toàn bộ thuế nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam chỉ trong một lộ trình ngắn, tối đa trong vòng 7 năm. Đây là mức cam kết cao nhất của một đối tác dành cho Việt Nam trong các hiệp định FTA đã được ký kết, tạo cú hích lớn cho hàng hóa Việt Nam tiếp cận khu vực thị trường đầy tiềm năng với dân số hơn 500 triệu người (chiếm 7,3% dân số toàn thế giới) và GDP lên đến 15 nghìn tỉ USD, GDP đầu người/năm là khoảng 33 nghìn USD, có khả năng chi tiêu cao và nhu cầu tiêu thụ lớn. Điều này càng có ý nghĩa khi hiện nay, mới chỉ hơn 42% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU được hưởng mức thuế 0% theo Chương trình ưu đãi thuế quan phổ cập (GSP). hội gia tăng xuất khẩu được dành nhiều những mặt hàng Việt Nam vốn có lợi thế như: Dệt may, da giày, nông thủy sản (kể cả gạo, đường, mật ong, rau củ quả), đồ gỗ... Trong khi đó, các nhà xuất khẩu và đầu tư EU có thêm cơ hội tiếp cận thuận lợi hơn thị trường gần 100 triệu dân của Việt Nam.
 
EVFTA - Mốc son trong quan hệ Việt Nam - EU 1
 
 
Theo nhận định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hiệp định EVFTA sẽ giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang EU tăng thêm khoảng 20% vào năm 2020; 42,7% vào năm 202544,37% vào năm 2030 so với không Hiệp định. Đồng thời, kim ngạch nhập khẩu từ EU cũng tăng nhưng với tốc độ thấp hơn xuất khẩu, cụ thể là khoảng 15,28% vào năm 2020; 33,06% vào năm 202536,7% vào năm 2030. Về mặt mô, EVFTA góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm ở mức bình quân 2,18-3,25% (năm 2019-2023); 4,57-5,30% (năm 2024-2028) 7,07-7,72% (năm 2029-2033).
 
Không chỉ tác động đến hoạt động thương mại hàng hóa, với tính chất toàn diện, trải rộng đến cả các vấn đề đầu tư, mua sắm chính phủ, phòng vệ thương mại, sở hữu trí tuệ... EVFTA còn mở ra cơ hội cho Việt Nam tham gia các gói thầu của nhiều đơn vị mua sắm công ở cả cấp EU và các cấp trung ương, địa phương của 28 nền kinh tế thành viên. Đồng thời sẽ mang lại nguồn hàng hóa, nguyên liệu nhập khẩu với chất lượng tốt và ổn định với mức giá hợp lý cho các doanh nghiệp Việt Nam, cũng như giúp người tiêu dùng Việt Nam được tiếp cận nguồn cung các sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao trong các lĩnh vực như dược phẩm, chăm sóc sức khỏe, xây dựng hạ tầng và giao thông công cộng…
 
EVFTA - Mốc son trong quan hệ Việt Nam - EU 2
 
Cùng với đó, dưới tác động của các cam kết tiêu chuẩn cao, EVFTA sẽ là động lực để Việt Nam hoàn thiện thể chế, chính sách pháp luật, cải thiện môi trường kinh doanh, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và đưa nước ta trở thành cánh cổng giao thương cho các doanh nghiệp châu Âu trong khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là điều kiện thuận lợi để các ngành kinh tế khác được hưởng lợi gián tiếp từ Hiệp định EVFTA không chỉ trong thương mại mà còn trong đầu tư, công nghệ và các nguồn lực khác, giúp các doanh nghiệp trong nước có thể tham gia vào chuỗi sản xuất toàn cầu, thậm chí vươn lên những nấc cao hơn trong chuỗi giá trị và lợi nhuận.
 
Bên cạnh EVFTA, những cam kết dành sự đối xử công bằng, bình đẳng, bảo hộ an toàn và đầy đủ cho các khoản đầu tư và nhà đầu tư của nhau trong Hiệp định bảo hộ đầu tư IPA cũng mở ra một chương mới trong mối quan hệ đầu tư giữa EU - Việt Nam, góp phần tích cực vào việc xây dựng, hoàn thiện môi trường pháp lý về đầu tư, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp thu hút đầu tư chất lượng cao từ các nhà đầu tư đến từ EU và các nước khác. Điều này đặc biệt quan trọng bởi các nhà đầu tư EU có tiềm năng về vốn, công nghệ, trình độ quản lý,... và Việt Nam đang trên hành trình chuyển đổi số quốc gia.
 
Và thách thức...
 
Mặc dù EVFTA IPA hứa hẹn mang lại những cơ hội lớn cho Việt Nam, song bên cạnh đó là không ít thách thức, bởi cả hai đều là những hiệp định tiêu chuẩn cao.
 
Thứ nhất, khó đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ. Thông thường hàng hóa muốn được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA thì nguyên liệu phải đáp ứng được một tỷ lệ về hàm lượng nội khối nhất định (nguyên liệu có xuất xứ tại EU và/hoặc Việt Nam). Đây là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp Việt Nam bởi nguồn nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu hiện nay chủ yếu được nhập khẩu từ Trung Quốc, ASEAN và một số nước châu Á khác - là những quốc gia không thuộc nội khối EVFTA.
 
Thứ hai, các rào cản về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT), biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) và yêu cầu của khách hàng. Muốn được hưởng lợi về thuế quan thì hàng hóa của Việt Nam phải tuân thủ các yêu cầu khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm, dán nhãn, môi trường,... của EU. Tuy nhiên đây vẫn luôn là bài toán khiến các doanh nghiệp Việt Nam đau đầu do EU vốn là một thị trường khó tính với những yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm.
 
Thứ ba, nguy cơ về các biện pháp phòng vệ thương mại. Khi rào cản thuế quan không còn là công cụ hữu hiệu để bảo vệ nữa,thì doanh nghiệp ở thị trường nhập khẩu có xu hướng sử dụng nhiều hơn các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp hay tự vệ để bảo vệ ngành sản xuất nội địa. Điều này tạo ra mối lo ngại cho các doanh nghiệp xuất khẩu nước ta khi EU là một trong những thị trường có “sở trường” sử dụng các công cụ này.
 
Thứ tư, sức ép cạnh tranh từ hàng hóa và dịch vụ của EU. Thực hiện EVFTA, Việt Nam sẽ mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ từ EU, đồng nghĩa với việc doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt ngay trên“sân nhà”. Như thế, trong cuộc chơi này các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp bất lợi rất lớn, bởi các doanh nghiệp EU có lợi thế hơn hẳn về năng lực cạnh tranh, kinh nghiệm thị trường cũng như khả năng tận dụng các FTA. Tuy nhiên, cam kết mở cửa của Việt Nam là có lộ trình, đặc biệt đối với những nhóm sản phẩm nhạy cảm, do đó EVFTA cũng là cơ hội, sức ép hợp lý để các doanh nghiệp Việt Nam điều chỉnh, thay đổi phương thức kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.
 
Thứ năm, việc thực hiện các cam kết của Hiệp định có tính chất toàn diện, chất lượng cao đòi hỏi Việt Nam có sự cải cách mạnh mẽ về thể chế, chính sách, cơ chế quản lý; hệ thống kết cấu hạ tầng, trình độ công nghệ và nguồn nhân lực... Tuy nhiên trên thực tế, kết quả thực hiện các vấn đề trên của Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, vẫn chưa đạt yêu cầu đặt ra trong khi trình độ phát triển của Việt Nam còn thấp so với đối tác.
 
Có thể nói việc ký kết hai Hiệp định EVFTA và IPA là kết quả xứng đáng cho nỗ lực của Việt Nam trong suốt 9 năm đàm phán. Tuy nhiên đây chỉ là khởi đầu cho một chặng đường mới, đòi hỏi thêm sự nỗ lực của cả Việt Nam và EU./.
 
ThS. Thái Huy Đức
Trường Chính trị TP.Đà Nẵng

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top