Thách thức an ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long

10/03/2020 - 09:02 AM - 88 lượt xem
Nhiều năm trở lại đây, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) đã trở thành một trong những khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề nhất Việt Nam trước những tác động tiêu cực do biến đổi khí hậu gây ra. Các vấn đề về sụt lún đất, suy giảm mạch nước ngầm, các nguồn nước thải trong sinh hoạt, sản xuất… đang ngày càng đe dọa đến an ninh nguồn nước của cả Vùng với những cảnh báo đỏ về nguồn nước bị ô nhiễm và biến đổi. Điều này đặt ra những thách thức cần các biện pháp giải quyết kịp thời để đảm bảo nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất tại vùng đồng bằng lớn nhất Việt Nam.
 
Là vùng kinh tế phát triển nông nghiệp, việc quản lý, khai thác nguồn nước vùng ĐBSCL phục vụ sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội luôn có ý nghĩa quan trọng hàng đầu đối với sự phát triển toàn diện của toàn vùng cũng như cả nước. Để sản xuất nông nghiệp với 2-3 vụ lúa trong năm, cây ăn trái và nuôi thủy sản quanh năm, cộng với nước phục vụ sinh hoạt, các khu công nghiệp, du lịch, dịch vụ..., tổng nhu cầu nước ngọt trong năm dao động từ 700-2.000 m3/s, đặc biệt vào các tháng mùa khô/kiệt, chiếm đến 15-50% dòng chảy kiệt vào lưu vực sông Mê Công, khiến bài toán “cân bằng cung - cầu” trở thành vấn đề quan trọng hơn trong quản lý nước. Tuy nhiên, ĐBSCL đang phải đối mặt với rất nhiều thách thức về đảm bảo an ninh nguồn nước, thậm chí đe dọa đến an ninh lương thực, phát triển bền vững của ĐBSCL nói riêng và cả nước nói chung.

 
Thách thức an ninh nguồn nước tại Đồng bằng sông Cửu Long
Một góc Đồng bằng sông Cửu Long khi lũ về. Nguồn: Internet

Thách thức nước mặt từ nguồn nước thượng lưu sông Mê Công

Mặc dù phát triển kinh tế lấy nông nghiệp là trọng điểm nhưng vào mùa khô ở ĐBSCL hầu như không có mưa, nguồn nước chủ yếu do sông Mê Công cung cấp với lưu lượng kiệt bình quân khoảng 2000 m3/s. Tuy nhiên nhiều năm về trước, Tổ chức Quỹ bảo vệ thiên nhiên Thế giới (WWF) đã đánh giá, sông Mê Công cùng với các sông Dương Tử, Salween, Ganges và Indus là 5 dòng sông đang bị cạn kiệt ở châu Á. Trong khi đó, do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu, lượng mưa tại lưu vực sông Mê Công mỗi năm không đều và đang có xu hướng giảm dần. Các trạm quan trắc tại vùng ĐBSCL cho thấy, mùa mưa năm 2015 đến muộn nhưng lại kết thúc sớm, tổng lượng mưa trên các trạm quan trắc khác nhau, tại lưu vực sông Mê Công thiếu hụt so với trung bình nhiều năm từ 15-45% đã đẩy ĐBSCL vào tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn lớn nhất lịch sử vào năm 2016. Nửa cuối năm 2019 vừa qua, báo cáo của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Quốc gia cho thấy, từ tháng 6 đến tháng 10/2019, lượng mưa vùng thượng nguồn sông Mê Công ở mức thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 35-40%; vùng trung hạ lưu ở mức xấp xỉ trung bình nhiều năm, chỉ cao hơn năm hạn 2015 khoảng 10-15%, dẫn đến mực nước đầu nguồn sông Cửu Long xuống mức thấp hơn trung bình nhiều năm khoảng 0,4-0,7 m, tương đương cùng kỳ năm 2015. Theo dự báo, ĐBSCL có thể phải đối mặt với tình hình hạn hán, xâm ngập mặn trong mùa khô 2020 tương đương với đợt hạn mặn lịch sử năm 2016. Bên cạnh đó, nhiều năm qua lũ về ĐBSCL thường muộn, tần suất ít đi, không theo quy luật, mực nước lũ ở mức thấp lịch sử đã làm ảnh hưởng đến quy luật sinh trưởng của nhiều sản vật đặc trưng mùa nước của vùng đầu nguồn, cũng như giảm lượng phù sa bồi đắp, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp của toàn vùng.

Mặt khác, theo số liệu của Ủy hội sông Mê Công, gần 60% lượng nước của Việt Nam tập trung tại lưu vực sông Mê Công với diện tích lưu vực 795 nghìn km2, trong đó có tới 756 nghìn km2 diện tích với lượng dòng chảy 400 tỷ m3/năm đi qua 5 quốc gia khác (Trung Quốc, Lào, Myanma, Thái Lan, Campuchia), chỉ có 39 nghìn km2 diện tích lưu vực với lượng dòng chảy 75 m3 (chiếm 5% tổng lượng dòng chảy) nằm trong lãnh thổ Việt Nam. Như vậy, phần lớn nguồn nước ĐBSCL nhận được là nguồn nước từ dòng chảy ngoại lai chảy vào lãnh thổ Việt Nam, cộng thêm với vị trí nằm ở hạ nguồn sông Mê Công, đồng nghĩa với ĐBSCL ở thế thụ động trong phân bố nguồn nước từ thượng nguồn sông Mê Công đổ về hạ lưu.

Vài năm trở lại đây, do phát triển kinh tế và nông nghiệp của các quốc gia hai bên lưu vực, hàng trăm đập thủy điện đã và đang được hình thành đã tác động lớn tới dòng chảy và lưu lượng nước sông Mê Công, khiến một số đoạn sông Mê Công khô cạn đáy ngay cả trong mùa mưa. Nghiên cứu của Nhóm tư vấn nghiên cứu nông nghiệp quốc tế - CGIRA cho thấy, lưu vực sông Mê Công hiện có tới trên 300 đập thủy điện đã hoàn thiện, trên 40 đập đang trong quá trình xây dựng và trên 70 đập dự kiến xây dựng. Ở các dòng nhánh của sông Mê Công đã có hơn 90 đập thủy điện và Ủy hội sông Mê Công thống kê đến năm 2030 sẽ có thêm 30 đập nữa được triển khai trên các dòng nhánh của sông. Như vậy đến năm 2030, sông Mê Công sẽ bị bao phủ bới hơn 400 đập thủy điện lớn nhỏ với số lượng hồ chứa được quy hoạch trên thượng lưu đạt tổng dung tích 101,9 tỷ m3; riêng 8 đập thủy điện trên dòng chính nằm trong lãnh địa Trung Quốc đã giữ lại hơn 40 tỷ m3 nước. Các đập thủy điện đã làm thay đổi vĩnh viễn dòng chảy và bản chất tự nhiên của dòng sông; ảnh hưởng tới chất lượng và lưu lượng nước; suy giảm lượng phù sa; đe dọa đến hệ sinh thái thủy sinh; gây thiệt hại cho ngành thủy sản và nông nghiệp; đe dọa đến phát triển kinh tế. Điều đáng nói là, mặc dù Ủy hội sông Mê Công - MRC được thành lập với các thành viên Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan nhằm mục đích tham vấn lẫn nhau khi mỗi quốc gia lên kế hoạch xây đập thủy điện nhưng các quốc gia chỉ tham vấn chứ không có quyền phủ quyết bất cứ dự án nào bị coi là có tác động tiêu cực đến dòng chính sông Mê Công và Trung Quốc - quốc gia thượng nguồn có các hoạt động thủy điện ảnh hưởng đến sông Mê Công nhất lại không tham gia MRC.

Nằm ở vị trí hạ lưu sông Mê Công, không có dòng chảy chính do khi sông chảy vào lãnh địa đã chia thành 9 nhánh (Cửu Long), Việt Nam, cụ thể là ĐBSCL là vùng phải chịu nhiều thiệt hại nhất khi thượng nguồn không có sự chia sẻ nước công bằng giữa các quốc gia. Thiếu hụt nguồn nước từ thượng nguồn còn khiến cho ĐBSCL phải đối mặt với việc thiếu nước đẩy mặn trước tình trạng nước biển dâng do biến đổi khí hậu dẫn đến sạt lở, xâm ngập mặn, đe dọa đến an ninh lương thực, an ninh nguồn nước, kinh tế - chính trị - xã hội của cả vùng.

 
Mực nước ngầm ngày càng suy giảm

Tại ĐBSCL, tài nguyên nước ngầm có từ 6-7 tầng chứa nước (đồng bằng Bắc Bộ và ven biển miền Trung chỉ có 2-3 tầng chứa). Các tỉnh ĐBSCL được cho là có nguồn nước ngầm dưới đất vượt trội hơn so với nhiều nước khác do tính chất phân bố rộng rãi, trữ lượng lớn, không bị hạn chế bởi tính chất khô hạn của mùa thu và được bảo vệ một cách tự nhiên khỏi ô nhiễm. Nguồn nước ngầm tại ĐBSCL được sử dụng phổ biến trong sinh hoạt, tưới màu, tưới lúa chống hạn, thậm chí để nuôi trồng thủy sản. Hầu hết các đô thị của Vùng sử dụng 100% nước ngầm như Sa Đéc, Cao Lãnh, Bến Tre, Tân Châu, Bạc Liêu, Cà Mau… Dù vậy, thực tế hiện nay cho thấy, nguồn nước ngầm tại đây đang đứng trước tình trạng khai thác tràn lan, ồ ạt dẫn đến những hệ lụy khó lường.

Các chuyên gia từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Đức (GIZ) và Viện Khoa học Địa chất và Tài nguyên Liên bang Đức (BGR) cũng cho biết, ĐBSCL là nơi có tuổi địa chất còn rất trẻ, chỉ khoảng 6.000 năm, sụt lún đất đã xuất hiện trong suốt quá trình hình thành nên đồng bằng và mức độ sụt lún đó đã được bù lại từ nguồn phù sa, trầm tích do các cơn lũ mang lại hàng năm. Đến nay, cả khu vực thành thị và nông thôn của Vùng đều đang có xu hướng tiếp tục sụt lún với cùng cấp độ. Hình ảnh từ vệ tinh của Eu đã chỉ ra rằng, vùng đồng bằng châu thổ màu mỡ nhất Việt Nam đang bị chìm xuống trung bình với mức độ khoảng 11 m/năm. Đáng chú ý là hiện tượng này đang ngày càng diễn ra mạnh hơn, đặc biệt, một số nơi tốc độ sụt lún diễn ra nhanh hơn so với mực nước biển dâng, thậm chí có thể lên đến 50 m/năm. Nghiên cứu của đại học Stanford (Hoa Kỳ) về mối tương quan giữa khai thác nước dưới đất, sụt lún đất và nước biển dâng ở ĐBSCL dựa trên dữ liệu quan trắc mực nước theo thời gian từ 79 giếng tại 18 điểm đã chỉ ra rằng, việc khoan sâu vào lòng đất, khai thác nước ngầm quá mức khiến cho kết cấu nền bị phá vỡ, gây nên đứt vỡ, sụt lún đất tại đây. Thống kê tại ĐBSCL và thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 9.650 giếng cấp nước tập trung có quy mô trên 10 m3/ngày phục vụ sinh hoạt và sản xuất với tổng lưu lượng khai thác gần 2 triệu m3/ngày. Trong đó, TPHCM có đến 1.920 giếng, với lưu lượng khai thác 519 nghìn m3/ngày. Ngoài ra, khoảng 990 nghìn giếng khai thác nhỏ lẻ quy mô hộ gia đình, ước tính lưu lượng khai thác khoảng 840 nghìn m3/ngày. Việc suy giảm mực nước quá mức với tốc độ 0,3m/năm và sự nén ép của các lớp trầm tích gây ra sụt lún đất do khai thác nước dưới đất có tốc độ trung bình là 1,6cm/năm. Bình quân mỗi năm mực nước ngầm của ĐBSCL sụt giảm khoảng 40 cm, tính đến năm 2015, mực nước ngầm của vùng ĐBSCL đã bị tụt giảm khoảng 15 m. Nếu như trước đây, giếng khoan cần độ sâu khoảng 100m là có thể khai thác được nguồn nước đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì nay phải khoan sâu gấp đôi. Đặc biệt, các tỉnh vùng ven biển đang bị đe dọa nghiêm trọng do mực nước ngầm sụt giảm khiến cho xâm nhập mặn diễn biến ngày càng sâu và khó lường.

Trong khi đó, một trong những chỉ tiêu đánh giá sự ổn định của nguồn nước là thời hạn phục hồi nguồn nước. Nếu như với dòng chảy trên mặt đất, thời gian phục hồi khoảng 16 ngày đêm thì đối với dòng nước ngầm phải mất đến 1,5 nghìn năm; điều đó cho thấy khả năng phục hồi của mạch nước ngầm là vô cùng khó khăn.

 
Chất lượng nước ngày càng suy thoái

Không chỉ gặp thách thức an ninh nguồn nước từ lưu lượng nước ngày càng suy giảm, ĐBSCL còn đang phải đối mặt với tình trạng chất lượng nước của vùng đang suy thoái từng ngày. Theo Viện khoa học xã hội vùng Nam bộ, nguồn nước mặt tại nhiều tỉnh, thành ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hiện ô nhiễm nghiêm trọng do sự phát triển nhanh của các dự án công nghiệp và đô thị hóa. Tại các tỉnh có tốc độ phát triển kinh tế và đô thị hóa nhanh như: Cần Thơ, Long An, An Giang... lượng nước thải từ hàng trăm, hàng nghìn cơ sở công nghiệp, khu công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt, làng nghề, bệnh viện, khai thác khoáng sản… chưa qua xử lý, được xả trực tiếp vào các hệ thống kênh rạch đã khiến nguồn nước mặt cũng như nước ngầm bị ô nhiễm trên quy mô lớn. Hầu hết các khu công nghiệp, cụm công nghiệp ở ĐBSCL đều tập trung dọc tuyến sông Hậu, sông Tiền, hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản đông lạnh xuất khẩu, hệ thống xử lý nước thải tập trung chiếm tỷ lệ thấp hoặc không đạt tiêu chuẩn vẫn xả ra môi trường mỗi ngày, khiến cho tài nguyên nước mặt bị nhiễm chất bẩn hữu cơ và vi sinh.

Bên cạnh đó, vấn đề ô nhiễm môi trường trong sản xuất nông nghiệp vùng ĐBSCL cũng đang có những diễn biến ngày càng nghiêm trọng hơn; nước thải từ các hoạt động nông nghiệp được xem là nguồn thải phân tán và hầu như không thể kiểm soát được trong quá trình canh tác. Ngân hàng Thế giới (WB) cũng chỉ ra rằng, hầu hết nông dân trồng lúa tại ĐBSCL đều sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nhiều hơn mức được khuyến nghị. Tại đây, trung bình mỗi năm có khoảng 1.790 tấn thuốc diệt ốc sên, 210 tấn thuốc diệt cỏ,
1.224 tấn thuốc trừ sâu và 4.245 tấn thuốc diệt nấm được sử dụng dư thừa trong sản xuất lúa. Lượng phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật dư thừa cùng với bao bì, vỏ sản phẩm xả bừa bãi, không được thu gom là một trong những nguyên nhân lớn gây suy giảm chất lượng nước mặt, thậm chí còn ngấm xuống các mạch nước ngầm.

Ngoài ra, các hoạt động nuôi trồng thủy sản như: Nước thải nuôi trồng, quá trình vệ sinh, nạo vét ao nuôi, chất thải ao nuôi công nghiệp cũng đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh, suy thoái nguồn nước trên các con sông của vùng ĐBSCL. Theo kết quả quan trắc của Viện nghiên cứu Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, nồng độ vi khuẩn Ecoli tại các sông ngòi, kênh rạch ở ĐBSCL đã vượt quá mức cho phép 2-5 lần; nồng độ BOD và COD3 vượt giới hạn cho phép 1-3 lần; nồng độ ammoniac và một số độc chất phát sinh từ hoạt động công nghiệp và nông nghiệp đã vượt quá 5-10 lần tiêu chuẩn cho phép.

Do ảnh hưởng bởi lượng nước ngầm sụt giảm gây sạt lở, sụt lún, cộng với nước sông Mê Công bị giữ lại ở các đập thủy điện thượng nguồn, mưa ít, dòng chảy cạn kiệt khiến cho lũ ít về để rửa mặn và bồi đắp phù sa, chất lượng nước của ĐBSCL đang ngày càng giảm mạnh và các vùng ven biển đang bị ngập dần. Năm 1990, khi đổ vào Việt Nam trở thành 9 nhánh, dòng Cửu Long đã đưa về cho ĐBSCL khoảng 160 triệu tấn phù sa làm màu mỡ cho đất đai và bồi đắp các vùng ven biển. Đến năm 2015, lượng phù sa đã giảm hơn một nửa chỉ còn 75 triệu tấn. ĐBSCL đang đứng trước nguy cơ bị nhấm chìm gần 17% diện tích khi mực nước biển dâng lên 1 m vào năm 2050 theo dự báo của các nhà khoa học. Hiện nay, các nguồn nước tại đây đang phải chống chọi với diễn biến xâm ngập mặn, nhiễm phèn, làm thay đổi hệ sinh thái thủy sinh…

An ninh nguồn nước luôn là vấn đề quan trọng, có ý nghĩa sống còn với vùng Đồng bằng sông nước Cửu Long, thậm chí còn tiềm ẩn nguy cơ cao về xung đột nguồn nước giữa các quốc gia nằm hai bên lưu vực sông Mê Công. Chính vì vậy từ nhiều năm nay, các cấp chính quyền cùng các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức phi chính phủ… nghiên cứu và thực hiện nhiều giải pháp nhằm đảm bảo nguồn nước cho phát triển bền vững toàn vùng, tránh xung đột. Về lâu dài, cần có chiến lược bền vững, xây dựng các điểm chứa nước để đảm bảo đủ lượng nước cho sinh hoạt và phát triển kinh tế của Việt Nam nói chung và ĐBSCL nói riêng. Còn trước mắt, cần kêu gọi các quốc gia thượng nguồn chia sẻ công bằng nước sông Mê Công; khắc phục những tồn tại trong vấn đề bảo vệ môi trường để bảo vệ và khắc phục tình trạng suy thoái chất lượng nước. ĐBSCL cần xác định, chiến dịch đảm bảo an ninh nguồn nước là chiến dịch toàn diện và lâu dài, cần sự vào cuộc của tổng thể các tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế và mọi lĩnh vực xã hội./.

 
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nằm quanh các lưu vực sông Mê Công và Vàm Cỏ Tây, có tổng diện tích trên 40,5 nghìn km2, chiếm 13% diện tích cả nước, với số dân toàn vùng là 17,2 triệu người, chiếm 18% dân số cả nước (Kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019). ĐBSCL giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, là một trong 4 vùng kinh tế trọng điểm của Việt Nam, đóng góp khoảng 18,7% GDP cả nước, đặc biệt là về sản xuất nông nghiệp. Với điều kiện thuận lợi, Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ là một trong những đồng bằng màu mỡ và có sản lượng nông sản đứng đầu Việt Nam mà còn lớn nhất khu vực Đông Nam Á.

Thu Hiền
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top