Thực trạng hoạt động của hộ kinh doanh ở Việt Nam
Từ sau đổi mới năm 1986, cùng với chủ trương, chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, hộ kinh doanh (HKD) đã chính thức được thừa nhận là đơn vị kinh tế tự chủ, là một bộ phận quan trọng của nền kinh tế và đã có sự phát triển mạnh mẽ. Từ năm 1988 đến nay, kinh tế hộ gia đình có những chuyển biến tích cực cả về quy mô, tốc độ và cơ cấu. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 1999 cả nước có hơn 1,5 triệu HKD sử dụng hơn 3 triệu lao động, đến năm 2017, số HKD đã tăng lên trên 5,14 triệu, sử dụng khoảng 8,58 triệu lao động. Tính đến nay, cả nước đã có trên 5,2 triệu hộ.
Các HKD phân bố tương đối đồng đều trên cả nước. Trong đó, Đồng bằng sông Hồng, Trung bộ, Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ là những vùng chiếm tỷ trọng cao nhất, lần lượt là 25,86%; 23,03%; 19,34% và 17,52% (năm 2017). Trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên chiếm tỷ trọng thấp nhất, lần lượt là 9,47% và 4,78%. Trên cơ sở phân bổ dân cư, tỷ trọng HKD giữa các vùng không có sự biến động đáng kể trong nhiều năm qua.
Theo ngành nghề kinh doanh, tỷ trọng HKD trong ngành thương mại - dịch vụ chiếm khoảng 80%, 20% còn lại là trong ngành công nghiệp - xây dựng. Thống kê các năm cho thấy, tỷ trọng các hộ thương mại dịch vụ ngày càng tăng: Năm 2012 là 78,9%, năm 2014 là 80% và năm 2017 là 81,9%. Tương ứng với đó, năm 2017 số lao động tại các HKD trong lĩnh vực công nghiệp chiếm trên 22%, gần 88% còn lại đến từ khu vực hộ trong lĩnh vực dịch vụ.
Ảnh minh họa, nguồn Internet
Thời gian qua, các HKD đã có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế, tạo việc làm và giải quyết các vấn đề xã hội. Theo Tổng cục Thống kê, số lao động làm việc trong khu vực HKD tăng nhanh theo thời gian, từ trên 7,4 triệu người năm 2010 tăng lên gần 8,6 triệu người năm 2017. Số lượng lao động làm việc trong khu vực HKD giai đoạn 2010-2017 bằng khoảng từ 59%-75% số lao động làm việc trong khu vực doanh nghiệp. Nếu chỉ so với số lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân thì số lao động làm việc trong khu vực HKD trong 2 năm gần đây là tương đương. Trong giai đoạn trước đó, số lao động làm việc trong khu vực HKD cao hơn tương đối so với số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngoài nhà nước, khoảng từ 3% - 24%. Số lao động trung bình một HKD dao động từ 1,677 - 1,8 người/HKD trong giai đoạn 2010-2017, trong khi con số này ở khu vực DN là khoảng 26-35,2 người/DN.
Quy mô vốn bình quân và giá trị tài sản cố định bình quân của 1 HKD có xu hướng tăng lên qua các năm. Trong giai đoạn 2007-2015, quy mô vốn bình quân tăng 16,5%/năm, từ 59,3 triệu đồng/hộ năm 2007 lên 150,61 triệu đồng/hộ năm 2015, gấp 2,54 lần so với năm 2007. Trong khi đó, vốn bình quân một DN ngoài nhà nước giai đoạn này đạt khoảng từ 26,6 tỷ - 51,6 tỷ đồng.
Không chỉ tạo việc làm, tăng thu nhập và xoá đói giảm nghèo trực tiếp cho chính chủ sở hữu, người quản lý, khu vực HKD còn gián tiếp cải thiện cuộc sống cho những người có thu nhập thấp, người nghèo ở thành thị và nông thôn. Nhờ có HKD, những đối tượng là người nghèo được tiếp cận các hàng hoá, dịch vụ nhanh hơn với giá cả bình dân. Hơn nữa, khu vực này còn là nơi tiếp nhận người lao động không đủ kỹ năng làm việc cho khu vực doanh nghiệp, khu vực hành chính sự nghiệp chuyển sang. Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ HKD đang hoạt động tại các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc gìn giữ, bảo tồn và phát triển các ngành nghề truyền thống - một phần của văn hoá dân tộc Việt Nam.
Chuyển đổi lên doanh nghiệp còn nhiều quan ngại
Thực tế, khu vực HKD mặc dù có đóng góp đáng kể vào nền kinh tế, nhất là trong giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người lao động, nhưng so với tiềm năng, đóng góp của khu vực này còn hạn chế và chưa tương xứng với quy mô. Tuy khu vực HKD chiếm tới trên 30% GDP nhưng đóng góp cho ngân sách nhà nước còn rất nhỏ, hiện nay, lực lượng HKD trong cả nước đang áp dụng hình thức thuế khoán nên số thuế đóng góp vào ngân sách nhà nước còn rất hạn chế, chỉ từ 2-3% trên tổng số thuế thu được. Theo tính toán các chuyên gia kinh tế, việc quản lý HKD theo hình thức khoán sẽ không mang lại hiệu quả, nảy sinh nhiều bất cập, phức tạp, trốn thuế… Thực tế, có những HKD thu nhập mỗi tháng lên tới hàng trăm triệu đồng, thậm chí có những hộ thu nhập mỗi ngày cũng có thể đạt được con số này, nhưng mức thuế mà các HKD phải nộp hiện chỉ dao động từ 500 nghìn đồng đến 1,5 triệu đồng/hộ. Hộ nào nhiều cũng chỉ khoảng 3 triệu đồng. Con số này quá ít so với thu nhập của những HKD lớn. Trong khi đó, hiện nay, mức thuế đối với doanh nghiệp và HKD có sự khác biệt rất lớn. Đây chính là lí do khiến phần lớn các HKD thường lựa chọn phương án đóng thuế khoán và không muốn chuyển đổi lên doanh nghiệp.
Theo ý kiến khảo sát tại các chi cục thuế cho thấy, rào cản lớn nhất hiện nay nằm ở chính bản thân các HKD. Qua thực tế vận động tại cơ sở, HKD có tâm lý lo ngại khi chuyển lên doanh nghiệp. Họ cho rằng, với mô hình doanh nghiệp sẽ phải thực hiện thêm một số vấn đề như mở sổ sách, thuê kế toán, lập báo cáo tài chính, lưu giữ hóa đơn, sổ sách… Bên cạnh đó, khi chuyển đổi lên mô hình doanh nghiệp sẽ phải thực hiện nhiều thủ tục hành chính phức tạp hơn so với HKD như: Đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động và chịu sự quản lý thuế khắt khe hơn… Các HKD lo ngại những thủ tục này sẽ làm gia tăng chi phí, gây khó khăn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của họ. Những tư duy trên đã khiến rất nhiều HKD vẫn muốn nộp thuế theo hình thức khoán thuế và không muốn chuyển đổi thành doanh nghiệp, đặc biệt là các HKD kinh doanh tạp hóa, hàng tiêu dùng, ăn uống, giải trí, vật liệu xây dựng… với thị trường tiêu thụ sản phẩm trong phạm vi nhỏ, số lượng lao động ít và làm theo ca.
Bên cạnh đó, đặc điểm chung của các hộ kinh doanh chủ yếu là nhỏ, lẻ, chưa nắm được thủ tục pháp lý, trình độ hiểu biết cũng như nhận thức và ý thức tuân thủ pháp luật chưa cao. Các HKD cũng chưa có sự nhìn nhận đúng mức về việc cần phải phát triển mở rộng kinh doanh, áp dụng kịp thời các công nghệ mới, mô hình quản lý mới, ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động kinh doanh cũng như vào công tác thuế… Trong khi đó, với cơ quan thuế lâu nay, công tác quản lý hộ kinh doanh vốn gặp nhiều khó khăn, phức tạp, tốn nhiều công sức. Nhiều trường hợp quản lý doanh thu chưa phù hợp với thực tế kinh doanh của hộ kinh doanh, nhất là các hộ kinh doanh có ngành nghề đặc thù như karaoke, massage, ăn uống. Các đội thuế quản lý cùng lúc nhiều địa bàn nên việc khảo sát, nắm bắt tình hình hộ kinh doanh còn gặp trở ngại, việc khuyến khích hỗ trợ còn hạn chế…
Ngoài ra, theo Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện nay, HKD vẫn chưa là đối tượng được thụ hưởng theo Luật Doanh nghiệp. Đây cũng là nguyên nhân cốt lõi khiến các HKD vẫn chưa mặn mà đối với việc chuyển đổi lên thành doanh nghiệp.
Tạo thuận lợi cho HKD chuyển đổi thành doanh nghiệp
Để khắc phục những khó khăn, thách thức trên, theo các chuyên gia, cần xây dựng cơ chế chính sách thích hợp, kích thích sự phát triển của doanh nghiệp, cải thiện hơn nữa môi trường kinh doanh, tạo thuận lợi cho các HKD tiếp cận chính sách, hỗ trợ và khuyến khích các HKD đủ điều kiện chuyển đổi sang doanh nghiệp, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa để cải thiện năng lực cạnh tranh và tăng thu cho ngân sách nhà nước.
Nhằm khuyến khích và hỗ trợ các HKD cá thể chuyển đổi thành doanh nghiệp, thời gian qua, Chính phủ đã có nhiều chính sách ưu tiên cho đối tượng này. Điển hình là Nghị định số 39/2018/NĐ-CP đã quy định chi tiết một số điều của Luật hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Cụ thể, DNNVV chuyển đổi từ HKD được hưởng một số ưu đãi như miễn lệ phí môn bài trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; tư vấn hướng dẫn miễn phí về thủ tục hành chính thuế và chế độ kế toán trong thời hạn 3 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu; miễn phí thẩm định, lệ phí cấp phép kinh doanh lần đầu đối với ngành nghề kinh doanh có điều kiện... Bên cạnh đó, Nghị định 39 cũng quy định chi tiết đối với những HKD có từ 10 lao động và doanh thu từ 3 tỷ đồng/năm đối với lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, công nghiệp và xây dựng; từ 10 tỷ đồng/năm với lĩnh vực thương mại, dịch vụ được coi là doanh nghiệp siêu nhỏ. Theo Dự thảo Luật Quản lý thuế sửa đổi, từ năm 2020, hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu và số lao động đáp ứng mức cao nhất về tiêu chí của doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy định của pháp luật về hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa thì thực hiện chế độ kế toán và nộp thuế theo phương pháp kê khai. Các chuyên gia kinh tế đánh giá, đây là giải pháp quản lý tạo bình đẳng và minh bạch đối với các HKD, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi HKD có đủ điều kiện đăng ký thành lập doanh nghiệp.
Là cơ quan đại diện cộng đồng doanh nghiệp, Phòng Công nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) đưa ra đề xuất, để đạt được mục tiêu 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020, Chính phủ cần tiếp tục chỉ đạo quyết liệt, kiên định mục tiêu nhằm giúp các HKD cá thể phát triển lớn mạnh thành doanh nghiệp. Cụ thể, việc sửa đổi Luật Doanh nghiệp trong thời gian tới, HKD cá thể phải là một trong những đối tượng được thụ hưởng, tạo đà phát triển cho khu vực HKD. VCCI cũng cho rằng, để thúc đẩy các HKD chuyển đổi thành doanh nghiệp cần đơn giản hóa các thủ tục về thuế, chính sách kế toán; cắt giảm tối đa các điều kiện kinh doanh và hạn chế tối thiểu việc kiểm tra, thanh tra. Nếu thực hiện đồng bộ việc này sẽ giúp thúc đẩy tiến trình chuyển đổi cácHKD thành doanh nghiệp.
Theo các chuyên gia, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chuyển đổi từ HKD thành doanh nghiệp là rất cần thiết, nhằm thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh hiệu quả, đáp ứng yêu cầu hội nhập. Vì vậy, Chính phủ và các cơ quan có liên quan cần tập trung hỗ trợ, tuyên truyền và thuyết phục các HKD nhằm phá bỏ tâm lý e ngại của người dân; hạn chế những quy định hành chính mà nên dùng những cơ chế để khuyến khích HKD tự chuyển lên doanh nghiệp; đưa ra những hành lang để hộ cá thể tự nguyện lên doanh nghiệp, khi thấy có lợi ích các hộ sẽ mong muốn chuyển đổi. Tất nhiên khi chuyển đổi các HKD có thể phải chấp nhận việc tăng tiền thuế phải nộp, thủ tục rườm rà, vấn đề thanh, kiểm tra...
Dù vậy, theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, đây là hướng đi đúng đắn và là mục tiêu mà Việt Nam cần ưu tiên để vực dậy thành phần kinh tế động lực quan trọng này của đất nước./.
Thu Hường