Tình hình kinh tế - xã hội quý II và 6 tháng đầu năm 2021

29/06/2021 - 11:27 AM

Kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2021 của nước ta diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới dần phục hồi, một số quốc gia đẩy mạnh việc tiêm vắc-xin phòng dịch Covid-19 và đã đạt được những kết quả ban đầu, các nước phát triển dần mở cửa trở lại. Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và các tổ chức quốc tế khác đã đưa ra dự báo khả quan về triển vọng kinh tế toàn cầu[1]. Các nền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, EU dự báo đạt mức tăng trưởng khá nhờ nỗ lực tiêm vắc-xin và ban hành những gói cứu trợ nền kinh tế[2]. Thương mại toàn cầu tiếp tục phục hồi[3], giá cả hàng hóa thế giới có xu hướng tăng, lạm phát, rủi ro tài chính gia tăng ở một số nền kinh tế lớn, ảnh hưởng đến đầu tư, sản xuất và xuất nhập khẩu. Trong nước, tiếp đà những kết quả quan trọng, ấn tượng đã đạt được của năm 2020, kinh tế vĩ mô nước ta tiếp tục ổn định, thời tiết những tháng đầu năm tương đối thuận lợi, sản xuất kinh doanh những tháng đầu năm đạt được những kết quả khá. Tuy nhiên, làn sóng dịch Covid-19 thứ tư bùng phát từ cuối tháng Tư, đặc biệt tại các tỉnh kinh tế trọng điểm như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Bắc Ninh, Bắc Giang, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh và hiện vẫn diễn biến phức tạp đã đặt ra không ít thách thức trong công tác quản lý, điều hành để phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội.
Trước bối cảnh thuận lợi và khó khăn đan xen, nhiệm vụ thực hiện “mục tiêu kép” được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt. Các giải pháp phòng chống dịch Covid-19 được các bộ, ngành, địa phương đồng thuận thực hiện mạnh mẽ, đồng bộ, linh hoạt, hiệu quả, với mục tiêu hàng đầu là chăm lo, bảo vệ sức khỏe và sinh mệnh của người dân, nỗ lực phấn đấu cao nhất thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Kết quả đạt được của các ngành, lĩnh vực trong quý II và 6 tháng đầu năm 2021 như sau:
I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ
1. Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2021 ước tính tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng 0,39% của quý II/2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 6,73% của quý II các năm 2018 và 2019; trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,11%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,28%; khu vực dịch vụ tăng 4,30%. Về sử dụng GDP quý II/2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 6,05%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 29,81%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 28,53%.
GDP 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64%, cao hơn tốc độ tăng 1,82% của 6 tháng đầu năm 2020 nhưng thấp hơn tốc độ tăng 7,05% và 6,77% của cùng kỳ năm 2018 và 2019. Dịch Covid-19 bùng phát tại một số địa phương trên cả nước từ cuối tháng Tư với những diễn biến phức tạp, khó lường đã đặt ra nhiều thách thức, rủi ro cho nước ta trong việc thực hiện mục tiêu kép “vừa phòng chống dịch bệnh, vừa phát triển kinh tế. Kết quả tăng trưởng 6 tháng đầu năm cho thấy sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; sự chung sức, đồng lòng của hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp, nhân dân cả nước và lực lượng tuyến đầu chống dịch để kiểm soát dịch bệnh, thực hiện các nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2021. Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,82%, đóng góp 8,17%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,36%, đóng góp 59,05%; khu vực dịch vụ tăng 3,96%, đóng góp 32,78%.
Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2021 tăng khá so với cùng kỳ năm trước do năng suất lúa đông xuân tăng cao, ngành chăn nuôi và thủy sản phát triển ổn định, các sản phẩm nông nghiệp và thủy sản chủ yếu đều tăng khá. Trong đó, ngành nông nghiệp tăng 3,69%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 4,24% của 6 tháng đầu năm 2011 trong giai đoạn 2011-2021[4], đóng góp 0,34 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 3,98% nhưng chiếm tỷ trọng thấp nên chỉ đóng góp 0,02 điểm phần trăm; ngành thủy sản tăng 4,25%, cao hơn mức tăng 2,42% của 6 tháng đầu năm 2020, đóng góp 0,11 điểm phần trăm.
Trong khu vực công nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn tốc độ tăng 9,13% của 6 tháng đầu năm 2019 nhưng cao hơn tốc độ tăng 2,91% của 6 tháng đầu năm 2020, đóng góp 3,01 điểm phần trăm vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là động lực tăng trưởng của toàn nền kinh tế với tốc độ tăng 11,42%, thấp hơn mức tăng của cùng kỳ các năm 2011 và 2018 trong giai đoạn 2011-2021[5], đóng góp 2,9 điểm phần trăm. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,16%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm. Ngành khai khoáng giảm 6,61%, làm giảm 0,25 điểm phần trăm mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế do sản lượng dầu thô khai thác giảm 7,3% và khí đốt tự nhiên giảm 12,5%. Ngành xây dựng tăng 5,59%, chỉ cao hơn tốc độ tăng 4,54% của cùng kỳ năm 2020 trong giai đoạn 2014-2021[6], đóng góp 0,37 điểm phần trăm.
Trong khu vực dịch vụ, hệ thống nhà hàng và cơ sở dịch vụ ăn uống tại chỗ, vận tải hành khách gặp nhiều khó khăn do thực hiện giãn cách xã hội tại một số địa phương để phòng chống dịch bệnh. Tăng trưởng của khu vực dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2021 chỉ cao hơn tốc độ tăng 0,48% của cùng kỳ năm 2020 trong giai đoạn 2011-2021[7]. Đóng góp của một số ngành dịch vụ thị trường có tỷ trọng lớn vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của 6 tháng đầu năm 2021 như sau: Bán buôn và bán lẻ tăng 5,63% so với cùng kỳ năm trước, là ngành đóng góp lớn nhất của khu vực dịch vụ vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế với 0,57 điểm phần trăm; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,27%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm; ngành vận tải, kho bãi giảm 0,39%, làm giảm 0,02 điểm phần trăm; ngành dịch vụ lưu trú và ăn uống giảm 5,02%, làm giảm 0,12 điểm phần trăm.
Về cơ cấu nền kinh tế 6 tháng đầu năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,15%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 37,61%; khu vực dịch vụ chiếm 41,13%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 9,11% (Cơ cấu tương ứng của cùng kỳ năm 2020 là: 14,16%; 33,51%; 41,99%; 10,34%).
Về sử dụng GDP 6 tháng đầu năm 2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 3,56% so với cùng kỳ năm 2020; tích lũy tài sản tăng 5,67%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 24,05%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 22,76%.
2. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản 6 tháng đầu năm 2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, năng suất cây trồng đạt khá, đặc biệt là lúa đông xuân đạt năng suất cao nhất từ trước đến nay ở mức 68,3 tạ/ha; chăn nuôi lợn phục hồi và chăn nuôi gia cầm phát triển tốt, tổng đàn lợn và gia cầm thời điểm cuối tháng Sáu ước tăng lần lượt 11,6% và 5,4% so với cùng thời điểm năm trước. Xuất khẩu thủy sản có dấu hiệu hồi phục, nhu cầu nhập khẩu cá tra tại các thị trường nước ngoài tăng trở lại, sản lượng tôm thẻ chân trắng 6 tháng đầu năm tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước.
a) Nông nghiệp
Diện tích gieo cấy lúa đông xuân cả nước năm nay đạt 3.006,7 nghìn ha, bằng 99,4% vụ đông xuân năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.086,6 nghìn ha, bằng 99%; các địa phương phía Nam đạt 1.920,1 nghìn ha, bằng 99,7%. Diện tích lúa đông xuân năm nay giảm 17 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước, trong đó, các địa phương phía Bắc giảm 11 nghìn ha, các địa phương phía Nam giảm 6 nghìn ha. Diện tích lúa đông xuân giảm do 4,7 nghìn ha chuyển sang đất phi nông nghiệp phục vụ quá trình đô thị hóa; 17,2 nghìn ha chuyển sang trồng cây lâu năm; 6,3 nghìn ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản; 7,3 nghìn ha giảm do không chủ động được nguồn nước tưới, thiếu lao động. Bên cạnh đó, một số tỉnh diện tích lúa đông xuân tăng do có hơn 3,5 nghìn ha diện tích trồng cây hoa màu năm nay chuyển sang trồng lúa và 15 nghìn ha lúa được trồng lại trên diện tích năm trước bị hạn hán, nhiễm mặn không gieo trồng.
Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa đông xuân của cả nước ước tính đạt 68,3 tạ/ha, tăng 2,6 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 64,3 tạ/ha, tăng 1,7 tạ/ha; các địa phương phía Nam đạt 70,6 tạ/ha, tăng 3,1 tạ/ha (Đồng bằng sông Cửu Long đạt 72 tạ/ha). Một số địa phương có năng suất lúa đông xuân đạt cao: Hậu Giang đạt 78,2 tạ/ha; Phú Yên đạt 77,9 tạ/ha; Bạc Liêu đạt 77,3 tạ/ha; Kiên Giang đạt 76,2 tạ/ha; An Giang đạt 74,7 tạ/ha; Đồng Tháp đạt 73,2 tạ/ha; Thái Bình đạt 71 tạ/ha. Năng suất lúa đông xuân năm nay đạt cao nhất từ trước đến nay ngoài yếu tố thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển còn là kết quả của việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả, đưa vào sản xuất bộ giống lúa đi kèm với quy trình canh tác đa dạng, phù hợp, nhất là các giống lúa ngắn ngày, có khả năng thích nghi, chống chịu tốt hơn với điều kiện hạn mặn ở mức độ tương đối cho năng suất cao, chất lượng tốt, các biện pháp kỹ thuật làm đất, bón phân, phòng trừ sâu bệnh được người dân chủ động triển khai kịp thời, khoa học cùng với sự chỉ đạo sát sao của ngành nông nghiệp. Sản lượng lúa đông xuân cả nước ước tính đạt 20,55 triệu tấn, tăng 673,1 nghìn tấn so với vụ đông xuân năm 2020, trong đó, miền Bắc đạt 6,98 triệu tấn, tăng 107,6 nghìn tấn; miền Nam đạt 13,57 triệu tấn, tăng 565,5 nghìn tấn, (riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 10,94 triệu tấn, tăng 365,5 nghìn tấn). Một số địa phương có sản lượng lúa đông xuân tăng so với vụ đông xuân năm trước: An Giang tăng 74,9 nghìn tấn, Kiên Giang tăng 43,8 nghìn tấn, Long An tăng 28,4 nghìn tấn, Cà Mau tăng 24,1 nghìn tấn, Hà Tĩnh tăng 23,9 nghìn tấn, Thanh Hóa tăng 21,7 nghìn tấn.
Cùng với việc thu hoạch vụ đông xuân, tính đến trung tuần tháng 6, các địa phương trên cả nước đã xuống giống được 1.846,2 nghìn ha lúa hè thu, bằng 105,6% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.448,7 nghìn ha, bằng 104,7%. Lúa hè thu các địa phương phía Bắc đang ở giai đoạn đẻ nhánh đến chắc xanh, lúa hè thu chính vụ ở các địa phương phía Nam vào giai đoạn đẻ nhánh, làm đòng đến trổ chín, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, trong đó có 147,7 nghìn ha diện tích lúa hè thu sớm tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã cho thu hoạch, chiếm 10,2% diện tích xuống giống. Do đặc điểm lúa hè thu sinh trưởng trong điều kiện nắng nóng, nền nhiệt cao, có thể thiếu nước ở đầu vụ nhưng thu hoạch vào thời điểm có mưa đầu mùa, nên ngành Nông nghiệp cần theo dõi sát sao diễn biến thời tiết để có biện pháp xử lý kịp thời khi thời tiết bất lợi xảy ra nhằm bảo vệ lúa hè thu cho kết quả tốt.
Đến giữa tháng Sáu, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 558,5 nghìn ha ngô, bằng 99,1% cùng kỳ năm trước; 73,1 nghìn ha khoai lang, bằng 100,3%; 19,4 nghìn ha đậu tương, bằng 87%; 131,7 nghìn ha lạc, bằng 96,9%; 731,2 nghìn ha rau, đậu, bằng 100,9%.
Tổng diện tích cây lâu năm hiện có ước tính đạt 3.614,3 nghìn ha, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó nhóm cây công nghiệp đạt 2.185,3 nghìn ha, tăng 0,2%; nhóm cây ăn quả đạt 1.132,7 nghìn ha, tăng 3,2% chủ yếu ở nhóm cây có múi và nhóm cây có giá trị cao, thị trường tiêu thụ ổn định như xoài, sầu riêng, mít, ổi, bơ; nhóm cây lấy quả chứa dầu đạt 183,6 nghìn ha, tăng 2,9%; nhóm cây gia vị, dược liệu đạt 53,9 nghìn ha, tăng 2,9%; nhóm cây lâu năm khác đạt 58,8 nghìn ha, tăng 0,2%. Sản lượng một số cây công nghiệp lâu năm 6 tháng đầu năm 2021 tăng so với cùng kỳ năm trước: Chè búp đạt 488,7 nghìn tấn, tăng 2,3%; cao su đạt 390,6 nghìn tấn, tăng 3%; điều đạt 342,8 nghìn tấn, tăng 4,6%; hồ tiêu đạt 271,7 nghìn tấn, tăng 3,1%. Sản lượng một số cây ăn quả đạt khá: Thanh long đạt 671,7 nghìn tấn, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước; xoài đạt 568,2 nghìn tấn, tăng 3,3%; cam đạt 326,1 nghìn tấn, tăng 3,1%; bưởi đạt 258,5 nghìn tấn, tăng 10,7%; vải đạt 154,2 nghìn tấn, tăng 7,9%, nhãn đạt 179,9 nghìn tấn, tăng 3,4%.
Chăn nuôi trâu, bò trong 6 tháng đầu năm 2021 bị ảnh hưởng bởi dịch viêm da nổi cục xảy ra tại nhiều địa phương. Để công tác kiểm soát dịch bệnh được kịp thời, hiệu quả, giảm thiệt hại đến mức thấp nhất cho người chăn nuôi, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành cần triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh. Ước tính tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 6/2021 giảm 3,1% so với cùng thời điểm năm 2020; tổng số bò tăng 2,5%. Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng thịt trâu hơi xuất chuồng đạt 60,9 nghìn tấn, giảm 0,1% so với cùng kỳ năm 2020 (quý II đạt 27,4 nghìn tấn, giảm 1%); sản lượng thịt bò hơi xuất chuồng đạt 231 nghìn tấn, tăng 4,2% (quý II đạt 106,4 nghìn tấn, tăng 4,6%); sản lượng sữa bò tươi đạt 561,1 nghìn tấn, tăng 11,2% (quý II đạt 285,5 nghìn tấn, tăng 12,8%).
Trong 6 tháng đầu năm 2021, dịch tả lợn châu Phi tiếp tục được kiểm soát, chỉ còn phát sinh những ổ dịch nhỏ lẻ, đàn gia cầm phát triển tốt. Tuy nhiên, giá thức ăn chăn nuôi tăng cao gây khó khăn cho chăn nuôi đặc biệt là hộ chăn nuôi nhỏ. Ước tính đến cuối tháng Sáu, tổng số lợn của cả nước tăng 11,6% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số gia cầm tăng 5,4%. Ước tính 6 tháng, sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 2.002,2 nghìn tấn, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm 2020 (quý II đạt 1.003,7 nghìn tấn, tăng 8,6%), sản lượng thịt gia cầm hơi xuất chuồng đạt 932,2 nghìn tấn, tăng 6,1% (quý II ước đạt 450,5 nghìn tấn, tăng 6,1%); sản lượng trứng gia cầm đạt 8,4 tỷ quả, tăng 5% (quý II ước đạt 4 tỷ quả, tăng 5,6%).
Tính đến ngày 21/6/2021, cả nước không còn dịch tai xanh ở lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Hà Nội, Cao Bằng, Hòa Bình, Tiền Giang, Đồng Tháp; dịch lở mồm long móng còn ở Sơn La, Hà Tĩnh; dịch tả lợn châu Phi còn ở 30 địa phương[8] và dịch viêm da nổi cục còn ở 32 địa phương[9] chưa qua 21 ngày.
b) Lâm nghiệp
Trong quý II/2021, diện tích rừng trồng mới tập trung của cả nước ước tính đạt 77,2 nghìn ha, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 20,1 triệu cây, tăng 2,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 4.909,7 nghìn m3, tăng 5,9%; sản lượng củi khai thác đạt 5,4 triệu ste, bằng cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 110,4 nghìn ha, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 46,5 triệu cây, tăng 2,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt 7.945,6 nghìn m3, tăng 5,7%; sản lượng củi khai thác đạt 9,9 triệu ste, giảm 0,1%.
Cả nước có 598,6 ha rừng bị thiệt hại trong quý II/2021, tăng 67,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 168,2 ha, tăng 40,7%; diện tích rừng bị chặt, phá là 430,4 ha, tăng 80,4%. Diện tích rừng bị thiêt hại trong tháng Sáu cao nhất 6 tháng đầu năm 2021, trong đó diện tích rừng bị cháy tháng Sáu tăng 70,1% so với cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu tại các tỉnh miền Trung do thời tiết nắng nóng gay gắt, hạn hán trên diện rộng kết hợp với gió Tây Nam khô nóng. Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, diện tích rừng bị thiệt hại là 955,6 ha, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 283,2 ha, tăng 1,0%; diện tích rừng bị chặt, phá là 672,4 ha, tăng 49,9%.
c) Thủy sản
Sản lượng thủy sản quý II/2021 ước tính đạt 2.269,6 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 1.642,1 nghìn tấn, tăng 1,8%; tôm đạt 294,4 nghìn tấn, tăng 10,7%; thủy sản khác đạt 333,1 nghìn tấn, tăng 4,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.096,3 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 3.003,6 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 465,2 nghìn tấn, tăng 8,8%; thủy sản khác đạt 627,5 nghìn tấn, tăng 4,7%.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý II/2021 ước tính đạt 1.164,5 nghìn tấn, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 771,4 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 254,6 nghìn tấn, tăng 13,1%. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 2.104,8 nghìn tấn, tăng 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.456,7 nghìn tấn, tăng 1,7%; tôm đạt 392,9 nghìn tấn, tăng 10,7%. Xuất khẩu cá tra 6 tháng đầu năm 2021 có dấu hiệu tích cực[10] do nhu cầu nhập khẩu cá tra tại các thị trường nước ngoài bắt đầu tăng trở lại. Tuy nhiên, trong năm 2019 và 2020 việc thua lỗ do giá thấp, chi phí thức ăn liên tục tăng và ở mức cao khiến người nuôi thả nuôi dè chừng, do đó nguồn cung cá tra đáp ứng cho xuất khẩu trong thời gian tới có khả năng bị thiếu hụt. Giá cá tra tăng so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn ở mức thấp[11], sản lượng cá tra quý II ước tính đạt 383,3 nghìn tấn, tăng 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng cá tra đạt 705,1 nghìn tấn, tăng 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm thẻ chân trắng liên tục tăng trong quý I và cuối quý II[12], dự báo giá tôm sẽ tiếp tục tăng và tăng mạnh từ tháng Tám đến tháng Mười do đây là các tháng cao điểm chế biến cho xuất khẩu phục vụ mùa Giáng sinh. Xuất khẩu tôm nước ta có cơ hội mở rộng thị trường do Ấn Độ là nước xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới đang bị ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. Nuôi tôm thẻ chân trắng vẫn tiếp tục chuyển đổi từ mô hình thâm canh sang siêu thâm canh hoặc nuôi thâm canh với mật độ cao hơn. Sản lượng tôm thẻ chân trắng quý II/2021 ước tính đạt 175,7 nghìn tấn, tăng 17,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 65,7 nghìn tấn, tăng 2,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 254,6 nghìn tấn, tăng 15,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 113,1 nghìn tấn, tăng 1,9%.
Sản lượng thủy sản khai thác quý II/2021 ước tính đạt 1.105,1 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 870,7 nghìn tấn, tăng 2,0%; tôm đạt 39,8 nghìn tấn, giảm 2,7%. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong Quý ước tính đạt 1.056,2 nghìn tấn, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 1.991,5 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 1.546,9 nghìn tấn, tăng 1,3%; tôm đạt 72,3 nghìn tấn, giảm 0,4%. Sản lượng thủy sản khai thác biển 6 tháng ước tính đạt 1.902,7 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước.
3. Sản xuất công nghiệp
Sản xuất công nghiệp trong quý II/2021 tăng trưởng khá do hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được duy trì và đang dần phục hồi, tốc độ tăng giá trị tăng thêm đạt 11,45% so với cùng kỳ năm trước[13]. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 8,91%, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42%, cao hơn tốc độ tăng 5,06% của cùng kỳ năm 2020.
Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 6 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 8,91% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 6,29%; quý II tăng 11,45%). Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,42% (quý I tăng 8,9%; quý II tăng 13,84%), đóng góp 2,9 điểm phần trăm vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,16%, đóng góp 0,31 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,75%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm; ngành khai khoáng giảm 6,61% (do sản lượng khai thác dầu thô giảm 7,3% và khí đốt tự nhiên dạng khí giảm 12,5%) làm giảm 0,25 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
Theo công dụng sản phẩm công nghiệp, chỉ số sản xuất sản phẩm trung gian (phục vụ cho quá trình sản xuất) 6 tháng đầu năm 2021 tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước; sản phẩm phục vụ cho sử dụng cuối cùng tăng 8,7% (trong đó sản phẩm phục vụ cho tiêu dùng của dân cư tăng 5,7%).
Chỉ số sản xuất 6 tháng đầu năm 2021 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 37%; sản xuất xe có động cơ tăng 33,1%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng tăng 29,4%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 17,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 15,3%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 12,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,7%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 12,6%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 11,2%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 10,6%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,1%. Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,1%; khai thác than cứng và than non giảm 4,4%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 3,9%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 2,3%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc thiết bị giảm 1,8%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,5%.
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 6 tháng đầu năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Thép cán tăng 61,6%; ô tô tăng 50%; linh kiện điện thoại tăng 38,8%; phân hỗn hợp NPK và điện thoại di động cùng tăng 18,1%; sắt, thép thô tăng 16,6%; sữa bột tăng 15,9%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 11,7%; xe máy tăng 11,5%; giày, dép da tăng 11,4%; sơn hóa học tăng 11%; thức ăn cho gia súc tăng 10,8%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 12,5%; đường kính giảm 8,4%; phân u rê giảm 8,1%; dầu mỏ thô khai thác giảm 7,3%; bột ngọt giảm 5,4%; than sạch giảm 4,3%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tháng 6/2021 tăng 4,9% so với tháng trước và tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số ngành có chỉ số tiêu thụ tăng cao: Sản xuất xe có động cơ tăng 29,8%; sản xuất kim loại tăng 25,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 24,1%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 16,1%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 15,9%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 12,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,7%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,9%. Một số ngành có chỉ số tiêu thụ giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 16,9%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 14,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học giảm 14%; sản xuất than cốc, dầu mỏ tinh chế giảm 3,9%.
Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo ước tính tại thời điểm 30/6/2021 tăng 24,3% so với cùng thời điểm năm trước (cùng thời điểm năm 2020 tăng 26,7%), trong đó một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 15,9%; sản xuất trang phục tăng 15,8%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 12,7%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 6,3%; sản xuất kim loại tăng 4,3%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 4%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 0,4%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy giảm 14,2%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 15,1%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao so với cùng thời điểm năm trước: Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 44,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 39,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 38,6%; sản xuất xe có động cơ tăng 36,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 29,9%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 28,1%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 26,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 25,3%.
Tỷ lệ tồn kho toàn ngành chế biến, chế tạo bình quân 6 tháng đầu năm 2021 đạt 75,2% (cùng kỳ năm trước là 81,5%), trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 124,5%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa 119,2%; dệt 117,8%; sản xuất chế biến thực phẩm 108,1%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 105,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) 104%; sản xuất thiết bị điện 102,5%.
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/6/2021 giảm 1,4% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,1% và giảm 2,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,4% và tăng 0,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,1% và giảm 1,4%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng không đổi so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo giảm 1,5% và giảm 1%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 0,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải không đổi và giảm 0,4%.
4. Hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong 6 tháng đầu năm 2021 đạt 67,1 nghìn doanh nghiệp[14], tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước và tăng 34,3% về vốn đăng ký. Sự gia tăng về số lượng và vốn của doanh nghiệp đăng ký thành lập mới cho thấy sự nỗ lực và tinh thần khởi nghiệp của cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh dịch bệnh đang diễn biến phức tạp. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động đạt 93,2 nghìn doanh nghiệp, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm 2020; vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 24,2%. Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý II/2021 vẫn ghi nhận đánh giá tích cực khi có 68,2% số doanh nghiệp nhận định hoạt động sản xuất kinh doanh quý II/2021 so với quý I/2021 tốt lên và giữ ổn định.
a) Tình hình đăng ký doanh nghiệp[15]
Trong tháng 6/2021, cả nước có 11,3 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 164,3 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 71,9 nghìn người, giảm 2,5% về số doanh nghiệp, tăng 9,1% về vốn đăng ký và giảm 0,4% về số lao động so với tháng 05/2021[16]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 14,5 tỷ đồng, tăng 11,9% so với tháng trước và tăng 43,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước có 4.867 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 0,5% so với tháng trước và giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước; 3.867 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 13,7% và tăng 20,2%; 5.238 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 23,7% và tăng 36,3%; 1.919 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 50% và tăng 40,3%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cả nước có gần 67,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 942,6 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 484,3 nghìn lao động, tăng 8,1% về số doanh nghiệp, tăng 34,3% về vốn đăng ký và giảm 4,5% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 6 tháng đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.152,5 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 23,7 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 6 tháng đầu năm 2021 là 2.095,1 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có 26,1 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm 2021 lên 93,2 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có 15,5 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
Theo khu vực kinh tế, trong 6 tháng đầu năm nay có 1.090 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2020; gần 18,2 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 1,6%; 47,8 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 11%. Một số lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: Kinh doanh bất động sản tăng 44,8% so với cùng kỳ năm trước; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 22,6%; giáo dục và đào tạo tăng 21,9%; vận tải kho bãi tăng 21,1%; thông tin và truyền thông tăng 16,3%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 11,5%; khai khoáng tăng 10,6%; nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 9,7%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,6%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 9,1%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy tăng 7,6%; xây dựng tăng 2,9%. Có 3 lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Sản xuất phân phối điện, nước, gas giảm 49,1%; dịch vụ lưu trú ăn uống giảm 2,8%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác giảm 2,4%.
Cũng trong 6 tháng đầu năm nay, có 70,2 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 24,9% so với cùng kỳ năm 2020, bao gồm: 35,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước; 24,7 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 25,7%; 9,9 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33,8%,  trong đó có 8.883 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tăng 34,2%; 105 doanh nghiệp có vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 2,8%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 3.715 doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.138 doanh nghiệp; xây dựng có 881 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 619 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 563 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 497 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 495 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 445 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 333 doanh nghiệp; thông tin và truyền thông có 317 doanh nghiệp; sản xuất phân phối điện, nước, gas 201 doanh nghiệp. Trung bình mỗi tháng có 11,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
b) Xu hướng kinh doanh của doanh nghiệp
Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý II/2021 cho thấy: Có 30,5% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn so với quý I/2021; 37,7% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 31,8% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn[17]. Dự kiến quý III/2021, có 39,2% số doanh nghiệp đánh giá xu hướng sẽ tốt lên so với quý II/2021; 22,2% số doanh nghiệp dự báo khó khăn hơn và 38,6% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh sẽ ổn định. Trong đó, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài lạc quan nhất với 81,5% số doanh nghiệp dự báo tình hình sản xuất kinh doanh quý III/2021 tốt hơn và giữ ổn định so với quý II/2021; tỷ lệ này ở khu vực doanh nghiệp ngoài Nhà nước và doanh nghiệp Nhà nước lần lượt là 76,4% và 75,9%.
Trong các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp quý II/2021, có 52,7% số doanh nghiệp cho rằng khả năng cạnh tranh cao của hàng hóa trong nước là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp; 49,3% số doanh nghiệp cho rằng do nhu cầu thị trường trong nước thấp; 32,1% số doanh nghiệp cho rằng gặp khó khăn về tài chính; 27,3% số doanh nghiệp cho rằng thiếu nguyên, nhiên, vật liệu; 26,7% số doanh nghiệp cho rằng không tuyển được lao động theo yêu cầu; 25,8% số doanh nghiệp cho rằng nhu cầu thị trường quốc tế thấp; 22,2% số doanh nghiệp cho rằng lãi suất vay vốn cao; 19,5% số doanh nghiệp cho rằng tính cạnh tranh của hàng nhập khẩu cao; 19% số doanh nghiệp cho rằng thiết bị công nghệ lạc hậu.
Về khối lượng sản xuất, có 34,1% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất của doanh nghiệp quý II/2021 tăng so với quý I/2021; 35,7% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 30,2% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm[18]. Xu hướng quý III/2021 so với quý II/2021, có 40% số doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất tăng; 20,8% số doanh nghiệp dự báo giảm và 39,2% số doanh nghiệp dự báo ổn định.
Về đơn đặt hàng, có 29,6% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng quý II/2021 cao hơn quý I/2021; 40,4% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 30% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm[19]. Xu hướng quý III/2021 so với quý II/2021, có 37,1% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng tăng lên; 21% số doanh nghiệp dự kiến đơn hàng giảm và 41,9% số doanh nghiệp dự kiến có đơn hàng ổn định.
Về đơn đặt hàng xuất khẩu, quý II/2021 so với quý I/2021, có 27% số doanh nghiệp khẳng định số đơn hàng xuất khẩu mới cao hơn; 43,7% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới ổn định và 29,3% số doanh nghiệp có đơn hàng xuất khẩu mới giảm. Xu hướng quý III/2021 so với quý II/2021, có 32,8% số doanh nghiệp dự kiến tăng đơn hàng xuất khẩu mới; 20,6% số doanh nghiệp dự kiến giảm và 46,6% số doanh nghiệp dự kiến ổn định.
5. Hoạt động dịch vụ
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, tuy một số địa phương thực hiện giãn cách theo các Chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ nhưng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung những khu vực phát sinh dịch nên tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 1,1%).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu ước tính đạt 381,9 nghìn tỷ đồng, giảm 2% so với tháng trước và giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý II/2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tính đạt 1.177,6 nghìn tỷ đồng, giảm 8,4% so với quý trước và tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 956,8 nghìn tỷ đồng, giảm 7% và tăng 6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 101,1 nghìn tỷ đồng, giảm 17,8% và giảm 1,4%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 1,4 nghìn tỷ đồng, giảm 55,4% và giảm 5,7%; doanh thu dịch vụ khác đạt 118,3 nghìn tỷ đồng, giảm 10,1% và tăng 4,2%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2.463,8 nghìn tỷ đồng, tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,55% (cùng kỳ năm 2020 giảm 5,77%).
Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đạt 1.985,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 80,6% tổng mức và tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước[20]. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 7,8%; phương tiện đi lại tăng 6,4%; may mặc tăng 5,5%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 3,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,2%. Một số địa phương có mức doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng tăng so với cùng kỳ năm trước: Đà Nẵng tăng 7,4%; Cần Thơ tăng 6,9%; Hải Phòng tăng 5,9%; Hà Nội tăng 2,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,7%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 224 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,1% tổng mức và giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 20,3%). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Hải Phòng tăng 4,9%; Cần Thơ tăng 2,5%; Đà Nẵng tăng 1,3%; Hà Nội giảm 2,3%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 3,3%; Bắc Ninh giảm 4,2%; Quảng Ninh giảm 5,5%.
Doanh thu du lịch lữ hành 6 tháng ước tính đạt 4,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,2% tổng mức và giảm 51,8% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam chưa mở cửa du lịch quốc tế để khống chế dịch Covid-19, đồng thời một số địa phương thực hiện giãn cách xã hội nên du lịch nội địa kém sôi động. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 6 tháng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Bắc Ninh giảm 61,8%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 53,6%; Hải Phòng giảm 46,5%; Hà Nội giảm 44,3%; Đà Nẵng giảm 43,5%; Quảng Ninh giảm 36,6%; Cần Thơ giảm 20,3%.
Doanh thu dịch vụ khác 6 tháng ước tính đạt 249,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và tăng 4,4% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó doanh thu của Cần Thơ tăng 17,1%; Đà Nẵng tăng 12,3%; Hải Phòng tăng 9,9%; Hà Nội tăng 3,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,1%; Bắc Ninh giảm 6,5%; Thái Bình giảm 5,6%.
b) Vận tải và viễn thông
Trong tháng 6/2021, hoạt động vận tải hành khách tiếp tục gặp khó khăn khi nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội tại các địa bàn có sự bùng phát của dịch Covid-19. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hành khách tháng Sáu giảm 20,3% về lượng hành khách vận chuyển và giảm 25,2% về lượng hành khách luân chuyển; tính chung 6 tháng đầu năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 0,7%, luân chuyển hành khách giảm 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa được duy trì khi các hoạt động sản xuất, kinh doanh nỗ lực thực hiện để đạt “mục tiêu kép” của Chính phủ. So với cùng kỳ năm trước, vận tải hàng hóa tháng Sáu tăng 8,6% về sản lượng vận chuyển và tăng 9,4% về sản lượng luân chuyển; tính chung 6 tháng đầu năm, vận chuyển hàng hóa tăng 11,5%, luân chuyển hàng hóa tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước.
Vận tải hành khách tháng Sáu ước tính đạt 235,5 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 20,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 10,4 tỷ lượt khách.km, giảm 25,2%; quý II năm nay ước tính đạt 844,4 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển đạt 37,5 tỷ lượt khách.km, tăng 23,7%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, vận tải hành khách đạt 1.813,5 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 26,8%) và luân chuyển 78,8 tỷ lượt khách.km, giảm 5,7% (cùng kỳ năm trước giảm 31,7%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.813,4 triệu lượt khách, giảm 0,6% và 78,3 tỷ lượt khách.km, tăng 5,6%; vận tải ngoài nước đạt 94,9 nghìn lượt khách, giảm 96,5% và 480,3 triệu lượt khách.km, giảm 94,9%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hành khách đường bộ 6 tháng đạt 1.675,9 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 1,3% so với cùng kỳ năm trước và 61,8 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 0,8%; đường thủy nội địa đạt 116,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 9% và 2,2 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 10,7%; hàng không đạt 16,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 1,9% và 14,1 tỷ lượt khách.km luân chuyển, giảm 26,8%; đường biển đạt 3,5 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 6,4% và 217,1 nghìn lượt khách.km luân chuyển, tăng 19,4%; đường sắt đạt 1,2 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 41,4% và 497,9 triệu lượt khách.km luân chuyển, giảm 45,3%. Nếu so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, sản lượng vận chuyển 6 tháng đầu năm 2021 giảm 27,3% và luân chuyển giảm 35,6%, trong đó hàng không là một trong những ngành chịu thiệt hại rất lớn với sản lượng vận chuyển giảm 40,2% và luân chuyển giảm 62,2%.
Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước tính đạt 153,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,6% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 31,1 tỷ tấn.km, tăng 9,4%; quý II năm nay ước tính đạt 439,6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 91,3 tỷ tấn.km, tăng 18%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, vận tải hàng hóa đạt 903,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 11,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 7,8%)luân chuyển 178 tỷ tấn.km, tăng 11,3% (cùng kỳ năm trước giảm 7%), trong đó vận tải trong nước đạt 888 triệu tấn vận chuyển, tăng 12% và 105 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 27,7%; vận tải ngoài nước đạt 15,5 triệu tấn vận chuyển, giảm 12,8% và 73 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 6%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 6 tháng đạt 690,9 triệu tấn vận chuyển, tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước và 49,6 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 13,7%; đường thủy nội địa đạt 167,6 triệu tấn vận chuyển, tăng 16,7% và 39,3 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 25,4%; đường biển đạt 42 triệu tấn vận chuyển, tăng 9,5% và 85,4 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 5,3%; đường sắt đạt 2,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,5% và 1,9 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 7,8%; đường hàng không đạt 153,6 nghìn tấn vận chuyển, tăng 7,4% và 1,8 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 13%. Nhìn chung vận tải hàng hóa đã khôi phục hoạt động với mức sản lượng của hầu hết các ngành đường 6 tháng đầu năm 2021 đều cao hơn cùng kỳ năm 2019 (năm chưa ảnh hưởng bởi dịch Covid-19), trong đó vận chuyển hàng hóa đường bộ tăng 1,1% và luân chuyển tăng 1,3%; đường thủy nội địa tăng 9,7% và tăng 18,8%; đường biển tăng 4% và tăng 1,2%; đường sắt tăng 9,2% và tăng 4,8%; riêng đường hàng không vẫn gặp nhiều khó khăn với sản lượng vận chuyển giảm 26% và luân chuyển giảm 51,8% so với 6 tháng năm 2019.
Doanh thu hoạt động viễn thông quý II/2021 ước tính đạt 78,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3%). Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu đạt 158 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 3,3%). Tổng số thuê bao điện thoại tại thời điểm cuối tháng 6/2021 ước tính đạt 126,7 triệu thuê bao, tăng 0,3% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao di động đạt 123,3 triệu thuê bao, tăng 0,4%. Số thuê bao truy nhập Internet băng rộng cố định tại thời điểm cuối tháng Sáu ước tính đạt 17,9 triệu thuê bao, tăng 13,1% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó thuê bao truy nhập qua hệ thống cáp quang (FTTH) và qua hệ thống cáp truyền hình (CATV) tăng nhanh, thuê bao truy nhập qua hình thức xDSL tiếp tục giảm.
c) Khách quốc tế đến Việt Nam
Khách quốc tế đến nước ta trong quý II/2021 đạt 40,1 nghìn lượt người, giảm 30,4% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, khách quốc tế đến nước ta đạt 88,2 nghìn lượt người, giảm 97,6% so với cùng kỳ năm trước.
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Sáu ước tính đạt 7,2 nghìn lượt người, giảm 46,5% so với tháng trước và giảm 18% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 88,2 nghìn lượt người, giảm 97,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 55,7 nghìn lượt người, chiếm 63,2% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 98,2%; bằng đường bộ đạt 32,3 nghìn lượt người, chiếm 36,6% và giảm 94,2%; bằng đường biển đạt 216 lượt người, chiếm 0,2% và giảm 99,9%.
Trong 6 tháng đầu năm nay, khách đến từ châu Á đạt 77,6 nghìn lượt người, chiếm 88% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 97,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ tất cả các thị trường đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt gần 36,7 nghìn lượt người, giảm 96% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 18,4 nghìn lượt người, giảm 97,8%; Đài Loan 6,8 nghìn lượt người, giảm 96,5%; Nhật Bản 4,8 nghìn lượt người, giảm 97,6%; Lào 4,6 nghìn lượt người, giảm 87,8%. Khách đến từ châu Âu trong 6 tháng ước tính đạt 6,9 nghìn lượt người, giảm 99% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ châu Mỹ đạt 2,4 nghìn lượt người, giảm 99%; khách đến từ châu Úc đạt 648 lượt người, giảm 99,4%; khách đến từ châu Phi đạt 666 lượt người, giảm 94,5%.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ, KIỂM SOÁT LẠM PHÁT
1. Hoạt động ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán[21]
Hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế từng bước được phục hồi, nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp và người dân có xu hướng tăng khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện các đợt giảm lãi suất trong năm 2020. Tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế tính đến thời điểm 21/6/2021 đạt 5,47% so với cuối năm 2020. Hoạt động kinh doanh bảo hiểm tăng trưởng tích cực, doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng đầu năm 2021 tăng 17% so với cùng kỳ năm trước; thị trường chứng khoán tăng mạnh với tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế tăng 68%.
Tính đến thời điểm 21/6/2021, tổng phương tiện thanh toán tăng 3,48% so với cuối năm 2020 (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,59%); huy động vốn của các tổ chức tín dụng tăng 3,13% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 4,35%); tăng trưởng tín dụng của nền kinh tế đạt 5,47% (cùng thời điểm năm 2020 tăng 2,45%).
So với thời điểm cuối năm 2020, lãi suất trong 6 tháng đầu năm 2021 tương đối ổn định sau khi giảm mạnh trong năm 2020. Lãi suất tiền gửi bằng đồng Việt Nam ở mức 0,1%-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,1% - 3,8%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng; 4,0% - 5,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 6 tháng đến dưới 12 tháng; kỳ hạn từ 12 tháng trở lên ở mức 5,6% - 6,7%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng đồng Việt Nam đối với một số ngành, lĩnh vực ở mức 4,5%/năm; cho vay bằng đô la Mỹ bình quân ở mức 3,0%-6,0%/năm. Cơ cấu tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng trong lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro như bất động sản, các dự án BOT, BT giao thông, chứng khoán.
Tỷ giá trung tâm được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường và mục tiêu chính sách tiền tệ. Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ nhìn chung ổn định. Hoạt động thanh toán trong nền kinh tế diễn ra an toàn, hiệu quả, thông suốt; khuôn khổ pháp lý cho hoạt động thanh toán tiếp tục được hoàn thiện, thanh toán không dùng tiền mặt được đẩy mạnh.
Doanh thu phí bảo hiểm toàn thị trường 6 tháng đầu năm 2021 ước tính tăng 17% so với cùng kỳ năm trước (quý II/2020 ước tính tăng 11%), trong đó doanh thu phí bảo hiểm lĩnh vực nhân thọ tăng 22%; lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ tăng 7%. Các doanh nghiệp Bảo hiểm nhân thọ đã nỗ lực giới thiệu những sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm bảo hiểm trực tuyến nhằm giúp khách hàng bảo vệ sức khỏe và quản lý tài sản trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, số ca lây nhiễm ngày càng tăng.
Tính đến hết tháng 5/2021, doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư trở lại nền kinh tế ước tính đạt 512,9 nghìn tỷ đồng, tăng 26,7% so với cùng kỳ năm 2020; tổng tài sản của toàn thị trường bảo hiểm đạt 628,4 nghìn tỷ đồng, tăng 23,2%.
Cùng với xu hướng chung của thị trường chứng khoán thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam có nhiều dấu hiệu phục hồi tăng trưởng nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tính đến hết tháng Năm, tổng mức huy động vốn cho nền kinh tế của thị trường chứng khoán ước tính đạt 116,4 nghìn tỷ đồng, tăng 68% so với cùng kỳ năm trước. Số lượng tài khoản giao dịch đăng ký mới trên thị trường chứng khoán lũy kế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 482,8 nghìn tài khoản, gấp 3,7 lần cùng kỳ năm 2020.
Trên thị trường cổ phiếu, tại thời điểm ngày 20/6/2021, chỉ số VNIndex[22] đạt 1.377,8  điểm, tăng 3,7% so với cuối tháng trước và tăng 24,8% so với cuối năm trước; mức vốn hóa thị trường đạt 6.699,5 nghìn tỷ đồng, tăng 64,5% so với cùng thời điểm năm trước. Giá trị giao dịch bình quân trong tháng Sáu (đến ngày 20/6) đạt 32.013 tỷ đồng/phiên, tăng 265,3% so với cùng kỳ năm 2020; tính chung 6 tháng đầu năm 2021, giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đạt 22.428 tỷ đồng/phiên, tăng 302,3%. Tính đến cuối tháng 5/2021, thị trường có 758 cổ phiếu và chứng chỉ quỹ niêm yết; 922 cổ phiếu đăng ký giao dịch trên sàn UPCoM với tổng giá trị niêm yết và đăng ký giao dịch đạt gần 1.564 nghìn tỷ đồng, tăng 3% so với cuối năm 2020.
 Trên thị trường trái phiếu, tính đến cuối tháng 5/2021 có 456 mã trái phiếu niêm yết với giá trị niêm yết đạt 1.381 nghìn tỷ đồng, giảm 0,5% so với cùng kỳ năm 2020. Giá trị giao dịch bình quân trên thị trường đến 20/6/2021 đạt 11.434 tỷ đồng/phiên, tăng 46,6% so với cùng kỳ năm trước; tính chung 6 tháng, giá trị giao dịch bình quân đạt 11.622 tỷ đồng/phiên, tăng 17,2%.
Trong lĩnh vực chứng khoán phái sinh và các sản phẩm khác, quy mô giao dịch bình quân đến ngày 20/6/2021 đạt 34.121 tỷ đồng/phiên, tăng 137,8% so với cùng kỳ năm trước; lũy kế 6 tháng đầu năm 2021 đạt 24.041 tỷ đồng/phiên, tăng 90,9%; số lượng tài khoản giao dịch phái sinh (tính đến tháng 5/2021) đạt 330.2 nghìn tài khoản, tăng 182,4%.
Tính đến tháng 5/2021, các nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ 20.881 triệu cổ phiếu, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước; 632 triệu trái phiếu, tăng 0,9%; 1.076 chứng khoán khác[23], tăng 89,4%.
2. Đầu tư phát triển
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 6 tháng đầu năm 2021 theo giá hiện hành ước đạt 1.169,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều mức tăng 3% của năm 2020.  Mức tăng này phản ánh kết quả của các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công và hiệu quả các chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với cộng đồng doanh nghiệp, cũng như xu thế đón đầu dòng vốn FDI đang chuyển dịch vào Việt Nam trong bối cảnh đại dịch Covid-19 được kiểm soát. 
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý II/2021 theo giá hiện hành ước tính đạt 661,1 nghìn tỷ đồng, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó vốn khu vực Nhà nước tăng 7%; khu vực ngoài Nhà nước tăng 8,5%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 6,9%.
Ước tính 6 tháng đầu năm 2021, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành đạt 1.169,7 nghìn tỷ đồng, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 295,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,3% tổng vốn và tăng 7,3% so với cùng kỳ năm trước; khu vực ngoài Nhà nước đạt 660,1 nghìn tỷ đồng, bằng 56,4% và tăng 7,4%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 214,4 nghìn tỷ đồng, bằng 18,3% và tăng 6,7%.
 

Tốc độ phát triển và cơ cấu vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện
6 tháng đầu năm giai đoạn 2017-2021 (Theo giá hiện hành)

%

 

Tổng số

Khu vực
Nhà nước

Khu vực
ngoài Nhà nước

Khu vực có
vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

 
Tốc độ phát triển

Năm 2017

112,0

103,8

117,2

111,6

Năm 2018

109,8

101,0

115,0

109,0

Năm 2019

109,7

101,4

113,7

109,7

Năm 2020

103,0

107,3

103,5

96,2

Năm 2021

107,2

107,3

107,4

106,7

Cơ cấu

Năm 2017

100,0

28,5

51,7

19,8

Năm 2018

100,0

26,2

54,1

19,7

Năm 2019

100,0

24,2

56,1

19,7

Năm 2020

100,0

25,2

56,4

18,4

Năm 2021

100,0

25,3

56,4

18,3

 

Trong vốn đầu tư của khu vực Nhà nước, vốn từ ngân sách Nhà nước thực hiện 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 171,9 nghìn tỷ đồng, bằng 36,8% kế hoạch năm và tăng 10,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 bằng 30,5% và tăng 20,5%[24]), gồm có: Vốn trung ương quản lý đạt 27,5 nghìn tỷ đồng, bằng 35,1% kế hoạch năm và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước; vốn địa phương quản lý đạt 144,4 nghìn tỷ đồng, bằng 37,2% và tăng 9%, trong đó vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 98,1 nghìn tỷ đồng, bằng 35,9% và tăng 11,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 39,2 nghìn tỷ đồng, bằng 38,6% và tăng 4,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 7,1 nghìn tỷ đồng, bằng 51,1% và giảm 2,9%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/6/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 15,27 tỷ USD, giảm 2,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 804 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt gần 9,55 tỷ USD, giảm 43,3% về số dự án và tăng 13,2% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 460 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4,12 tỷ USD, tăng 10,6%; có 1.855 lượt góp vốn mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn 1,60 tỷ USD, giảm 54,3%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 624 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 772,7 triệu USD và 1.231 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 832,9 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 9,24 tỷ USD, tăng 6,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,65 tỷ USD, chiếm 72% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,28 tỷ USD, chiếm 13,8%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 691,1 triệu USD, chiếm 7,5%.
Trong 6 tháng đầu năm nay, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt gần 5 tỷ USD, chiếm 52,3% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3,1 tỷ USD, chiếm 32,4%; các ngành còn lại đạt 1,46 tỷ USD, chiếm 15,3%. Nếu tính cả vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 6,49 tỷ USD, chiếm 47,5% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5,25 tỷ USD[25], chiếm 38,4%; các ngành còn lại đạt 1,93 tỷ USD, chiếm 14,1%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 489 triệu USD, chiếm 30,4% giá trị góp vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 290,7 triệu USD, chiếm 18,1%; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ đạt 256,3 triệu USD, chiếm 16%; các ngành còn lại 569,6 triệu USD, chiếm 35,5%.
Trong số 55 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 6 tháng đầu năm, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4,74 tỷ USD, chiếm 49,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nhật Bản 1,66 tỷ USD, chiếm 17,4%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 856,4 triệu USD, chiếm 9%; Trung Quốc 678,1 triệu USD, chiếm 7,1%; Hàn Quốc 573 triệu USD, chiếm 6%; Hoa Kỳ 300,6 triệu USD, chiếm 3,1%.
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 6 tháng đầu năm 2021 có 24 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 143,8 triệu USD, bằng 77,6% so với cùng kỳ[26]; có 9 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 403,2 triệu USD, tăng 10,8 lần so với cùng kỳ[27]. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 547 triệu USD, tăng gần 2,5 lần so với cùng kỳ năm trước, trong đó hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 270,8 triệu USD, chiếm 49,5% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 148,6 triệu USD, chiếm 27,2%; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 76,9 triệu USD, chiếm 14,1%. Trong 6 tháng đầu năm có 15 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ là nước dẫn đầu với 302,8 triệu USD, chiếm 55,4% tổng vốn đầu tư; Cam-pu-chia 89,2 triệu USD, chiếm 16,3%; Ca-na-da 32,1 triệu USD, chiếm 5,9%; Pháp, Đức, Hà Lan cùng đạt 32 triệu USD, cùng chiếm 5,8%.
3. Thu, chi ngân sách Nhà nước
Tiến độ thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 đạt khá trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, ước tính đạt 57,7% dự toán năm. Chi ngân sách được thực hiện theo dự toán và tiến độ triển khai nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách, ưu tiên chi cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19.
Tổng thu ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 775 nghìn tỷ đồng, bằng 57,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 633,1 nghìn tỷ đồng, bằng 55,9%; thu từ dầu thô 18,5 nghìn tỷ đồng, bằng 79,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 122,8 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước bằng 52,9% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) bằng 57,1%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước bằng 58,7%.
Tổng chi ngân sách Nhà nước 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 694,4 nghìn tỷ đồng, bằng 41,2% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 501 nghìn tỷ đồng, bằng 48,3%; chi đầu tư phát triển 133,9 nghìn tỷ đồng, bằng 28,1%; chi trả nợ lãi 56,8 nghìn tỷ đồng, bằng 51,6%.
4. Xuất, nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ
a) Xuất nhập khẩu hàng hóa[28]
Trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 tiếp tục có những diễn biến phức tạp, lan rộng ra nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước, đã tác động đến hoạt động sản xuất của một số doanh nghiệp trong khu công nghiệp, kim ngạch xuất, nhập khẩu tháng 6 giảm nhẹ so với tháng trước, tuy nhiên vẫn đạt tăng trưởng khá so với cùng kỳ năm trước. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 54 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 316,73 tỷ USD, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4%; nhập khẩu đạt 159,1 tỷ USD, tăng 36,1%[29]. Cán cân thương mại 6 tháng đầu năm 2021 ước tính nhập siêu 1,47 tỷ USD.
Xuất khẩu hàng hóa
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 5/2021 đạt 26,19 tỷ USD, cao hơn 193 triệu USD so với số ước tính.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 26,5 tỷ USD, tăng 1,2% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,58 tỷ USD, tăng 5,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 18,92 tỷ USD, giảm 0,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Sáu tăng 17,3%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 18,6%.
Trong quý II/2021, kim ngạch xuất khẩu đạt 79,23 tỷ USD, tăng 33,5% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,1% so với quý I năm nay. Trong quý II có 12 mặt hàng đạt giá trị xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 75,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó mặt hàng điện tử máy tính và linh kiện dẫn đầu với 11,8 tỷ USD, chiếm 14,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 14% so với cùng kỳ năm trước; điện thoại và linh kiện đạt 10,7 tỷ USD, tăng 17,9%; hàng dệt may đạt 8 tỷ USD, tăng 30,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 7,9 tỷ USD, tăng 50%; giày, dép đạt 5,6 tỷ USD, tăng 41,6%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 40,89 tỷ USD, tăng 16,8%, chiếm 25,9% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 116,74 tỷ USD, tăng 33%, chiếm 74,1%.
Trong 6 tháng đầu năm 2021 có 25 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 88,9% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 58%), trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 25,1 tỷ USD, chiếm 15,9% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 23,7 tỷ USD, tăng 22,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 17 tỷ USD, tăng 63,4%; hàng dệt may đạt 15,2 tỷ USD, tăng 14,9%; giày dép đạt 10,4 tỷ USD, tăng 27,8%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 8,1 tỷ USD, tăng 61,1%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 5,4 tỷ USD, tăng 42,8%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,2%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 98,1%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 92,6%; giày dép chiếm 82,4%; hàng dệt may 63,5%. Kim ngạch xuất khẩu 6 tháng một số mặt hàng nông, thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 4,1 tỷ USD, tăng 12,5%; rau quả đạt 2,1 tỷ USD, tăng 17,7%; hạt điều đạt 1,7 tỷ USD, tăng 11,1% (lượng tăng 22,2%); cao su đạt 1,1 tỷ USD, tăng 80% (lượng tăng 41,3%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 614 triệu USD, tăng 30,5% (lượng tăng 16,3%); hạt tiêu đạt 499 triệu USD, tăng 40,5% (mặc dù lượng giảm 6,7% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng do giá xuất khẩu tăng); chè đạt 95 triệu USD, tăng 4,5% (lượng tăng 0,1%). Riêng mặt hàng gạo đạt 1,6 tỷ USD, giảm 4,7% (lượng giảm 14,8%); cà phê đạt 1,5 tỷ USD, giảm 4,5% (lượng giảm 12,3%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 6 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 84 tỷ USD, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 53,3% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 58 tỷ USD, tăng 31,2% và chiếm 36,8% (tăng 0,8 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 11,58 tỷ USD, tăng 15,8% và chiếm 7,3% (giảm 0,8 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 4,05 tỷ USD, tăng 12,4% và chiếm 2,6% (giảm 0,4 điểm phần trăm).
Về thị trường xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2021, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 44,9 tỷ USD, tăng 42,6% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 24,4 tỷ USD, tăng 24%. Thị trường EU đạt 19,3 tỷ USD, tăng 17,4%. Thị trường ASEAN đạt 13,8 tỷ USD, tăng 26%. Hàn Quốc đạt 10,5 tỷ USD, tăng 14,7%. Nhật Bản đạt 9,9 tỷ USD, tăng 6,9%.
Nhập khẩu hàng hóa
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 5/2021 đạt 28,27 tỷ USD, cao hơn 267 triệu USD so với số ước tính.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 6/2021 ước tính đạt 27,5 tỷ USD, giảm 2,7% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,9 tỷ USD, giảm 3,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,6 tỷ USD, giảm 2,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Sáu tăng 33,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 27,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 37,2%.
Trong quý II/2021, kim ngạch nhập khẩu đạt 83,5 tỷ USD, tăng 45,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 10,4% so với quý I năm nay. Trong quý II có 18 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 76,1% tổng trị giá nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt giá trị cao nhất với 16,8 tỷ USD (chiếm 20,1% tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu), tăng 25,6% so với quý cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 12,1 tỷ USD, tăng 43,4%; vải đạt 4,3 tỷ USD, tăng 50,4%; điện thoại và linh kiện đạt 4,1 tỷ USD, tăng 51,1%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 159,1 tỷ USD, tăng 36,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 55,9 tỷ USD, tăng 30,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 103,2 tỷ USD, tăng 39,5%.
Trong 6 tháng đầu năm 2021 có 31 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 87,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 33,3 tỷ USD (chiếm 20,9% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 22,9% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 22,9 tỷ USD, tăng 37,3%; điện thoại và linh kiện đạt 8,9 tỷ USD, tăng 48,7%; vải đạt 7,3 tỷ USD, tăng 32,3%; chất dẻo đạt 6,1 tỷ USD, tăng 54,9%; sắt thép đạt 5,7 tỷ USD, tăng 40,8%; kim loại thường đạt 4,5 tỷ USD, tăng 59,9%; ô tô đạt 4,5 tỷ USD, tăng 78,4%; sản phẩm chất dẻo đạt 4 tỷ USD, tăng 22%.
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 149,32 tỷ USD, tăng 36,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,9% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 72 tỷ USD, tăng 33% và chiếm 45,2% (giảm 1 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 77,35 tỷ USD, tăng 40,2% và chiếm 48,6% (tăng 1,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 9,78 tỷ USD, tăng 28% và chiếm 6,1% (giảm 0,4 điểm phần trăm).
Về thị trường nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2021, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 53,4 tỷ USD, tăng 53% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 25,2 tỷ USD, tăng 21,1%. Thị trường ASEAN đạt 20,9 tỷ USD, tăng 47,7%. Nhật Bản đạt 10,6 tỷ USD, tăng 12,3%. Thị trường EU đạt 8,1 tỷ USD, tăng 16,3%. Hoa Kỳ đạt 7,7 tỷ USD, tăng 9,5%.
Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Năm nhập siêu 2,07 tỷ USD[30]; 5 tháng nhập siêu 0,47 tỷ USD; tháng Sáu ước tính nhập siêu 1 tỷ USD. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 1,47 tỷ USD[31] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 5,86 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 15,01 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 13,54 tỷ USD.
b) Xuất, nhập khẩu dịch vụ
Trong quý II/2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ đạt 891 triệu USD, giảm 18,6% so với cùng kỳ năm trước (quý I giảm 80,6%); kim ngạch nhập khẩu dịch vụ đạt 4,8 tỷ USD, tăng 18,3% (quý I giảm 3,4%).
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ ước tính đạt 1,77 tỷ USD, giảm 68,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 82 triệu USD (chiếm 4,6% tổng kim ngạch), giảm 97,4%; dịch vụ vận tải đạt 147 triệu USD (chiếm 8,3%), giảm 80,8%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ 6 tháng đầu năm nay ước tính đạt 9,47 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 4,8 tỷ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 32,7%; dịch vụ du lịch đạt 1,8 tỷ USD (chiếm 19%), giảm 25,9%. Nhập siêu dịch vụ trong 6 tháng đầu năm 2021 là 7,7 tỷ USD.
5. Chỉ số giá
Giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng theo giá thế giới; giá điện, nước sinh hoạt tăng theo nhu cầu tiêu dùng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với tháng 6/2020. Bình quân 6 tháng đầu năm 2021, CPI tăng 1,47% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[32]; lạm phát cơ bản 6 tháng tăng 0,87%.
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2021 tăng 0,19% so với tháng trước, trong đó: 8 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 2 nhóm có chỉ số giá giảm và 1 nhóm giữ giá ổn định. Nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 1,07% (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 12/5/2021, ngày 11/6/2021 và ngày 26/6/2021 làm chỉ số giá xăng tăng 3,45%, dầu diezen tăng 4,71%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,63% (làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm) chủ yếu do các đợt nắng nóng trong tháng làm chỉ số giá điện, nước sinh hoạt lần lượt tăng 1% và tăng 0,26%, bên cạnh đó giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,26% theo giá nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào[33]; giá gas tăng 3,85% do giá gas trong nước điều chỉnh; giá dầu hỏa tăng 4,95%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,11% và nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,1% chủ yếu do thời tiết khi vào hè làm nhu cầu tiêu dùng đồ uống giải khát và sử dụng các mặt hàng như tủ lạnh, máy điều hòa nhiệt độ, quạt điện tăng cao. Nhóm giáo dục tăng 0,03%, trong đó giá văn phòng phẩm tăng 0,2%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% do thời tiết nắng nóng, người dân dễ mắc bệnh hô hấp và cảm cúm nên nhu cầu mua các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch tăng làm giá thuốc các loại tăng 0,05%. Nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,01%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,06%. Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13% (làm CPI chung giảm 0,04 điểm phần trăm) do giá lương thực, thực phẩm giảm khi nguồn cung dồi dào, trong đó: Lương thực giảm 0,28%[34]; thực phẩm giảm 0,19%[35]; riêng ăn uống ngoài gia đình tăng 0,07%[36]. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 giảm 0,08% do giá dịch vụ du lịch trọn gói giảm 0,05%, giá cây, hoa cảnh giảm 2,91%. Riêng nhóm may mặc, mũ nón, giày dép không đổi.
Tính chung quý II/2021, CPI tăng 0,45% so với quý trước và tăng 2,67% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó giao thông tăng 18,12% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục tăng 4,09%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,63%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,98%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,55%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,15%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,7%. Có 2 nhóm có chỉ số giá giảm so với cùng kỳ năm trước là bưu chính viễn thông giảm 0,82%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,58%.
CPI tháng 6/2021 tăng 1,62% so với tháng 12/2020 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2020. CPI bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 1,47% so với bình quân cùng kỳ năm 2020. CPI 6 tháng đầu năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước do một số nguyên nhân chủ yếu sau: (i) Giá xăng dầu trong nước tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,61 điểm phần trăm), giá gas tăng 16,51% (làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm); (ii) Giá dịch vụ giáo dục tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm) do ảnh hưởng từ đợt tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ; (iii) Giá gạo tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung tăng 0,18 điểm phần trăm) do giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán tăng cao; (iv) Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào (làm CPI chung tăng 0,1 điểm phần trăm).
Bên cạnh đó, có một số yếu tố góp phần kiềm chế tốc độ tăng CPI 6 tháng đầu năm 2021: (i) Giá các mặt hàng thực phẩm giảm 0,39% so với cùng kỳ năm trước (làm CPI chung giảm 0,08 điểm phần trăm); (ii) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19 như gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) đã giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng trong quý II (bắt đầu giảm từ tháng 5/2020) và quý IV năm 2020 (được thực hiện vào tháng 1/2021) nên giá điện sinh hoạt bình quân 6 tháng đầu năm 2021 giảm 3,06% so với cùng kỳ năm 2020 (làm CPI chung giảm 0,1 điểm phần trăm); (iii) Nhu cầu đi lại, du lịch của người dân giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm giá của nhóm du lịch trọn gói giảm 2,85% so với cùng kỳ năm trước; giá cước vận tải của các loại phương tiện như tàu hỏa, máy bay giảm[37];  (iv) Các cấp, các ngành tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid-19 và ổn định giá cả thị trường.
Lạm phát cơ bản tháng 6/2021 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,14% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 0,87% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới. Giá vàng thế giới giảm sau khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) đưa ra thông tin có khả năng điều chỉnh lãi suất sớm hơn trong năm 2023 thay vì tăng từ năm 2024. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 25/6/2021 giảm 0,67% so với tháng 5/2021. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 6/2021 tăng 1,12% so với tháng trước; tăng 0,23% so với tháng 12/2020 và tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2020.
Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tiếp tục đà phục hồi sau khi FED phát đi tín hiệu sẽ sớm thực hiện việc điều chỉnh chính sách tiền tệ nới lỏng. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 6/2021 giảm 0,3% so với tháng trước; giảm 0,32% so với tháng 12/2020 và giảm 0,87% so với cùng kỳ năm 2020.
c) Chỉ số giá sản xuất
Kinh tế thế giới bước vào giai đoạn phục hồi; Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ và các nước đồng minh tiếp tục duy trì mức sản lượng khai thác dầu dưới mức nhu cầu sử dụng của thế giới là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá sản xuất hàng hóa và dịch vụ, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất, chỉ số giá xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa trong 6 tháng đầu năm 2021 đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tỷ giá thương mại hàng hóa 6 tháng đầu năm giảm 0,99% so với cùng kỳ năm 2020 phản ánh giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam ra nước ngoài không thuận lợi so với giá nhập khẩu hàng hóa từ nước ngoài về Việt Nam.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản quý II/2021 tăng 0,24% so với quý trước và tăng 3,87% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 0,18% và tăng 4,47%; lâm nghiệp tăng 0,55% và tăng 0,73%; thủy sản tăng 0,41% và tăng 2,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,23% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm nông nghiệp tăng 5,63%; lâm nghiệp tăng 0,3%; thủy sản tăng 0,48%.
Chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp quý II/2021 tăng 1,4% so với quý trước và tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 4,97% và tăng 25,01%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,14% và tăng 2,7%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 2,79% và tăng 2,81%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,82% và tăng 1,53%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp tăng 1,82% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó chỉ số giá sản xuất sản phẩm khai khoáng tăng 9,98%; sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,64%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,52%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,54%.
Chỉ số giá sản xuất dịch vụ quý II/2021 tăng 0,01% so với quý trước và tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá sản xuất dịch vụ của một số ngành như sau: Dịch vụ vận tải, kho bãi giảm 0,38% và tăng 3,09%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,22% và tăng 1,27%; thông tin và truyền thông tăng 0,1% và tăng 0,9%; giáo dục và đào tạo tăng 0,04% và tăng 3,29%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,22% và tăng 0,42%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 0,15% và tăng 0,54%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá sản xuất dịch vụ tăng 0,89% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó dịch vụ vận tải, kho bãi tăng 0,21%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 0,66%; thông tin và truyền thông giảm 0,59%; giáo dục và đào tạo tăng 3,23%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 0,33%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 0,48%.
d) Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất
Chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất quý II/2021 tăng 1,58% so với quý trước và tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,29% và tăng 7,25%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,56% và tăng 4,84%; dùng cho xây dựng tăng 2,12% và tăng 6,42%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nguyên nhiên vật liệu dùng cho sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 6,83%; dùng cho sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,97%; dùng cho xây dựng tăng 3,91%.
e) Chỉ số giá xuất, nhập khẩu hàng hóa
Chỉ số giá xuất khẩu hàng hoá quý II/2021 tăng 1,29% so với quý trước và tăng 2,77% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 0,93% và tăng 3,66%; nhóm nhiên liệu tăng 9,5% và tăng 27,29%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,04% và tăng 1,79%. Chỉ số giá xuất khẩu quý II so với quý trước và so với cùng kỳ năm trước của một số mặt hàng như sau: Sắt thép tăng 13,8% và tăng 26,01%; dầu thô tăng 11,13% và tăng 29,99%; xăng, dầu các loại tăng 7,66% và tăng 28,57%; phân bón tăng 5,25% và tăng 11,58%; máy ảnh, máy quay phim và linh kiện giảm 1,41% và tăng 0,3%; hạt điều giảm 0,18% và tăng 3,95%; gạo giảm 0,02% và tăng 8,98%. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa tăng 1,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 2,1%; nhóm nhiên liệu tăng 1,31%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,09%. Chỉ số giá xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2021 của một số mặt hàng: Sắt thép tăng 14,88%; gạo tăng 10,24%; hàng may mặc tăng 9,23%; phân bón tăng 7,1%; xăng, dầu các loại tăng 6,81%; điện thoại di động và linh kiện giảm 2,52%; hàng thủy sản giảm 1,57%; dây và cáp điện giảm 0,4%. 
Chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá quý II/2021 tăng 1,3% so với quý trước và tăng 3,28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ số giá nhập khẩu của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 1,9% và tăng 2,85%; nhóm nhiên liệu tăng 5,08% và tăng 31,2%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,09% và tăng 2,12%. Chỉ số giá nhập khẩu quý II của một số mặt hàng như sau: Cao su nguyên liệu tăng 7,19% so với quý trước và tăng 12,44% so với cùng kỳ năm trước; lúa mỳ tăng 7,04% và tăng 9,93%; sắt thép tăng 6,2% và tăng 10,99%; xăng dầu các loại tăng 5,42% và tăng 35,95%; ô tô nguyên chiếc các loại giảm 0,49% và giảm 1,46%; phân bón các loại giảm 0,47% và giảm 1,07%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 0,33% và tăng 1,49%. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, chỉ số giá nhập khẩu hàng hoá tăng 2,24% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó chỉ số giá của nhóm nông sản, thực phẩm tăng 2,33%; nhóm nhiên liệu tăng 20,95%; nhóm hàng hóa chế biến, chế tạo khác tăng 1,4%. Chỉ số giá nhập khẩu 6 tháng của một số mặt hàng: Xăng dầu các loại tăng 25,11%; khí đốt hóa lỏng tăng 21,35%; thức ăn gia súc và nguyên liệu tăng 8,71%; cao su nguyên liệu tăng 8,69%; sắt thép tăng 7,65%; hóa chất tăng 5,18%; linh kiện, phụ tùng ô tô giảm 2,88%; sản phẩm từ cao su giảm 2,51%; ô tô nguyên chiếc các loại giảm 2,37%.
Tỷ giá thương mại hàng hóa[38] quý II/2021 giảm 0,01% so với quý trước và giảm 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tỷ giá thương mại hàng hoá giảm 0,99% so với cùng kỳ năm trước, trong đó tỷ giá thương mại hàng hóa của mặt hàng xăng dầu các loại giảm 14,62%; hóa chất giảm 4,93%; cao su giảm 3,82%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 1,34%; hàng thủy sản giảm 1,06%; hàng rau quả giảm 0,86%; gỗ và sản phẩm gỗ tăng 0,98%; sắt, thép tăng 6,71%.
III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ XÃ HỘI
1. Lao động, việc làm
Do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp ở một số địa phương nên tình hình lao động, việc làm quý II/2021 chịu ảnh hưởng, lao động đang làm việc trong nền kinh tế giảm so với quý trước, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm trong độ tuổi lao động đều tăng[39]. Tuy nhiên, tính chung 6 tháng đầu năm 2021, lao động đang làm việc trong nền kinh tế vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm và thu nhập của người làm công hưởng lương tăng[40].
Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước quý II/2021 ước tính là 51,1 triệu người, tăng 44,7 nghìn người so với quý trước và tăng 1,7 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 51 triệu người, tăng 737,7 nghìn người so với cùng kỳ năm 2020. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động 6 tháng đầu năm 2021 ước tính đạt 68,6%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước.
Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động quý II/2021 ước tính là 45,1 triệu người, giảm 50,2 nghìn người so với quý trước và tăng 823,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lao động nam 24,9 triệu người, chiếm 55,2% tổng số và lao động nữ 20,2 triệu người, chiếm 44,8%; lao động khu vực thành thị là 16,9 triệu người, chiếm 37,6% và khu vực nông thôn là 28,2 triệu người, chiếm 62,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là 45,2 triệu người, giảm 90,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý II/2021 ước tính 49,8 triệu người, bao gồm 13,8 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 27,6% tổng số; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,6 triệu người, chiếm 33,4%; khu vực dịch vụ 19,4 triệu người, chiếm 39%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc là 49,9 triệu người, bao gồm 13,9 triệu người đang làm việc ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, chiếm 27,9% tổng số, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng 16,4 triệu người, chiếm 32,8%, tăng 0,5%; khu vực dịch vụ 19,6 triệu người, chiếm 39,3%, tăng 2,4%.
Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước 6 tháng đầu năm ước tính là 2,30% (quý I là 2,19%; quý II là 2,40%), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,07%; khu vực nông thôn là 1,86%[41]. Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm ước tính là 2,52% (quý I là 2,42%; quý II là 2,62%), trong đó tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,28%; khu vực nông thôn là 2,07%[42]. Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên (từ 15-24 tuổi) 6 tháng ước tính là 7,45%, trong đó khu vực thành thị là 9,97%; khu vực nông thôn là 6,22%.
Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi quý I/2021 là 2,20%; quý II là 2,60%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 2,58%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làm khu vực thành thị là 2,64%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 2,54% (tỷ lệ thiếu việc làm 6 tháng đầu năm 2020 tương ứng là 2,33%; 1,70%; 2,65%).
Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản[43] quý I/2021 là 57,1%; quý II ước tính là 57,4%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức ngoài hộ nông, lâm nghiệp, thủy sản ước tính là 57,2%. Tỷ lệ này tính riêng trong khu vực thành thị 6 tháng đầu năm 2021 là 48,5% và trong khu vực nông thôn là 64,5% (6 tháng đầu năm 2020 tương ứng là 55,5%; 47,3%; 62,1%).
Thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương trong quý II/2021 là 6,8 triệu đồng/tháng, giảm 410,8 nghìn đồng so với quý trước và tăng 454,6 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước, trong đó thu nhập của lao động nam là 7,3 triệu đồng/tháng, lao động nữ là 6,2 triệu đồng/tháng. Tính chung 6 tháng đầu năm, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương là 7 triệu đồng/tháng, tăng 281,7 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước.
2. Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội
Trong 6 tháng đầu năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19, các địa phương vẫn tiếp tục phấn đấu thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe người dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế-xã hội như: Sản xuất nông nghiệp có nhiều khởi sắc, các doanh nghiệp có những biện pháp kịp thời vừa đảm bảo chống dịch vừa thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đồng thời các địa phương triển khai nhiều hình thức tạo việc làm, trợ cấp thất nghiệp cho người lao động, trợ cấp cho người dân trong vùng chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh. Vì vậy đời sống của nhân dân nhìn chung vẫn được giữ ổn định.
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến hết tháng 5/2021, cả nước có 5.282 xã và 191 huyện đạt chuẩn nông thôn mới; có 335 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 32 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; 12 tỉnh có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 4 tỉnh (Nam Định, Đồng Nai, Hưng Yên, Hà Nam) đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận tỉnh hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.
Công tác an sinh xã hội tiếp tục được quan tâm, trong 6 tháng đầu năm 2021, tổng trị giá tiền và quà hỗ trợ cho các đối tượng là 6.906 tỷ đồng, trong đó, hỗ trợ cho các đối tượng người có công, thân nhân người có công là 2.540,9 tỷ đồng, hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo là 1.354,7 tỷ đồng; [44]hỗ trợ cứu đói và các đối tượng bảo trợ xã hội là 1.958,4 tỷ đồng; hỗ trợ các đối tượng khác là 1.052 tỷ đồng. Có hơn 30 triệu thẻ bảo hiểm xã hội/sổ/thẻ khám chữa bệnh miễn phí được phát, tặng cho các đối tượng thụ hưởng.
3. Giáo dục, đào tạo
Đợt dịch Covid-19 lần thứ tư bùng phát vào đúng thời điểm các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên đang chuẩn bị kết thúc năm học. Trước tình hình đó, các địa phương đã chủ động, kịp thời chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch thời gian năm học để vừa bảo đảm phòng, chống dịch bệnh Covid-19 vừa hoàn thành năm học 2020-2021.
Năm học 2020-2021, cả nước có 15.547 trường mẫu giáo, tăng 506 trường so với năm học trước; 26.403 trường phổ thông, giảm 186 trường, bao gồm: 12.693 trường tiểu học, giảm 268 trường; 8.846 trường trung học cơ sở, giảm 201 trường; 2.373 trường trung học phổ thông, tăng 2 trường; 1.962 trường phổ thông cơ sở, tăng 239 trường và 529 trường trung học, tăng 42 trường. Số giáo viên mẫu giáo là 282 nghìn người, tăng 5,1% so với năm học trước; số giáo viên phổ thông trực tiếp giảng dạy là 818 nghìn người, tăng 1,7%, bao gồm: 385,4 nghìn giáo viên tiểu học, tăng 2%; 287,4 nghìn giáo viên trung học cơ sở, tăng 1,1% và 145,2 nghìn giáo viên trung học phổ thông, tăng 1,9%. Cũng trong năm học này, cả nước có 4,3 triệu trẻ em đi học mẫu giáo, tăng 0,3% so với năm học trước; 17,5 triệu học sinh phổ thông, tăng 3,5%, bao gồm: 8,9 triệu học sinh tiểu học, tăng 2%; 5,9 triệu học sinh trung học cơ sở, tăng 5,8% và 2,7 triệu học sinh trung học phổ thông, tăng 3,8%.
Kỳ thi trung học phổ thông quốc gia năm 2020-2021 có hơn 1 triệu thí sinh đăng ký dự thi, trong đó 3/4 thí sinh đăng ký xét tuyển đại học, cao đẳng. Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ tổ chức thành 2 đợt, đợt 1 vào 07-08/7/2021, đợt 2 cho các đối tượng thí sinh không thể tham dự kỳ thi đợt 1 do ảnh hưởng của dịch Covid-19.
Giáo dục nghề nghiệp năm 2020 có 3.005 cơ sở, giảm 0,6% so với năm 2019, trong đó có 1.345 cơ sở công lập, giảm 6,7%; 1.660 cơ sở ngoài công lập, tăng 4,9%. Trong 6 tháng đầu năm 2021, các cơ sở dạy nghề trên địa bàn cả nước đã tuyển sinh được 645 nghìn người, đạt 27,2% so với kế hoạch năm, trong đó các trường cao đẳng và trung cấp nghề tuyển sinh được 45 nghìn người, đạt 7,5%; sơ cấp nghề và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác tuyển sinh 600 nghìn người, đạt 34% kế hoạch năm.
4. Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
Trong tháng (19/5-18/6/2021), cả nước có 5.926 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 3.793 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (4 trường hợp tử vong); 53 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (1 trường hợp tử vong) và 74 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 12 trường hợp dương tính. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cả nước có 29.746 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (5 trường hợp tử vong); 36.593 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (11 trường hợp tử vong); 302 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (5 trường hợp tử vong); 13 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong) và 309 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 39 trường hợp dương tính.
Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[45]. Tại Việt Nam, dịch Covid-19 đang tiếp tục được kiểm soát nhưng cục bộ tại một số địa phương như Thành phố Hồ Chí Minh, Bắc Giang, Bắc Ninh, Bình Dương đang diễn biến phức tạp, khó dự báo và một số tỉnh có nguy cơ cao có thể bùng phát trở lại. Tính đến trưa ngày 28/6/2021 Việt Nam có 15.643 trường hợp mắc, 6.319 trường hợp đã được chữa khỏi (76 trường hợp tử vong).
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/6/2021 là 212.422 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 90.160 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 104.016 người.
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Sáu xảy ra 8 vụ với 100 người bị ngộ độc (1 trường hợp tử vong). Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, cả nước xảy ra 42 vụ với 902 người bị ngộ độc (5 người tử vong).
5. Hoạt động văn hóa, thể thao
Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể luôn được các địa phương quan tâm, đầu tư, nhằm phát huy được giá trị di sản, tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được triển khai rộng khắp trên cả nước đã tạo dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống.
Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; góp phần nâng cao nhận thức của người dân về vị trí, vai trò, tác dụng của tập luyện thể dục thể thao trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực, giáo dục đạo đức, ý chí, nhân cách cũng như đẩy lùi các tệ nạn xã hội, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Về thể thao thành tích cao: Theo kế hoạch, SEA Games 31 sẽ tổ chức tại Việt Nam từ ngày 21/11/2021 đến ngày 02/12/2021. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên công tác chuẩn bị cho hoạt động này phải đối mặt với nhiều khó khăn. Dịch bệnh không chỉ diễn biến phức tạp ở Việt Nam mà còn nhiều nước trong khu vực nên việc đảm bảo an toàn cho các thành viên tham dự sẽ là thách thức lớn cho Ban Tổ chức, nhất là địa điểm cách ly, nơi luyện tập cho vận động viên. Với ưu tiên hàng đầu là đảm bảo an toàn sức khỏe tuyệt đối cho thành viên các đoàn tham dự, ngành Thể dục thể thao đang cân nhắc nhiều phương án để chọn phương án tối ưu.
Thể thao thành tích cao của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2021 đạt được một số kết quả ấn tượng: Đội tuyển bóng đá nam Việt Nam đã hoàn thành mục tiêu lịch sử là đạt vé vào vòng loại thứ 3 World Cup 2022; đội tuyển Taekwondo Việt Nam tham dự giải vô địch Taekwondo châu Á diễn ra từ 16-18/6/2021 tại Li-băng, xuất sắc giành 1 huy chương vàng và 1 huy chương bạc.
6. Tai nạn giao thông[46]
Trong tháng Sáu (từ 15/5-14/6/2021), trên địa bàn cả nước xảy ra 825 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 539 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 286 vụ va chạm giao thông, làm 436 người chết, 253 người bị thương và 275 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 14,2% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 13,9% và số vụ va chạm giao thông giảm 14,9%); số người chết giảm 11,2% và số người bị thương giảm 20,4% và số người bị thương nhẹ giảm 23%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Sáu giảm 27,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 14,7% và số vụ va chạm giao thông giảm 43,1%); số người chết giảm 10,8%; số người bị thương giảm 26,5% và số người bị thương nhẹ giảm 47,8%.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 6.007 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 3.887 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.120 vụ va chạm giao thông, làm 3.092 người chết, 2.032 người bị thương và 2.284 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 6 tháng đầu năm nay giảm 11,5% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 0,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 27,5%); số người chết giảm 4,6%; số người bị thương tăng 5,2% và số người bị thương nhẹ giảm 24,1%. Bình quân 1 ngày trong 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông, gồm 21 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 12 vụ va chạm giao thông, làm 17 người chết, 11 người bị thương và 13 người bị thương nhẹ.
7. Thiệt hại do thiên tai
Thiên tai xảy ra trong tháng (từ ngày 19/5-18/6/2021) chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lớn, bão, hạn hán làm 7 người chết; 13 người bị thương; 23,6 nghìn ha lúa và 5,3 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 101 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và gần 2,7 nghìn ngôi nhà bị ngập hư hại, thiệt hại ước tính 112 tỷ đồng (trong đó thiệt hại do bão là gần 25 tỷ đồng, chiếm 22,3%), giảm 83,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, thiên tai làm 34 người chết và mất tích, 51 người bị thương; 6,6 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; 47,5 nghìn ha lúa và 12,4 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 238 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 7,7 nghìn ngôi nhà bị ngập hư hại; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 508,7 tỷ đồng, giảm 89,3% so với cùng kỳ năm trước.
8. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Trong tháng 6/2021, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.467 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.350 vụ với tổng số tiền phạt 26,5 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm nay đã phát hiện 9.082 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 8.006 vụ với tổng số tiền phạt 120,3 tỷ đồng.
Trong tháng[47], cả nước xảy ra 191 vụ cháy, nổ, làm 8 người chết và 9 người bị thương, thiệt hại ước tính 20,2 tỷ đồng. Tính chung 6 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.157 vụ cháy, nổ, làm 56 người chết và 84 người bị thương, thiệt hại ước tính 287 tỷ đồng.
Khái quát lại, trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn còn diễn biến phức tạp, tuy nhiên bức tranh kinh tế - xã hội Việt Nam 6 tháng đầu năm 2021 tiếp tục duy trì ổn định và đạt được những kết quả tích cực trên các lĩnh vực là do sự chỉ đạo, điều hành kịp thời, quyết liệt và rất sát sao của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước. Các cơ quan, cả Trung ương và địa phương đã thực hiện tốt, có hiệu quả công tác phòng, chống dịch, thành lập Quỹ Vắc-xin phòng chống Covid-19 để tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn viện trợ, hỗ trợ mua và tự nghiên cứu, sản xuất vắc-xin, tiêm phòng miễn phí cho người dân nhằm quyết tâm đạt mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2021 cao nhất có thể. Nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng 5,64%, đây là mức tăng trưởng khá so với các nước trong khu vực và trên thế giới, kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp. Cung cầu hàng hóa trong nước được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng và xuất khẩu tăng cao. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng khá cao khẳng định chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2021. Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công được cải thiện rõ rệt, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt mức cao. Lao động việc làm trong 6 tháng đầu năm được duy trì so với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động và thu nhập bình quân của người làm công hưởng lương giữ được ổn định; an sinh xã hội được quan tâm thực hiện.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, bước sang quý III, kinh tế - xã hội nước ta còn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nhất là nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn nên chịu tác động đan xen nhiều mặt bởi tình hình kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, khó lường. Mặc dù tiêm chủng vắc-xin Covid-19 được nhiều nước trên thế giới triển khai mạnh mẽ nhưng sự khác biệt giữa tỷ lệ tiêm chủng của các quốc gia và khu vực dẫn đến nguy cơ phục hồi không đồng đều và mong manh của kinh tế thế giới, làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, ảnh hưởng tới các ngành thương mại, du lịch, vận tải, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm gia tăng sẽ ảnh hưởng đến an sinh xã hội. Do đó, kinh tế Việt Nam 6 tháng cuối năm 2021 tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, việc thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép” là thách thức lớn, cần sự chung sức, đồng lòng của Chính phủ, doanh nghiệp và người dân. Trước mắt, cần thực hiện kiểm soát tốt dịch Covid-19, nhanh chóng triển khai tiêm vắc-xin phòng Covid-19, cùng với đó là nghiên cứu để chủ động được nguồn vắc-xin trong dài hạn, tiếp tục thực hiện các giải pháp doanh nghiệp có thể tiếp cận nhanh chóng, hiệu quả các gói hỗ trợ, tăng tốc độ giải ngân vốn đầu tư công. Đồng thời, tập trung một số nội dung trọng tâm sau đây:
Một là, tiếp tục kiên định thực hiện hiệu quả “mục tiêu kép”, vừa quyết liệt phòng chống Covid-19 hiệu quả, bảo vệ sức khỏe nhân dân, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và người lao động, kết hợp với cải cách thể chế kinh tế. Triển khai mạnh mẽ, quyết liệt, hiệu quả chiến lược vắc-xin; có cơ chế, chính sách để khuyến khích nghiên cứu, sản xuất vắc-xin; cơ chế đóng góp và sử dụng Quỹ vắc-xin bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan, huy động mọi nguồn lực và đóng góp của toàn dân, doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Phấn đấu tối đa tỷ lệ người dân Việt Nam được tiêm chủng đầy đủ vacxin; đặc biệt ưu tiên cho những đối tượng là lao động tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, lao động tại các hệ thống bán lẻ của siêu thị/hệ thống phân phối nhằm duy trì các hoạt động sản xuất kinh doanh và cung ứng hàng hóa thiết yếu phục vụ nhu cầu tiêu dùng của người dân.
Hai là, chủ động triển khai kịp thời các giải pháp hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, đặc biệt là người lao động bị mất việc làm tại các khu công nghiệp. Tiếp tục tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phục hồi kinh tế, cải cách quy trình, thủ tục để doanh nghiệp tiếp cận các chính sách hỗ trợ đơn giản, thuận tiện, kịp thời. Hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế nhằm vượt qua khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Đồng thời, hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp thành lập mới, doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.
Ba làđiều hành chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá linh hoạt, thận trọng, phù hợp với diễn biến thị trường trong nước và quốc tế, phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, hỗ trợ sản xuất kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Kiểm soát và có biện pháp kịp thời để đảm bảo nguồn cung và giá cả của nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất trong nước, đặc biệt là giá thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm, thủy sản và thép xây dựng; không làm đình trệ và khó khăn cho các hoạt động đặc biệt là hoạt động xây dựng, thực hiện các Dự án đầu tư lớn, trọng điểm trong ngắn hạn. Có các chính sách phù hợp để giảm giá các loại vật liệu tăng giá thời gian vừa qua, đặc biệt là giá sắt, thép; sử dụng chính sách thuế phù hợp theo hướng có lợi cho nhập khẩu nguyên liệu và xuất khẩu thành phẩm.
Bốn là, tăng cường đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; tháo gỡ những vướng mắc thể chế đầu tư công, xây dựng, bồi thường, giải phóng mặt bằng... Chủ động tiếp cận, tìm hiểu và hỗ trợ các đối tác, tập đoàn lớn tìm hiểu cơ hội đầu tư ở Việt Nam, nhất là trong các lĩnh vực cần tập trung thu hút vốn đầu tư nước ngoài; nắm bắt tình hình điều chỉnh các giải pháp thu hút FDI phù hợp. Chú trọng đào tạo lao động có tay nghề cao, thuộc các lĩnh vực đang có xu hướng phát triển, đáp ứng yêu cầu hội nhập và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Năm là, chủ động phối hợp, hỗ trợ và hướng dẫn các địa phương hoạt động quảng bá, kết nối tiêu thụ nông sản trên môi trường số (trong điều kiện giãn cách xã hội). Hỗ trợ và đôn đốc các Hiệp hội, ngành hàng, các doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, thực hiện hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, ngành hàng, tìm kiếm mở rộng thị trường trong nước, để nhanh chóng đẩy mạnh tiêu thụ các mặt hàng nông sản có sản lượng lớn đã vào vụ hoặc sắp thu hoạch ở các địa phương. Hướng dẫn các sàn giao dịch thương mại điện tử tạo điều kiện cho người bán, thương nhân kinh doanh nông sản tham gia sàn, đào tạo kỹ năng và vận hành hoạt động kinh doanh trực tuyến; hỗ trợ vận chuyển; thanh toán trực tuyến; hỗ trợ và ưu tiên các thương nhân kinh doanh nông sản tham gia các Chương trình ngày mua sắm trực tuyến; gian hàng trực tuyến quốc gia…; vận động người dân ưu tiên dùng hàng trong nước, ủng hộ doanh nghiệp sản xuất, tiêu thụ sản phẩm.
Sáu là, theo dõi chặt chẽ tình hình thời tiết, chủ động phương án phòng chống thiên tai, cảnh báo mưa lũ, sạt lở, tác động của hạn hán, xâm nhập mặn nhằm hạn chế tối đa thiệt hại tới sản xuất và cuộc sống của người dân. Thực hiện có hiệu quả các chính sách an sinh xã hội, lao động, việc làm. Thực hiện tốt công tác trợ giúp đột xuất, bảo đảm người dân khi gặp rủi ro, thiên tai được hỗ trợ kịp thời, khắc phục khó khăn, ổn định cuộc sống. Tăng cường công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông, bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ./.
 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 


[1] Ngân hàng Thế giới (Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu phát hành ngày 8/6/2021) và Liên minh châu Âu (Báo cáo Dự báo kinh tế châu Âu mùa xuân 2021, tháng 5/2021) đều dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu đạt 5,6% trong năm 2021. Quỹ Tiền tệ Quốc tế nhận định, nền kinh tế toàn cầu sau khi tăng trưởng âm 3,5% vào năm 2020, dự kiến sẽ tăng 6% vào năm 2021 (Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới, phát hành tháng 4/2021). Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), dự báo GDP toàn cầu tăng 5,8% trong năm 2021 (Báo cáo Triển vọng kinh tế OECD, ngày 31/5/2021). Tổ chức kinh tế tài chính tư nhân Fitch Ratings dự báo GDP toàn cầu năm 2021 tăng 6,3%, cao hơn mức dự báo 6,1% đưa ra trong tháng 3/2021 (Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 5/2021).

[2] Mỹ triển khai gói cứu trợ giảm tác động tiêu cực của dịch Covid-19, kích thích nền kinh tế trị giá 1.900 tỷ USD. Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) giữ nguyên lãi suất cơ bản ở mức 0%-0,25% và duy trì chương trình mua trái phiếu ở mức ít nhất 120 tỷ USD/tháng để hỗ trợ tiến trình phục hồi kinh tế Mỹ. FED dự báo, lạm phát toàn phần năm 2021 lên mức 3,4%, cao hơn 1% so với mức dự báo vào tháng 3/2021.

[3] Theo WTO, thương mại toàn cầu dự báo sẽ tăng 8,3% trong năm nay và 6,3% vào năm 2022 (Thước đo thương mại hàng hóa ngày 28/5/2021).

[4] Tốc độ tăng/giảm giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ các năm 2011-2021 lần lượt là: 4,24%; 2,69%; 1,87%; 2,15%; 1,72%; -0,78%; 2,13%; 3,07%; 1,15%; 0,88%; 3,69%.

[5] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ các năm 2011-2021 lần lượt là: 13,37%; 8,96%; 5,61%; 6,61%; 10,0%; 10,5%; 10,52%; 12,87%; 11,18%; 5,06%; 11,42%.

[6] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm ngành xây dựng 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ các năm 2014-2021 lần lượt là: 6,11%; 7,66%; 9,30%; 8,50%; 7,93%; 7,85%; 4,54%; 5,59%.

[7] Tốc độ tăng giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ các năm 2011-2021 lần lượt là: 6,91%; 6,11%; 6,13%; 5,82%; 5,86%; 6,47%; 6,89%; 6,89%; 6,69%; 0,48%; 3,96%.

[8] Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, Khánh Hòa, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Đồng Tháp, Cà Mau.

[9] Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Yên, Đồng Nai.

[10] Theo Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), kim ngạch xuất khẩu cá tra 5 tháng đầu năm 2021 đạt 623 triệu USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm trước.

[11] Giá cá tra quý I dao động trong khoảng 19-21.8 nghìn đồng/kg, quý II dao động trong khoảng 21-22 nghìn đồng/kg. (Nguồn: http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia)

[12] Giá tôm thẻ chân trắng tại Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng từ đầu năm đến trung tuần tháng Ba liên tục tăng, cao nhất vào tuần ba tháng Một với mức giá trung bình loại 80 con/kg là 115 nghìn đồng/kg, tăng 15 nghìn đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Từ tuần cuối tháng Ba đến tuần cuối tháng Năm, giá tôm thẻ chân trắng tuy giảm nhưng vẫn cao hơn so với cùng kỳ năm trước. Tuần cuối tháng Năm, giá tôm thẻ chân trắng là 92,5 nghìn đồng/kg, cao hơn 2,5 nghìn đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. (Nguồn: http://agromonitor.vn/group/47/272/giam-sat-gia).

[13] Giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp quý II/2020 chỉ tăng 1,1%.

[14] Đây là số doanh nghiệp thành lập mới cao nhất trong 6 tháng đầu năm trong giai đoạn 2016-2021. Doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 6 tháng đầu năm các năm 2016-2021 lần lượt là: 54,5 nghìn doanh nghiệp;  61,3 nghìn doanh nghiệp; 64,5 nghìn doanh nghiệp; 67 nghìn doanh nghiệp; 62 nghìn doanh nghiệp và 67,1 nghìn doanh nghiệp.

[15] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Báo cáo nhận ngày 25/6/2021).

[16] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 17,6%; số vốn đăng ký tăng 18,1%; số lao động đăng ký giảm 28,2%.

[17] Chỉ số tương ứng của quý I/2021: Có 29,6% số doanh nghiệp đánh giá tốt hơn quý trước; 39% số doanh nghiệp cho rằng tình hình sản xuất kinh doanh ổn định và 31,4% số doanh nghiệp đánh giá gặp khó khăn.

[18] Chỉ số tương ứng của quý I/2021: Có 31% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng so với quý trước; 37% số doanh nghiệp cho rằng ổn định và 32% số doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất giảm.

[19] Chỉ số tương ứng của quý I/2021: Có 27,8% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng cao hơn quý trước; 41,7% số doanh nghiệp có số đơn đặt hàng ổn định và 30,5% số doanh nghiệp có đơn đặt hàng giảm.

[20] Tháng Tư năm 2020, cả nước thực hiện giãn cách xã hội làm hoạt động mua sắm hàng hóa, chi tiêu của người tiêu dùng giảm nên doanh thu bán lẻ hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 đạt thấp.

[21] Số liệu chứng khoán theo Công văn 3151/UBCK-CNTT ngày 25/5/2021 của Ủy ban chứng khoán Nhà nước.

[22] Tính đến 14h ngày 28/6/2021, chỉ số VNIndex đạt 1.403,5 điểm, tăng 5,7% so với cuối tháng trước và tăng 27,2% so với cuối năm 2020.

[23] Bao gồm chứng chỉ quỹ, chứng quyền có bảo đảm, chứng khoán phái sinh…

[24] Trong năm 2020, Chính phủ thực hiện quyết liệt các giải pháp thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của cả nước, kế hoạch vốn thực hiện từ nguồn NSNN năm 2020 đạt 512 nghìn tỷ đồng, gấp 1,3 lần so với năm 2019. 

[25] Trong tháng 6/2021, dự án điện gió Sunpro Bến Tre đăng ký điều chỉnh vốn giảm 91,6 triệu USD.

[26] Vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài cho các dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư mới trong 6 tháng giảm so với cùng kỳ sau khi tăng mạnh ở các tháng trước do trong tháng 6/2020 có dự án Công ty TNHH Vonfram Masan (Đức) được cấp GCNĐKĐTRNN với tổng vốn 91,5 triệu USD.

[27] Vốn đầu tư điều chỉnh tăng mạnh do có dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ điều chỉnh tăng 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển cao su Đông Dương tại Campuchia tăng 76 triệu USD và 01 dự án của Vinfast tại Đức tăng 32 triệu USD.

[28] Số liệu tháng 6/2021 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/6/2021 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào chiều ngày 28/6/2021.

[29] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm 2020 đạt 239,67 tỷ USD, giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 122,77 tỷ USD, tăng 0,2%; nhập khẩu đạt 116,9 tỷ USD, giảm 3,3%.

[30] Ước tính tháng Năm nhập siêu 2 tỷ USD.

[31] Trong đó, 6 tháng đầu năm 2021 xuất siêu sang EU đạt 11,2 tỷ USD, tăng 18,2% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 29 tỷ USD, tăng 90,3%; nhập siêu từ Hàn Quốc 14,7 tỷ USD, tăng 26,2%; nhập siêu từ ASEAN 7,1 tỷ USD, tăng 122,2%.

[32] Tốc độ tăng CPI bình quân 6 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt là: tăng 1,72%; tăng 4,15%; tăng 3,29%; tăng 2,64%; tăng 4,19%; tăng 1,47%.

[33] Trong nhóm nguyên nhiên vật liệu dùng cho xây dựng, sản phẩm nguyên liệu từ gang, sắt, thép tháng 6/2021 tăng 3,78% so với tháng trước và tăng 15,28% so với tháng 6/2020, bình quân 6 tháng đầu năm 2021 tăng 9,61% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ trọng tiêu dùng của mặt hàng sắt thép chiếm 19,58% trong tổng chi tiêu dùng của nhóm hàng vật liệu bảo dưỡng nhà ở và chiếm 0,4% trong tổng chi tiêu dùng của dân cư, theo đó giá sắt thép tháng 6/2021 tăng so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,017 điểm phần trăm.

[34] Giá gạo giảm 0,36% do các địa phương trên cả nước cơ bản đã thu hoạch xong lúa vụ đông xuân.

[35] Giá thịt lợn giảm 2% (làm CPI chung giảm 0,07 điểm phần trăm) do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, nhiều nhà hàng, quán ăn, trường học phải đóng cửa làm cho mức tiêu thụ mặt hàng thịt lợn giảm trong khi nguồn cung thịt lợn tăng; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò, chả giảm 0,48%; thịt chế biến khác giảm 0,01%; mỡ động vật giảm 3,62%); giá thịt gà giảm 0,03%; giá thủy sản tươi sống giảm 0,31%; giá quả tươi và chế biến giảm 3% . Riêng giá các loại rau tươi, khô và chế biến tăng 3,69%.

[36] Ăn ngoài gia đình tăng 0,03%; uống ngoài gia đình tăng 0,52% do thời tiết nắng nóng nên nhu cầu đồ uống tăng cao.

[37] Giá vé tàu hỏa giảm 3,41%; giá vé máy bay giảm 17,05%.

[38] Chỉ số giá xuất khẩu hàng hóa so với chỉ số giá nhập khẩu hàng hóa.

[39] Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc quý II/2021 giảm 65 nghìn người so với quý trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động tăng 0,2 điểm phần trăm; tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động tăng 0,4 điểm phần trăm.

[40] Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc 6 tháng đầu năm 2021 tăng 788,7 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động giảm 0,07 điểm phần trăm; thu nhập của lao động làm công hưởng lương tăng 281,7 nghìn đồng.

[41] Tỷ lệ thất nghiệp chung 6 tháng đầu năm 2020 là 2,43%, trong đó khu vực thành thị là 3,52%; nông thôn 1,84%.

[42] Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm 2020 là 2,59%, trong đó khu vực thành thị là 3,70%; nông thôn 1,97%.

[43] Lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp bao gồm những người không làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản và thuộc một trong ba nhóm sau: (i) người làm công ăn lương thuộc khu vực chính thức không được ký hợp đồng lao động hoặc có hợp đồng có thời hạn nhưng không được cơ sở tuyển dụng đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc; lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực chính thức và thành viên hợp tác xã không có bảo hiểm xã hội bắt buộc; (ii) chủ cơ sở, lao động tự làm, lao động làm công ăn lương và lao động gia đình tại cơ sở thuộc khu vực phi chính thức; (iii) lao động tự làm phục vụ nhu cầu tự tiêu dùng của hộ gia đình và lao động làm thuê trong các hộ gia đình.

[44]

[45] Tính đến trưa ngày 28/6/2021 trên thế giới có 181.866 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (3.938,9 nghìn trường hợp tử vong).

[46] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải (Bộ Giao thông vận tải).

[47] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/6/2021.


Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top