Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài

05/10/2020 - 10:15 AM - 178 lượt xem
Ngày 27/4/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Nghị quyết số 58/NQ-CP Ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Chương trình này là bước đệm để hoàn thiện môi trường pháp lý, tạo điều kiện thu hút vốn đầu tư nước ngoài (ĐTNN), đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang khởi động nền kinh tế sau đại dịch.

Tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp cùng nỗ lực, vượt thách thức, đón thời cơ, phục hồi nền kinh tế được tổ chức trực tuyến ngày 9/5/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài là một trong 5 mũi giáp công để khôi phục, tăng trưởng nền kinh tế trong giai đoạn mới. Có thể nói, đầu tư nước ngoài đóng vai trò như một cú hích, tạo sự đột phá, vừa bổ sung nguồn lực trong nước để khai thác, tận dụng các tiềm năng, lợi thế, góp phần đưa đất nước vượt qua giai đoạn khó khăn, khủng hoảng.
 
Hoàn thiện thể chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài
Ảnh minh họa, nguồn Internet

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, từ đầu năm đến ngày 20/6/2020, do ảnh hưởng của dịch bệnh, tổng vốn đăng ký cấp mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần của nhà ĐTNN 6 tháng đầu năm 2020 đạt gần 15,7 tỷ USD, chỉ bằng 84,9% so với cùng kỳ năm 2019. Tuy nhiên, nếu xét về giá trị, vốn đăng ký cấp phép mới 6 tháng đầu năm 2020 vẫn tăng 13,8% với cùng kỳ năm 2019.
 
Trong 6 tháng đầu năm 2020, có 1.418 dự án mới được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT), tổng vốn đăng ký đạt 8,5 tỷ USD. Các nhà ĐTNN hiện đang có xu hướng mở rộng quy mô thay vì số lượng, vì vậy, số dự án giảm 17,7% nhưng lại tăng đến 13,8% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2019. Về vốn điều chỉnh, có 526 lượt dự án đăng ký điều chỉnh với tổng vốn tăng thêm đạt trên 3,7 tỷ USD, tăng 26,8% so với cùng kỳ năm 2019. Đối với góp vốn, mua cổ phần, có 4.125 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà ĐTNN với tổng giá trị 1,9 tỷ USD. Tính đến ngày 20/6/2020, các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã giải ngân được 8,65 tỷ USD, bằng 95,1% so với cùng kỳ năm 2019.

Xét về lĩnh vực đầu tư, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 4 tỷ USD, chiếm 47,4% tổng số vốn đăng ký cấp mới. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3,6 tỷ USD, chiếm 42,3%, các ngành còn lại đạt 864,5 triệu USD, chiếm 10,3%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 6,8 tỷ USD, chiếm 56% tổng số vốn; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 3,9 tỷ USD, chiếm 31,6%; các ngành còn lại đạt 1,5 tỷ USD, chiếm 12,4%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 34,1% tổng vốn góp; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 676 triệu USD, chiếm 19,3%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 464,8 triệu USD, chiếm 13,2%; các ngành còn lại đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 33,4%.
 
Về đối tác, số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy, trong số 61 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm, Singapore là nhà đầu tư lớn nhất với 4.325,7 triệu USD, chiếm 51,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; Đài Loan 775,2 triệu USD, chiếm 9,2%; Trung Quốc 950,1 triệu USD, chiếm 9,3%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 770,8 triệu USD, chiếm 9,1%; Hàn Quốc 544,8 triệu USD, chiếm 6,5%; Nhật Bản 323,6 triệu USD, chiếm 3,8%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 137,5 triệu USD, chiếm 1,6%.
 
Do ảnh hưởng chung của dịch bệnh trong nửa đầu năm, kim ngạch xuất khẩu của khu vực ĐTNN chỉ đạt 79,83 tỷ USD, chiếm 65,9%, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước; dù vậy vẫn góp phần giúp thương mại Việt Nam xuất siêu khoảng 4 tỷ USD trong 2 quý đầu năm.
 
Trong bối cảnh hiện nay, khi chiến tranh thương mại Mỹ - Trung còn chưa tìm được hồi kết thì cơn khủng hoảng dịch bệnh lại góp phần làm gia tăng căng thẳng 2 nước khiến cho cuộc, dịch chuyển thị trường đầu tư của các doanh nghiệp ra khỏi Trung Quốc để tránh tác động tiêu cực lại càng mạnh mẽ hơn. Việt Nam nằm ngay bên cạnh Trung Quốc, với môi trường đầu tư rộng mở, lại là quốc gia nổi tiếng an toàn với các biện pháp kiểm soát dịch bệnh hiệu quả được cả thế giới công nhận đã, đang tiếp tục trở thành điểm sáng thu hút đầu tư của cả khu vực và châu Á.
 
Đặc biệt là trong bối cảnh Việt Nam đang thực hiện nhiệm vụ kép vừa chống dịch, vừa khôi phục nền kinh tế và Hiệp định Bảo hộ đầu tư EVIPA giữa Việt Nam và các quốc gia Liên minh châu Âu đã được Nghị viện châu Âu thông qua, việc củng cố niềm tin, tạo thuận lợi cho các nhà ĐTNN là thực sự quan trọng. Việt Nam cần thể hiện quyết tâm cao trong việc tiếp tục đẩy mạnh tiến trình đổi mới, hội nhập, cải thiện và nâng cao sức cạnh tranh của môi trường đầu tư, kinh doanh. Chính vì vậy, Nghị quyết số 58/NQ-CP được ký ngày 27/2/2020 về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 là rất kịp thời. Nghị quyết 58/NQ-CP căn cứ vào các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tại Nghị quyết số 50-NQ/TW khóa XII, đánh giá chung xu thế chuyển dịch của dòng vốn ĐTNN trong bối cảnh kinh tế thế giới có nhiều thay đổi sâu sắc, cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ, tác động của xung đột thương mại giữa các nền kinh tế lớn; tác động suy thoái toàn cầu của đại dịch Covid-19.
 
Trong đó, mục tiêu tổng quát được đặt ra là: “Hoàn thiện thể chế, chính sách hợp tác ĐTNN có tính cạnh tranh cao, hội nhập quốc tế; đáp ứng yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Khắc phục căn bản những hạn chế, bất cập đang tồn tại trong xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện thể thế, chính sách về hợp tác ĐTNN. Tạo lập môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh thuộc nhóm ASEAN4 trước năm 2021, thuộc nhóm ASEAN3 trước năm 2030”.
 
Nhằm đạt được các mục tiêu về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng hiệu quả hợp tác ĐTNN đến năm 2030, Chính phủ đã giao các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ướng bám sát triển khai thực hiện 8 nhóm nhiệm vụ lớn với một số biện pháp cụ thể:
 
Một là, đổi mới, nâng cao nhận thức, tư duy và thống nhất trong hành động về ĐTNN
 
Tổ chức phổ biến, quán triệt, tuyên truyền sâu rộng nội dung Nghị quyết 50-NQ/TW khoá XII đến các bộ, ngành, địa phương, tổ chức Đảng các cấp, Mặt trận Tổ quốc, tổ chức, doanh nghiệp và các tầng lớp nhân dân; đặc biệt là các quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của ĐTNN là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế. Phát huy thế mạnh của hoạt động ĐTNN trong phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát và xử lý vi phạm; thực hiện công khai, minh bạch và ngăn ngừa, khắc phục có hiệu quả những hạn chế của hoạt động ĐTNN ở tất cả các ngành, lĩnh vực và địa phương. Chủ động nâng cao chất lượng thu hút và hiệu quả hợp tác ĐTNN tại địa phương, để trở thành một trong các thước đo đánh giá năng lực và trách nhiệm của người đứng đầu, đồng thời là chỉ số đánh giá xếp hạng hiệu quả ĐTNN của địa phương.
 
Hai là, tăng cường ổn định chính trị xã hội và kinh tế vĩ mô; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế
 
Tập trung giữ vững ổn định xã hội, tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô; tạo chuyển biến thực chất hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, hướng tới phát triển bền vững, bảo vệ môi trường, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam.
 
Ba là, hoàn thiện thể chế, chính sách chung về ĐTNN
 
Trong đó, Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tư pháp để hoàn thiện đồng bộ các quy định của pháp luật về đầu tư, chứng khoán và quản lý ngoại hối theo hướng phân định rõ giữa đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp; thống nhất giữa pháp luật doanh nghiệp và quản lý ngoại hối về tài khoản mua bán, chuyển nhượng cổ phần...
 
Sửa đổi, bổ sung các quy định về thủ tục, điều kiện đầu tư, khái niệm về các hoạt động đầu tư, về danh mục địa bàn, lĩnh vực, đối tượng được áp dụng ưu đãi đầu tư trong các luật về đầu tư nước ngoài và các luật có liên quan để thống nhất trong thực hiện và đảm bảo phù hợp với các cam kết quốc tế của Việt Nam.
 
Bốn là, hoàn thiện thể chế, chính sách thu hút đầu tư
 
Nhiệm vụ này yêu cầu sự vào cuộc đồng bộ của nhiều bộ, ngành, địa phương nhằm rà soát các ngành nghề đầu tư, xây dựng tiêu chí đầu tư. Nghiên cứu, hoàn thiện thể chế, chính sách, hoàn thiện khung pháp luật về hoạt động ĐTNN cho các khu kinh tế, khu công nghiệp; đa dạng hóa và phát huy có hiệu quả mô hình hợp tác công - tư (PPP); xây dựng cơ chế chính sách ưu đãi đầu tư theo các tiêu chí và các phương thức đầu tư, mô hình kinh doanh mới trên nền tảng kinh tế số.
 
Bổ sung cơ chế khuyến khích đối với các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, thực hiện tốt các nghĩa vụ, cam kết; áp dụng ưu đãi đầu tư gắn với đáp ứng các điều kiện, cam kết cụ thể và cơ chế hậu kiểm, yêu cầu bồi hoàn khi vi phạm cam kết.
 
Nâng cấp, hoàn thiện quy định của pháp luật về công nghiệp hỗ trợ; rà soát, hoàn thiện các quy định về chống độc quyền, tập trung kinh tế theo pháp luật cạnh tranh phù hợp với thông lệ quốc tế; nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách bảo vệ thị trường phân phối trong nước; khuyến khích tăng liên kết giữa ĐTNN và đầu tư trong nước; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về thủ tục hành chính đối với hoạt động đầu tư tại Việt Nam của người Việt Nam ở nước ngoài.

Năm là, hoàn thiện thể chế, chính sách nhằm bảo hộ và đề cao trách nhiệm và hợp tác của nhà đầu tư Chính phủ giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành thực hiện sửa đổi, bổ sung quy định bảo đảm quyền, nghĩa vụ, công nhận và bảo hộ quyền sở hữu hợp pháp về tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, vốn đầu tư, thu nhập và lợi ích hợp pháp khác của nhà đầu tư và chủ thể có liên quan, phù hợp với các cam kết quốc tế; đồng thời có chế tài xử lý nghiêm các vi phạm quy định tại Luật Đầu tư (sửa đổi); Quy định rõ trong Luật Đầu tư (sửa đổi) về trách nhiệm của nhà đầu tư về bảo vệ môi trường và hợp tác cải thiện môi trường tốt hơn trong quá trình đầu tư, triển khai dự án và hoạt động của doanh nghiệp trong suốt thời gian thực hiện dự án theo quy định của pháp luật.
 
Sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật về lao động, việc làm và tiền lương, bảo đảm hài hoà lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động theo hướng minh bạch, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế; Điều chỉnh hợp lý khoảng cách lương tối thiểu giữa các vùng để hạn chế tập trung lao động tại các đô thị lớn, giảm áp lực về cơ sở hạ tầng...
 
Sáu là, hoàn thiện thể chế chính sách quản lý, giám sát đầu tư
 
Các bộ, ngành và địa phương có trách nhiệm nâng cao năng lực phân tích, dự báo của các cơ quan xây dựng, ban hành thể chế chính sách; Kịp thời trình cấp có thẩm quyền ban hành các quy định điều chỉnh các quan hệ kinh tế mới, các mô hình, phương thức kinh doanh mới... tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư kinh doanh của nhà đầu tư và hoạt động quản lý của cơ quan nhà nước; Đẩy mạnh phân công, phân cấp, ủy quyền và cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước; áp dụng cơ chế một cửa, một cửa liên thông.
 
Bên cạnh đó, cần xây dựng, bổ sung một số quy định tại Nghị định hướng dẫn Luật Đầu tư (sửa đổi), Nghị định về giám sát đánh giá đầu tư; Nghiên cứu hướng dẫn Luật Quản lý thuế và sửa đổi bổ sung các quy định về chống chuyển giá trong quản lý thuế; Xây dựng cơ sở dữ liệu, công bố thông tin... để kiểm soát, quản lý, chống chuyển giá, trốn thuế làm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp tại Việt Nam của các doanh nghiệp có quan hệ liên kết và giao dịch liên kết.
 
Xây dựng bộ máy chuyên trách chống chuyển giá, chống chuyển lợi nhuận; Xây dựng và thực hiện các chương trình hợp tác quốc tế về tăng cường năng lực quản lý thuế quốc tế, kiểm soát hoạt động chuyển giá của các doanh nghiệp liên kết; Phối hợp với các cơ quan, ban ngành xây dựng quy chế phối hợp để quản lý, kiểm tra nhằm ngăn ngừa và hạn chế tình trạng chuyển giá, chuyển lợi nhuận gây xói mòn nguồn thu ngân sách nhà nước...
 
Bảy là, đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư
 
Các bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác xúc tiến đầu tư; tăng cường sự phối hợp, liên kết giữa trung ương với địa phương, giữa các vùng, giữa cơ quan quản lý nhà nước với các hiệp hội nghề nghiệp trong công tác xúc tiến đầu tư; Chủ động xúc tiến đầu tư có mục tiêu, trọng tâm, trọng điểm, gắn với các tiêu chí hợp tác đầu tư mới; tiếp tục duy trì các thị trường và đối tác truyền thống, đồng thời mở rộng thị trường, đối tác mới; Đa dạng hóa các hoạt động và phương thức xúc tiến đầu tư; chú trọng xúc tiến đầu tư tại chỗ với những dự án hợp tác cụ thể đã triển khai thành công;
 
Đầu tư thoả đáng cho hoạt động xúc tiến. Ưu tiên thực hiện các hoạt động xúc tiến đầu tư quốc gia, liên vùng, liên ngành, ứng dụng công nghệ; Công khai, minh bạch hệ thống thông tin kinh tế - xã hội, pháp luật, chính sách, quy hoạch, kế hoạch, thị trường...
 
Tám là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài
 
Cần thực hiện nghiêm pháp luật về đầu tư và pháp luật khác có liên quan đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, chủ động phòng tránh không để phát sinh khiếu kiện, tranh chấp quốc tế; Xử lý nghiêm tình trạng thực hiện thể chế, chính sách thiếu thống nhất giữa trung ương và địa phương, giữa các địa phương; Công tác quản lý, triển khai dự án đầu tư; phải bảo đảm hiệu quả kinh tế - xã hội - môi trường, phù hợp quy hoạch, theo đúng các tiêu chí lựa chọn, sàng lọc dự án... Bảo đảm chặt chẽ về quy trình, thủ tục cấp, điều chỉnh, thu hồi, chấm dứt hoạt động của dự án đầu tư nước ngoài theo đúng quy định pháp luật; bảo đảm không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự trong giải quyết các khiếu nại, khiếu kiện về đầu tư;
 
Chú trọng nâng cao năng lực và đạo đức công vụ của đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài ở các bộ, ngành và địa phương phù hợp với những yêu cầu, nhiệm vụ mới về quản lý đầu tư nước ngoài; Xây dựng, hoàn thiện hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu để kết nối với Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư nước ngoài./.

Minh Hà
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top