Tình hình kinh tế - xã hội tháng 02 và 2 tháng đầu năm 2021

28/02/2021 - 09:56 PM
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng 2/2021 diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi. Chăn nuôi phát triển tốt, cung ứng đủ sản phẩm chăn nuôi trong dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu. Dịch tả lợn châu Phi đã cơ bản được kiểm soát, đàn lợn tiếp tục đà hồi phục. Công tác trồng rừng vụ xuân và “Tết trồng cây” đầu xuân diễn ra ở nhiều địa phương. Sản xuất thủy sản phát triển ổn định, giá tôm đang ở mức cao do nhu cầu của ngành chế biến; khai thác biển khởi động lại sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán.

a) Nông nghiệp

Tính đến trung tuần tháng Hai, cả nước gieo cấy được 2.606,1 nghìn ha lúa đông xuân, bằng 95,9% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 710,5 nghìn ha, bằng 88,2%; các địa phương phía Nam gieo cấy 1.895,6 nghìn ha, bằng 99,1%; riêng các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy đạt 1.511,5 nghìn ha, bằng 98%.

Tại các địa phương phía Bắc, tiến độ gieo trồng lúa đông xuân năm nay thấp hơn so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do lịch thời vụ của hầu hết các địa phương muộn hơn cùng kỳ, thêm vào đó Tết nguyên đán năm nay trùng với cao điểm thời vụ gieo cấy nên đã ảnh hưởng đến tiến độ sản xuất. Một số địa phương có tiến độ gieo cấy lúa đông xuân chậm so với cùng kỳ năm trước: Hà Nội đạt 55 nghìn ha, bằng 64,7%; Thái Bình đạt 7,1 nghìn ha, bằng 20,2%; Hưng Yên đạt 1,6 nghìn ha, bằng 12,3%... Hiện nay, lúa đông xuân sinh trưởng và phát triển khá tốt. Tuy nhiên một số diện tích gieo trồng sớm đã xuất hiện sâu bệnh gây hại, cần theo dõi sát diễn biến tình hình sâu bệnh, xử lý kịp thời các ổ bệnh để không ảnh hưởng đến phát triển của cây lúa.

Các địa phương phía Nam đến nay cơ bản hoàn thành gieo cấy lúa đông xuân, với diện tích giảm 17,8 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước (tổng diện tích tăng tại một số địa phương là 22,2 nghìn ha, trong khi đó một số địa phương khác giảm với tổng diện tích là 40 nghìn ha). Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm 31,3 nghìn ha chủ yếu do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn nên nhiều địa phương chủ động cắt giảm diện tích xuống giống hoặc chuyển đổi những vùng đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng cạn, sử dụng ít nước.

Hiện nay, lúa đông xuân đang phát triển tốt, những trà lúa chính vụ đang trong giai đoạn đẻ nhánh làm đòng, một số trong giai đoạn ngậm sữa, chuẩn bị trổ bông, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long có 262,5 nghìn ha lúa đông xuân cho thu hoạch, chiếm 17,4% diện tích gieo cấy của vùng và bằng 63,6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tình hình hạn hán và xâm nhập mặn còn tiếp tục xảy ra, để hạn chế những thiệt hại, ngành Nông nghiệp các địa phương cần tập trung quản lý việc cung cấp nước theo từng giai đoạn sinh trưởng của lúa, chủ động tưới tiết kiệm nước, thường xuyên theo dõi, kịp thời ngăn chặn sớm và hướng dẫn phòng trừ dịch bệnh gây hại đồng ruộng.

Cùng với việc gieo cấy lúa đông xuân, tính đến giữa tháng Hai, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 207,7 nghìn ha ngô, bằng 97,2% cùng kỳ năm trước; 43,3 nghìn ha khoai lang, bằng 100,2%; 5,3 nghìn ha đậu tương, bằng 71,6%; 68,8 nghìn ha lạc, bằng 92,2%; 419,6 nghìn ha rau đậu, bằng 98,5%.

Trong tháng, chăn nuôi trâu, bò nhìn chung ổn định; dịch tả lợn châu Phi tiếp tục được kiểm soát, chỉ còn phát sinh những ổ dịch nhỏ lẻ. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Tuy nhiên, do thời tiết thuận lợi cho dịch bệnh phát triển kết hợp việc vận chuyển nhiều gia súc, gia cầm trong dịp lễ, Tết nên nguy cơ dịch bệnh phát sinh và lây lan ở mức cao, người chăn nuôi cần tăng cường các biện pháp kiểm soát, phòng chống dịch bệnh. Ước tính tháng Hai, tổng số bò cả nước tăng 2,2% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số trâu giảm 2,7%; tổng số lợn tăng 15,5%; gia cầm tăng 6,5%. Tính đến ngày 20/02/2021, cả nước không còn dịch tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở 12 địa phương[1]; dịch lở mồm long móng còn ở 7 địa phương[2]; dịch tả lợn châu Phi còn ở 21 địa phương[3] chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Sản xuất lâm nghiệp trong tháng Hai tập trung chủ yếu vào hoạt động “Tết trồng cây”, thực hiện trồng rừng vụ xuân, chăm sóc và bảo vệ rừng ở khu vực phía Nam. Trong tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung của cả nước ước tính đạt 8,9 nghìn ha, giảm 1,1% so cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 7 triệu cây, tăng 9,4%; sản lượng gỗ khai thác đạt 946,7 nghìn m3, tăng 3,8%; sản lượng củi khai thác và thu nhặt đạt 1,24 triệu ste, giảm 0,8%. Sản lượng gỗ khai thác tăng chủ yếu ở các địa phương có diện tích rừng trồng đã đến tuổi thu hoạch để trả phần đất cho diện tích rừng trồng tập trung, phát dọn thực bì chuẩn bị đất cho trồng cây vụ xuân như Quảng Ngãi đạt 84,3 nghìn m3, Quảng Trị đạt 58,6 nghìn m3, Thanh Hóa 57,3 nghìn m3, Bắc Giang 52 nghìn m3, Bình Định 45 nghìn m3. Tính chung 2 tháng đầu năm, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 15,8 nghìn ha, giảm 1,9% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 10,7 triệu cây, tăng 4,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1,85 triệu m3, tăng 3,5%; sản lượng củi khai thác và thu nhặt đạt 2,73 triệu ste, giảm 1,1%.

Diện tích rừng bị thiệt hại[4] trong tháng Hai (từ 15/01-15/02/2021) 73,20 ha, trong đó diện tích rừng bị cháy là 14,3 ha (Quảng Ninh là 10,2 ha); diện tích rừng bị chặt phá gần 59 ha (Kon Tum 25,8 ha, Yên Bái 14,7 ha, Kiên Giang 6,1 ha). Tính chung 2 tháng đầu năm, cả nước có 200,8 ha rừng bị thiệt hại, tăng 3,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 82,9 ha, giảm 9,9% (cùng kỳ năm trước là 92 ha); diện tích rừng bị chặt phá là 117,9 ha, tăng 15,6 %.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Hai ước đạt 573,8 nghìn tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 439,7 nghìn tấn, giảm 0,2%; tôm đạt 48,7 nghìn tấn, tăng 3%; thủy sản khác đạt 85,4 nghìn tấn, tăng 2,3%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 296,4 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 219,4 nghìn tấn, tăng 1,5%; tôm đạt 38,6 nghìn tấn, tăng 4,0%. Sản lượng cá tra ước tính đạt 95,8 nghìn tấn, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước. Hiện tại, giá cá tra nguyên liệu loại 700-900 gram/con ổn định so với tháng trước, dao động trong khoảng 19.500-20.200 đồng/kg và tăng 900-1.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tiếp tục duy trì ở mức cao[5]. Sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 21,0 nghìn tấn, tăng 7,1%; sản lượng tôm sú đạt 13,7 nghìn tấn, tăng 3,8%, tăng chủ yếu ở diện tích nuôi tôm - lúa.

Khai thác thủy sản tháng Hai giảm do đây là tháng Tết, nhiều ngư dân nghỉ sớm dẫn đến số ngày sản xuất ít hơn so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng thủy sản khai thác ước tính đạt 277,4 nghìn tấn, giảm 1,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 220,3 nghìn tấn, giảm 1,8%; tôm đạt 10,1 nghìn tấn, giảm 1,0%; thủy sản khác đạt 47 nghìn tấn, tăng 0,2%. Sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 263,6 nghìn tấn, giảm 1,4%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, sản lượng thủy sản ước tính đạt 1.141,4 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm sản lượng nuôi trồng đạt 600,5 nghìn tấn, tăng 2,5%; sản lượng khai thác đạt 540,9 nghìn tấn, tăng 0,5% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 512,7 nghìn tấn, tăng 0,5%).

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng 02/2021 ước tính giảm so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước do số ngày làm việc của tháng Hai năm nay ít hơn 8 ngày[6] và ảnh hưởng của dịch Covid-19 tại một số địa phương. Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp tháng 01/2021 tăng khá so với tháng 01/2020 (tăng 22,5%) nên tính chung 2 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 02/2021 ước tính giảm 21,1% so với tháng trước và giảm 7,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 18,5% và giảm 23%; ngành chế biến, chế tạo giảm 23,1% và giảm 5,8%; sản xuất và phân phối điện giảm 9,8% và giảm 2,3%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 8,7% và tăng 0,1%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, IIP ước tính tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 10,4% (cùng kỳ năm trước tăng 7,1%), đóng góp 8 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,3% (cùng kỳ năm trước tăng 7%), đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,8% (cùng kỳ năm trước tăng 4,6%), đóng góp 0,4 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 11% (cùng kỳ năm trước giảm 2,7%), làm giảm 1,7 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành trọng điểm có chỉ số sản xuất 2 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 30,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,2%; sản xuất thiết bị điện tăng 17,5%; khai thác quặng kim loại tăng 14,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 11,9%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 10,6%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 10,4%; sản xuất xe có động cơ tăng 10,2%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,1%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải tăng 9,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 8,2%. Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số giảm: Sản xuất mô tô, xe máy giảm 1,7%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 5%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 5,1%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 7,4%; khai thác than cứng và than non giảm 8,6%; hoạt động dịch vụ hỗ trợ và khai thác mỏ quặng giảm 13,5%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 15,6%.

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 2 tháng đầu năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Ti vi các loại tăng 61,5%; linh kiện điện thoại tăng 55,7%; thép cán tăng 47,3%; sắt, thép thô tăng 20,1%; sữa bột tăng 17,5%; xi măng tăng 14%; sơn hóa học tăng 12,8%; phân hỗn hợp NPK tăng 10,8%; ô tô tăng 9,9%; vải dệt từ sợi nhân tạo tăng 9,3%; bia các loại tăng 8,3%; sữa tươi tăng 7,9%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Thức ăn cho gia súc giảm 0,3%; giày, dép da giảm 0,5%; thủy hải sản chế biến giảm 1,2%; thức ăn cho thủy sản giảm 3,6%; phân u rê giảm 5,1%; đường kính giảm 6%; thép thanh, thép góc giảm 6,7%; than sạch giảm 8,7%; dầu mỏ thô khai thác giảm 10,8%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 19,9%; xăng, dầu các loại giảm 55%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/02/2021 tăng 0,3% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,4% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước không thay đổi và giảm 1,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,1% và giảm 4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 0,4% và giảm 1,8%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 1,8% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,3% và giảm 2,5%; ngành sản xuất và phân phối điện không đổi và tăng 0,8%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải không đổi và giảm 1,6%.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[7]

Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 02/2021 giảm so với tháng trước và cùng kỳ năm trước, nguyên nhân do tháng Hai trùng với thời điểm Tết Nguyên đán. Tuy nhiên, số vốn đăng ký trong tháng 2/2021 tăng 15,9% so với tháng trước và tăng 85,6% so với cùng kỳ năm trước; số doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn giảm 80,1% và giảm 21,3%; số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh chờ làm thủ tục giải thể giảm 53,5% và giảm 32,2%. Đây những tín hiệu hết sức tích cực trong bối cảnh dịch Covid-19 vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Trong tháng 02/2021, cả nước có 8.038 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 179,7 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 56,9 nghìn người, giảm 20,3% về số doanh nghiệp, tăng 15,9% về vốn đăng ký và giảm 50,9% về số lao động so với tháng 01/2021[8]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 22,4 tỷ đồng, tăng 45,5% so với tháng trước và tăng 111,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước còn có 4.604 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 29,2% so với tháng trước và tăng 26,8% so với cùng kỳ năm trước; 3.593 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 80,1% và giảm 21,3%; 2.606 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 53,5% và giảm 32,2%; 1.500 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 28,4% và tăng 26,5%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, cả nước có 18,1 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 334,8 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 172,8 nghìn lao động, tăng 4% về số doanh nghiệp, tăng 52,2% về vốn đăng ký và tăng 9,7% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 2 tháng đạt 18,5 tỷ đồng, tăng 46,4% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 385,6 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 6,5 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 2 tháng đầu năm 2021 là 720,4 nghìn tỷ đồng. Bên cạnh đó, còn có hơn 11 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 7,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 2 tháng năm 2021 lên 29,2 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có 14,6 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, trong 2 tháng đầu năm nay có 316 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 19,2% so với cùng kỳ năm 2020; 4,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 5,6%; 12,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 3%. Một số lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: Sản xuất phân phối điện, nước, ga tăng 60,7% so với cùng kỳ năm trước; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 39%; kinh doanh bất động sản tăng 33,8%; khai khoáng 19%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,1%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy tăng 4,8%; vận tải kho bãi tăng 1,1%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 1%; xây dựng tăng 0,2%. Có 6 lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Dịch vụ lưu trú ăn uống giảm 11,2%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác giảm 9,3%; thông tin và truyền thông giảm 8,3%; nghệ thuật, vui chơi giải trí giảm 6,8%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm giảm 1,5%; giáo dục và đào tạo giảm 0,6%.

Cũng trong 2 tháng đầu năm nay, có 33,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 18,6% so với cùng kỳ năm 2020, bao gồm: 21,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 34% so với cùng kỳ năm trước; 8,4 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 10,7%; 3,6 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 28,1%, trong đó có 3,2 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tăng 28,5%; 37 doanh nghiệp có vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 15,9%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 1.335 doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 438 doanh nghiệp; xây dựng có 305 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 226 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 199 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 178 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản và vận tải, kho bãi đều có 167 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 138 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 113 doanh nghiệp; sản xuất phân phối điện, nước, gas 80 doanh nghiệp. Trung bình mỗi tháng có 16,8 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

4. Đầu tư

Tháng Hai năm 2021 có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán trùng với đợt bùng phát dịch Covid-19 tại một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương do đó tiến độ thực hiện các dự án, công trình bị chậm lại. Đồng thời chủ đầu tư, nhà thầu chủ yếu tập trung thực hiện các dự án chuyển tiếp nên tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm so với kế hoạch đạt không cao, bằng 9%, tuy nhiên vẫn cao hơn 5 năm trở lại đây[9].

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 02/2021 ước tính đạt 17,7 nghìn tỷ đồng, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý 2,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,2%; vốn địa phương quản lý 15,2 nghìn tỷ đồng, giảm 3,7%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 40,9 nghìn tỷ đồng, bằng 9% kế hoạch năm và tăng 10,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 bằng 7,2% và tăng 17,9%), cụ thể:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 5,6 nghìn tỷ đồng, bằng 7,2% kế hoạch năm và tăng 13,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 2.201 tỷ đồng, bằng 6,4% và tăng 49,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 311 tỷ đồng, bằng 7,3% và giảm 5,6%; Bộ Y tế 233 tỷ đồng, bằng 9,4% và giảm 45,2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 137 tỷ đồng, bằng 8,1% và giảm 29,8%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 94 tỷ đồng, bằng 9,1% và tăng 13,4%; Bộ Xây dựng 69 tỷ đồng, bằng 10,2% và tăng 120,2%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 66 tỷ đồng, bằng 7,9% và tăng 29,6%; Bộ Công Thương 64 tỷ đồng, bằng 5,9% và tăng 95,3%; Bộ Thông tin và Truyền thông 29 tỷ đồng, bằng 5,5% và tăng 130,6%; Bộ Khoa học và Công nghệ 28 tỷ đồng, bằng 8,9% và tăng 40,5%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 35,3 nghìn tỷ đồng, bằng 9,4% kế hoạch năm và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 23,7 nghìn tỷ đồng, bằng 8,9% và tăng 12,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 9,7 nghìn tỷ đồng, bằng 9,9% và tăng 6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 1,9 nghìn tỷ đồng, bằng 13,4% và tăng 2,4%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 2 tháng đầu năm 2021 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 5.265 tỷ đồng, bằng 10,4% kế hoạch năm và tăng 22,1% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Ninh 1.724 tỷ đồng, bằng 10,2% và tăng 77%; Bà Rịa - Vũng Tàu 1.394 tỷ đồng, bằng 13% và tăng 23,8%; Thanh Hóa 1.132 tỷ đồng, bằng 12,3% và tăng 0,9%; thành phố Hồ Chí Minh 1.056 tỷ đồng, bằng 3% và tăng 10%; Bắc Ninh 952 tỷ đồng, bằng 15,8% và tăng 14,3%; Đà Nẵng 948 tỷ đồng, bằng 13,1% và tăng 146,8%; Nghệ An 838 tỷ đồng, bằng 12,9% và giảm 14,5%; Hải Phòng 805 tỷ đồng, bằng 6% và tăng 3,8%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến 20/02/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 5,46 tỷ USD, giảm 15,6% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó có 126 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 3,31 tỷ USD, giảm 74,8% về số dự án và giảm 33,9% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; 115 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 1,61 tỷ USD, tăng 151,8%[10]; 445 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn là 543,1 triệu USD, giảm 34,4%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 109 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 202,8 triệu USD và 336 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 340,3 triệu USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 2 tháng ước tính đạt 2,5 tỷ USD, tăng 2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 71,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 389 triệu USD, chiếm 15,6%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 152,1 triệu USD, chiếm 6,1%.

Trong 2 tháng đầu năm, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 1,41 tỷ USD, chiếm 42,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,34 tỷ USD, chiếm 40,5%; các ngành còn lại đạt 558,2 triệu USD, chiếm 16,9%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo dẫn đầu đạt 2,77 tỷ USD, chiếm 56,4%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 1,41 tỷ USD, chiếm 28,7% tổng vốn đăng ký; các ngành còn lại đạt 731,3 triệu USD, chiếm 14,9%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 265,8 triệu USD, chiếm 48,9% tổng giá trị góp vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 83,2 triệu USD, chiếm 15,3%; các ngành còn lại đạt 194,1 triệu USD, chiếm 35,8%.

Trong số 46 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 2 tháng đầu năm nay, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 1,45 tỷ USD, chiếm 43,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 861,1 triệu USD, chiếm 26%; Trung Quốc 374,9 triệu USD, chiếm 11,3%; Đặc khu Hành chính Hồng Công (TQ) 231,1 triệu USD, chiếm 7%; Hàn Quốc 122,9 triệu USD, chiếm 3,7%; Hoa Kỳ 110,8 triệu USD, chiếm 3,3%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 2 tháng có 5 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng vốn của phía Việt Nam là 21,6 triệu USD; giảm 28,6% so với cùng kỳ năm trước; trong đó lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 15,5 triệu USD, chiếm 71,5% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 6,1 triệu USD, chiếm 28,5%. Trong 2 tháng đầu năm có 4 quốc gia nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Lào là nước dẫn đầu với 15,5 triệu USD, chiếm 71,5%; Trung Quốc 3,2 triệu USD, chiếm 14,6%; Phi-li-pin 3 triệu USD, chiếm 13,89%; Pháp 2,3 nghìn USD, chiếm 0,01%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước

Dịch Covid-19 bùng phát và lây lan nhanh trước, trong và sau Tết Nguyên đán Tân Sửu đã ảnh hưởng tới kết quả thu ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng Hai. Bên cạnh việc đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý nhà nước và thanh toán các khoản nợ đến hạn, chi ngân sách được tăng cường để đảm bảo an sinh xã hội phục vụ nhân dân vui đón Tết cổ truyền và ứng phó với diễn biến phức tạp của dịch Covid-19.

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/02/2021 ước tính đạt 220,5 nghìn tỷ đồng, bằng 16,4% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 194,1 nghìn tỷ đồng, bằng 17,1%; thu từ dầu thô 3,2 nghìn tỷ đồng, bằng 13,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 22,7 nghìn tỷ đồng, bằng 12,7%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 23,3 nghìn tỷ đồng, bằng 15,7% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 41 nghìn tỷ đồng, bằng 20,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 55,2 nghìn tỷ đồng, bằng 23,2%; thu thuế thu nhập cá nhân 17,6 nghìn tỷ đồng, bằng 16,4%; thu thuế bảo vệ môi trường 5,1 nghìn tỷ đồng, bằng 8%; thu tiền sử dụng đất 19,9 nghìn tỷ đồng, bằng 17,9%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/02/2021 ước tính đạt 148,4 nghìn tỷ đồng, bằng 8,8% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 103 nghìn tỷ đồng, bằng 9,9%; chi đầu tư phát triển 26,9 nghìn tỷ đồng, bằng 5,6%; chi trả nợ lãi 18,5 nghìn tỷ đồng, bằng 16,8%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài 7 ngày và dịch Covid-19 diễn ra tại một số địa phương trong tháng 02/2021 làm cho hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng giảm so với tháng trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai ước tính đạt 439,7 nghìn tỷ đồng, giảm 5,4% so với tháng trước và tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 354,5 nghìn tỷ đồng, giảm 3,5% và tăng 10,5%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 41,5 nghìn tỷ đồng, giảm 11,5% và giảm 0,1%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 915 tỷ đồng, giảm 40,8% và giảm 60,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 42,7 nghìn tỷ đồng, giảm 12,6% và tăng 2,7%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 904,5 nghìn tỷ đồng, tăng 5,49% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 5,52% (cùng kỳ năm 2020 tăng 5,4%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 2 tháng đầu năm nay ước tính đạt 722,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,8% tổng mức và tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 9,4% của cùng kỳ năm 2020 do dịch Covid-19 bùng phát khiến người tiêu dùng hạn chế mua sắm. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 9,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 8,7%; may mặc tăng 4,2%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 3,1%; phương tiện đi lại tăng 2,6%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 2 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Quảng Ninh tăng 19%; Khánh Hòa tăng 15,6%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 11,4%; Hải Phòng tăng 11,4%; Đà Nẵng tăng 6,8%; Hà Nội tăng 4,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm ước tính đạt 88,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,8% tổng mức và giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 bùng phát vào thời điểm Tết Nguyên đán nên hoạt động ăn uống, du lịch nghỉ dưỡng của người dân giảm, đồng thời để phòng chống dịch bệnh nhiều địa phương trong cả nước đã hủy các lễ hội truyền thống đầu năm. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 2 tháng đầu năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Hải Phòng giảm 0,1%; Thừa Thiên - Huế giảm 1,2%; Hà Nội giảm 7,6%; Hải Dương giảm 7,8%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 14,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 15,9%; Đà Nẵng giảm 16,1%.

Doanh thu du lịch lữ hành 2 tháng đầu năm ước tính đạt 2,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,3% tổng mức và giảm 62,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó doanh thu của Hải Phòng giảm 18,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 41,5%; Hà Nội giảm 47,7%; Đà Nẵng giảm 67,7%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 69,2%; Thừa Thiên - Huế giảm 73,3%; Hải Dương giảm 89,4%.

Doanh thu dịch vụ khác 2 tháng đầu năm ước tính đạt 91,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng mức và tăng 3% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó doanh thu của Hải Phòng tăng 14,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 8,6%; Thanh Hóa tăng 6,5%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 0,5%; Hà Nội giảm 1,5%; Đà Nẵng giảm 3,3%; Bắc Ninh giảm 4,6%.

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[11]

Hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam 2 tháng đầu năm nay đạt mức tăng cao. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng đầu năm nay ước tính đạt 95,81 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 48,55 tỷ USD, tăng 23,2%; nhập khẩu đạt 47,26 tỷ USD, tăng 25,9%[12]. Cán cân thương mại hàng hóa 2 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 1,29 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 01/2021 đạt 28.546 triệu USD, cao hơn 846 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 299 triệu USD; sắt thép cao hơn 189 triệu USD; phương tiện vận tải và phụ tùng cao hơn 120 triệu USD.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 02/2021 ước tính đạt 20 tỷ USD, giảm 29,9% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 4,65 tỷ USD, giảm 31,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 15,35 tỷ USD, giảm 29,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Hai giảm 4,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 15,1%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 1%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 48,55 tỷ USD, tăng 23,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 11,48 tỷ USD, tăng 4,4%, chiếm 23,6% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 37,07 tỷ USD, tăng 30,5%, chiếm 76,4%.

Trong 2 tháng có 9 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 73,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, cụ thể: Điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 9,3 tỷ USD, chiếm 19,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 6,9 tỷ USD, tăng 27,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 5,5 tỷ USD, tăng 72,6%; hàng dệt may đạt 4,8 tỷ USD, giảm 0,01%; giày dép đạt 3,2 tỷ USD, tăng 15,4%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,4 tỷ USD, tăng 51%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 1,6 tỷ USD, tăng 11,6%; sắt thép đạt 1,1 tỷ USD, tăng 71,9%; thủy sản đạt 1,01 tỷ USD, tăng 0,7%. Kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản tăng so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 610 triệu USD, tăng 14,6%; cao su đạt 516 triệu USD, tăng 109,7% (lượng tăng 89,9%); hạt điều đạt 442 triệu USD, tăng 21,5% (lượng tăng 46,1%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 256 triệu USD, tăng 78,2%; chè đạt 28 triệu USD, tăng 9,7% (lượng giảm 1,6%). Ở chiều ngược lại, cà phê đạt 473 triệu USD, giảm 15,7% (lượng giảm 18,5%); gạo đạt 352 triệu USD, giảm 18,3% (lượng giảm 31,4%); hạt tiêu đạt 93 triệu USD, giảm 0,8% (lượng giảm 21,4%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, trong 2 tháng đầu năm nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 26,6 tỷ USD, tăng 27,8% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 54,8% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (tăng 1,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 17,3 tỷ USD, tăng 18,6% và chiếm 35,6% (giảm 1,4 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 3,6 tỷ USD, tăng 22,2% và chiếm 7,5% (giảm 0,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 1 tỷ USD, tăng 0,7% và chiếm 2,1% (giảm 0,4 điểm phần trăm).

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 2 tháng đầu năm nay với kim ngạch đạt 14,2 tỷ USD, tăng 38,2% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 8,5 tỷ USD, tăng 54,3%. Thị trường EU đạt 6,3 tỷ USD, tăng 22,7%. Thị trường ASEAN đạt 4,2 tỷ USD, tăng 6,2%. Hàn Quốc đạt 3,4 tỷ USD, tăng 16,8%. Nhật Bản đạt 3,2 tỷ USD, tăng 3%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 01/2021 đạt 26.459 triệu USD, cao hơn 59 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 02/2021 ước tính đạt 20,8 tỷ USD, giảm 21,4% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,75 tỷ USD, giảm 23,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 14,05 tỷ USD, giảm 20,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Hai tăng 10,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 3,6%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 14,2%.

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 47,26 tỷ USD, tăng 25,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 15,62 tỷ USD, tăng 16%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 31,64 tỷ USD, tăng 31,4%.

Trong 2 tháng có 11 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 67,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện đạt 10,9 tỷ USD (chiếm 23% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 23,9% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 6,8 tỷ USD, tăng 30,8%; điện thoại và linh kiện đạt 3,6 tỷ USD, tăng 74,6%; vải đạt 1,9 tỷ USD, tăng 17,6%; chất dẻo đạt 1,6 tỷ USD, tăng 21,5%; sắt thép đạt 1,5 tỷ USD, tăng 29,5%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,3 tỷ USD, tăng 30,8%; kim loại thường đạt 1,3 tỷ USD, tăng 32,8%; sản phẩm hóa chất đạt 1,1 tỷ USD, tăng 29%; hóa chất đạt 1,02 tỷ USD, tăng 29,4%; ô tô đạt 1,01 tỷ USD, tăng 0,1%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 2 tháng đầu năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 44,3 tỷ USD, tăng 26,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,7% tổng kim ngạch nhập khẩu (tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 2,96 tỷ USD, tăng 18,4% và chiếm 6,3% (giảm 0,4 điểm phần trăm).

Về thị trường nhập khẩu hàng hóa trong 2 tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 17,3 tỷ USD, tăng 85,7% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 8,4 tỷ USD, tăng 6,7%; thị trường ASEAN đạt 5,6 tỷ USD, tăng 18,5%; Nhật Bản đạt 3,1 tỷ USD, giảm 0,2%; thị trường EU đạt 2,3 tỷ USD, tăng 4,7%; Hoa Kỳ đạt 2,1 tỷ USD, giảm 4,1%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 01/2021 xuất siêu 2,09 tỷ USD[13]; tháng Hai ước tính nhập siêu 800 triệu USD. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 1,29 tỷ USD[14] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 1,8 tỷ USD), trong đó khu vực trong nước nhập siêu 4,14 tỷ USD; khu vực đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 5,43 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã kết thúc chương trình hỗ trợ giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng; giá lương thực, thực phẩm, ăn uống ngoài gia đình và giá dịch vụ giao thông công cộng tăng trong dịp Tết Nguyên đán là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2021 tăng 1,52% so với tháng trước - mức tăng cao nhất của chỉ số giá tháng Hai trong 8 năm gần đây[15] và tăng 1,58% so với tháng 12/2020. Tuy nhiên so với cùng kỳ năm trước, CPI tháng Hai chỉ tăng 0,70% - thấp nhất kể từ năm 2016 đến nay[16]. Bình quân 2 tháng đầu năm 2021, CPI giảm 0,14% so với cùng kỳ năm trước, lạm phát cơ bản tăng 0,64%.

Trong mức tăng 1,52% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 02/2021 so với tháng trước có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 1 nhóm hàng giữ ổn định giá. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng có mức tăng cao nhất với 4% (làm CPI chung tăng 0,75 điểm phần trăm), trong đó: Giá điện sinh hoạt tháng Hai tăng 20,06% (tác động làm CPI chung tăng 0,66 điểm phần trăm)[17]; giá vật liệu, bảo dưỡng nhà ở chính tăng 1,31%; giá gas tăng 6,74% và giá dầu hỏa tăng 4,35%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,61%, chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh trong dịp Tết Nguyên đán, trong đó: Lương thực tăng 1,77%[18]; thực phẩm tăng 1,82%[19] (làm CPI chung tăng 0,39 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 1,01%. Nhóm giao thông tăng 1,55% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 26/01/2021 và thời điểm 25/02/2021 làm chỉ số giá xăng, dầu tăng 3,28% (tác động làm CPI chung tăng 0,12 điểm phần trăm); bên cạnh đó, nhu cầu đi lại của người dân trong dịp Tết Nguyên đán tăng nên giá dịch vụ giao thông công cộng tăng[20] và nhu cầu mua sắm, sửa chữa cuối năm tăng nên giá một số loại xe và giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện tăng. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,9% do nhu cầu tiêu dùng và làm quà biếu tặng, chúc Tết nên giá đồ uống không cồn tăng 0,49%; rượu bia tăng 1,26%; thuốc hút tăng 0,64%. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,25%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,2%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,13% do giá hoa, cây cảnh tăng. Nhóm bưu chính, viễn thông tăng 0,03%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%. Nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,74%. Riêng nhóm giáo dục không thay đổi.

CPI tháng 02/2021 tăng 1,58% so với tháng 12/2020 và tăng 0,70% so với cùng kỳ năm trước; CPI bình quân 2 tháng đầu năm 2021 giảm 0,14% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.

Lạm phát cơ bản tháng 02/2021 tăng 0,48% so với tháng trước và tăng 0,79% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 2 tháng đầu năm nay tăng 0,64% so với bình quân cùng kỳ năm 2020.

Giá vàng trong nước biến động ngược chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/02/2021 giảm 2,7% so với tháng 01/2021 do giới đầu tư lạc quan về sự phục hồi kinh tế sẽ thúc đẩy lợi suất trái phiếu khiến vàng trở nên kém hấp dẫn. Trong nước, các doanh nghiệp kinh doanh vàng tiếp tục giữ mức giá cao trước Tết Nguyên đán, bên cạnh đó trong tháng có ngày Thần tài nên nhu cầu mua vàng tăng, chỉ số giá vàng tháng 02/2021 tăng 0,25% so với tháng trước; tăng 2,42% so với tháng 12/2020 và tăng 25,08% so với cùng kỳ năm trước.

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới giảm trong bối cảnh các đồng tiền ảo tăng mạnh thu hút các nhà đầu tư. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 02/2021 giảm 0,17% so với tháng trước; giảm 0,33% so với tháng 12/2020 và giảm 0,76% so với cùng kỳ năm trước.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Do kỳ nghỉ Tết nguyên đán và ảnh hưởng của dịch Covid-19 nên hoạt động vận tải tháng 02/2021 giảm 9,8% về lượng hành khách vận chuyển và giảm 13,3% về lượng hàng hóa vận chuyển so với tháng trước. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 21,1% so với cùng kỳ năm trước và vận chuyển hàng hóa tăng 8,7%.

Vận tải hành khách tháng 02/2021 ước tính đạt 324,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 9,8% so với tháng trước và luân chuyển 13,8 tỷ lượt khách.km, giảm 11,3%. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, vận tải hành khách đạt 684,1 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 21,1% so với cùng kỳ năm trước[21] và luân chuyển 29,3 tỷ lượt khách.km, giảm 28,8%[22], trong đó vận tải trong nước đạt 684,1 triệu lượt khách, giảm 20,9% và 29 tỷ lượt khách.km, giảm 12,9%; vận tải ngoài nước đạt 56 nghìn lượt khách, giảm 97,7% và 258,7 triệu lượt khách.km, giảm 96,7%. Xét theo ngành vận tải, hầu hết các ngành đường đều giảm, trong đó vận tải hành khách đường bộ 2 tháng đầu năm đạt 632,8 triệu lượt khách, giảm 22,2% so với cùng kỳ năm trước và 24 tỷ lượt khách.km, giảm 12,7%; đường thủy nội địa đạt 44,7 triệu lượt khách, tăng 3,8% và 768,5 triệu lượt khách.km, tăng 2,1%; hàng không đạt 4,8 triệu lượt khách, giảm 45,1% và 4,2 tỷ lượt khách.km, giảm 65,7%; đường biển đạt 1,3 triệu lượt khách, giảm 2,9% và 82,5 triệu lượt khách.km, tăng 7,4%; đường sắt đạt 0,6 triệu lượt khách, giảm 52,8% và 239 triệu lượt khách.km, giảm 56,9%.

Vận tải hàng hóa tháng 02/2021 ước tính đạt 150,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 13,3% so với tháng trước và luân chuyển 28,1 tỷ tấn.km, giảm 11,6%. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, vận tải hàng hóa đạt 323,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 tăng 6,1%) và luân chuyển 59,8 tỷ tấn.km, tăng 4,2% (cùng kỳ năm trước tăng 4,3%), trong đó vận tải trong nước đạt 318,1 triệu tấn, tăng 9,1% và 36,5 tỷ tấn.km, tăng 14%; vận tải ngoài nước đạt 5,3 triệu tấn, giảm 10,3% và 23,3 tỷ tấn.km, giảm 8,2%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 2 tháng đạt 252,3 triệu tấn, tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước và 18,1 tỷ tấn.km, tăng 11,2%; đường thủy nội địa đạt 55,4 triệu tấn, tăng 10% và 11,8 tỷ tấn.km, tăng 9,1%; đường biển đạt 15 triệu tấn, tăng 9,5% và 29 tỷ tấn.km, tăng 1,4%; đường sắt đạt 738,2 nghìn tấn, tăng 5,3% và 492,4 triệu tấn.km, tăng 0,9%; đường hàng không đạt 43,1 nghìn tấn, giảm 33,3% và 443,2 triệu tấn.km, giảm 65,1%.

đ) Khách quốc tế đến Việt Nam

Khách quốc tế đến nước ta tháng 02/2021 đạt gần 11 nghìn lượt người, giảm 38,3% so với tháng trước và giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam và lái xe vận chuyển hàng hóa tại các cửa khẩu đường bộ. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, khách quốc tế đến nước ta đạt 28,7 nghìn lượt người, giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng 02/2021 ước tính đạt gần 11 nghìn lượt người, giảm 38,3% so với tháng trước và giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó riêng khách đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc chiếm 52,5% lượng khách đến trong tháng. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 28,7 nghìn lượt người, giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 18,4 nghìn lượt người, chiếm 64% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 99,3%; bằng đường bộ đạt 10,3 nghìn lượt người, chiếm 35,8% và giảm 97,9%; bằng đường biển đạt 60 lượt người, chiếm 0,2% và giảm gần 100%.

Trong 2 tháng đầu năm nay, khách đến từ châu Á đạt 24,8 nghìn lượt người, chiếm 86,4% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 99% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 10,3 nghìn lượt người, giảm 98,8% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 6,6 nghìn lượt người, giảm 99,2%; Lào 2,5 nghìn lượt người, giảm 89,7%; Nhật Bản 1,6 nghìn lượt người, giảm 99%; Đài Loan 1,4 nghìn lượt người, giảm 99,2%. Khách đến từ châu Âu trong 2 tháng ước tính đạt 2,5 nghìn lượt người, giảm 99,5% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ châu Mỹ đạt 890 lượt người, giảm 99,6%; khách đến từ châu Úc đạt 257 lượt người, giảm 99,7%; khách đến từ châu Phi đạt 216 lượt người, giảm 97,8%.

7. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội

Dịch Covid-19 với biến thể mới tái bùng phát trở lại từ cuối tháng Một đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống dân cư. Trước tình hình đó, Đảng và Nhà nước đã có hàng loạt các chỉ đạo, điều hành và triển khai hiệu quả nhiều biện pháp thiết thực nhằm đảm bảo tốt nhất công tác chăm lo đời sống nhân dân, đặc biệt trong bối cảnh cả nước đang chuẩn bị đón Xuân Tân Sửu và giáp hạt năm 2021. Ngày 11/01/2021, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 07/QĐ-CTN về việc tặng quà cho các đối tượng có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Tân Sửu với tổng kinh phí thực hiện trên 538 tỷ đồng; tặng quà cho gần 5.384 trẻ em với tổng kinh phí trên 3,3 tỷ đồng từ Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam. Ngoài ra, tính đến ngày 22/02/2021 đã hỗ trợ cứu đói giáp hạt cho hơn 222,2 nghìn nhân khẩu với tổng lượng gạo là 3.333,7 tấn. Tính từ tháng 6/2020 đến nay, đây là tháng thứ 9 liên tiếp không phát sinh thiếu đói trên phạm vi cả nước.

Theo báo cáo từ các địa phương, kinh phí chăm lo đời sống cho các đối tượng chính sách, người lao động dịp Tết Nguyên đán vừa qua là gần 5.558 tỷ đồng với trên 10,4 triệu suất quà; hỗ trợ các đối tượng bảo trợ xã hội, các hộ nghèo, người cao tuổi với mức hỗ trợ từ 300.000 đồng - 500.000 đồng/đối tượng; hỗ trợ cho người lao động có hoàn cảnh khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19; thăm, tặng quà bệnh nhân nặng điều trị tại bệnh viện, thăm chúc Tết các đồn biên phòng, xã biên giới; hỗ trợ công chức, viên chức, người lao động có thu nhập thấp, hỗ trợ mua vé tàu xe cho công nhân về quê ăn Tết; tổ chức chương trình Tết sum vầy, xuân yêu thương.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Trong tháng (19/01-18/02/2021) cả nước có 6.450 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 4.490 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 39 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 2 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong) và 49 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 1 trường hợp dương tính. Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, cả nước có 10.553 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (1 trường hợp tử vong); 7.391 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (1 trường hợp tử vong); 51 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 5 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (1 trường hợp tử vong) và 65 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 2 trường hợp dương tính.

Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[23]. 5 quốc gia có số ca mắc Covid-19 nhiều nhất thế giới là Mỹ, Ấn Độ, Bra-xin, Nga và Anh. Tại Việt Nam, tính đến 6h00 ngày 27/02/2021 có 2.426 trường hợp mắc, 1.839 trường hợp đã được chữa khỏi (35 trường hợp tử vong).

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/02/2021 là 211.241 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.134 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 99.177 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Hai xảy ra 4 vụ với 43 người bị ngộ độc (1 người tử vong). Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, cả nước xảy ra 7 vụ với 192 người bị ngộ độc (2 người tử vong).

c) Tai nạn giao thông[24]

Trong tháng Hai (từ 15/01-14/02/2021), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.122 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 750 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 372 vụ va chạm giao thông, làm 622 người chết, 414 người bị thương và 439 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 9%; số người chết tăng 2,3% và số người bị thương tăng 13,1%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Hai tăng 5,1% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 21,2% và số vụ va chạm giao thông giảm 17,1%); số người chết tăng 16,5%; số người bị thương tăng 25,5% và số người bị thương nhẹ giảm 9,1%. Trong 7 ngày nghỉ Tết xảy ra 182 vụ tai nạn giao thông, làm 109 người chết và 123 người bị thương; bình quân 1 ngày trong dịp Tết xảy ra 26 vụ tai nạn giao thông, làm 16 người chết và 18 người bị thương[25].

Tính chung 2 tháng đầu năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.355 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 1.503 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 852 vụ va chạm giao thông, làm 1.230 người chết, 780 người bị thương và 968 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 2 tháng đầu năm nay giảm 0,5% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 13,8%; số vụ va chạm giao thông giảm 18,6%); số người chết tăng 9,3%; số người bị thương tăng 13,2% và số người bị thương nhẹ giảm 11,4%. Bình quân 1 ngày trong 2 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, gồm 24 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 14 vụ va chạm giao thông, làm 20 người chết, 13 người bị thương và 16 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai

Trong tháng cả nước không xảy ra hiện tượng thời tiết cực đoan gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống dân cư và tình hình sản xuất nông nghiệp. Tính chung 2 tháng đầu năm nay, thiên tai làm 1 người mất tích, 1 người bị thương; 634 ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; 3,3 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; 288,3 ha lúa và 110 ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 27,3 tỷ đồng (Thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng Hai là gần 1,5 tỷ đồng giảm 94,4% so với tháng trước và giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước), trong đó thiệt hại do rét đậm, rét hại là 25,5 tỷ đồng (chiếm 93,5% tổng giá trị thiệt hại).

đ) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 02/2021, cơ quan chức năng đã phát hiện 2.021 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.873 vụ với tổng số tiền phạt hơn 23,2 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng đầu năm nay đã phát hiện 4.374 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 3.796 vụ với tổng số tiền phạt là 42,5 tỷ đồng.

Trong tháng[26], cả nước xảy ra 210 vụ cháy, nổ, làm 13 người chết và 18 người bị thương, thiệt hại ước tính 25,5 tỷ đồng. Tính chung 2 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 455 vụ cháy, nổ, làm 18 người chết và 30 người bị thương, thiệt hại ước tính 139,6 tỷ đồng./.

Nguồn Tổng cục Thống kê


 

 
[1] Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Ninh Bình, Hà Giang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắk Lắk, Tiền Giang.
[2] Quảng Ninh, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ngãi, Kon Tum, Bến Tre, Trà Vinh.
[3] Hà Nội, Bắc Ninh, Ninh Bình, Cao Bằng, Tuyên Quang, Điện Biên, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Kon Tum, Đắk Lắk, Bình Phước, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh, Đồng Tháp, Bạc Liêu và Cà Mau.
[4] Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
[5] Tuần đầu tháng Hai, giá tôm thẻ chân trắng loại 100 con/kg dao động ở 90.000-100.000 đồng/kg, tăng 5.000-14.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước; giá tôm sú loại 30 con/kg dao động trong khoảng 180.000-190.000 đồng/kg.
[6] Tết Nguyên đán năm nay tập trung trong tháng Hai, Tết Nguyên đán năm trước diễn ra vào tháng Một.
[7] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[8] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp giảm 12,3%; số vốn đăng ký tăng 85,6%; số lao động đăng ký giảm 22,1%.
[9] Tỷ lệ vốn đầu tư thực hiện 2 tháng đầu năm từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước so với kế hoạch giai đoạn 2017-2021: Năm 2017: 8,9%; năm 2018: 8,6%; năm 2019: 8,2%; năm 2020: 7,2%; năm 2021: 9%.
[10] Vốn điều chỉnh tăng mạnh do trong tháng Hai có dự án LG Display Hải Phòng điều chỉnh tăng vốn đầu tư 750 triệu USD.
[11] Số liệu tháng 02/2021 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 25/02/2021 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào ngày 26/02/2021.
[12] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 2 tháng năm 2020 đạt 76,9 tỷ USD, tăng 6,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 39,4 tỷ USD, tăng 9,2%; nhập khẩu đạt 37,5 tỷ USD, tăng 3,6%.
[13] Ước tính xuất siêu 1,3 tỷ USD.
[14] Trong đó, xuất siêu sang EU đạt 4 tỷ USD, tăng 36,3% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 8,8 tỷ USD, tăng 130,8%; nhập siêu từ Hàn Quốc 5 tỷ USD, tăng 0,6%; nhập siêu từ ASEAN 1,4 tỷ USD, tăng 82,7%.
[15] Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Hai so với tháng trước các năm 2014-2021 lần lượt là: tăng 0,55%; giảm 0,05%; tăng 0,42%; tăng 0,23%; tăng 0,73%; tăng 0,8%; giảm 0,17%; tăng 1,52%.
[16] Tốc độ tăng CPI tháng Hai so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt là: tăng 1,27%; tăng 5,02%; tăng 3,15%; tăng 2,64%; tăng 5,4%; tăng 0,70%.
[17] Do trong tháng Một các địa phương thực hiện Công văn số 9764/BCT-ĐTĐL ngày 18/12/2020 của Bộ Công Thương về việc hỗ trợ giảm giá điện, giảm tiền điện cho các khách hàng sử dụng điện bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 đợt 2.
[18] Chủ yếu do giá gạo tăng 2,19% (tác động làm CPI chung tăng 0,06 điểm phần trăm) do giá gạo xuất khẩu cùng nhu cầu tiêu dùng vào dịp Tết tăng làm giá gạo trong nước tăng.
[19] Giá thịt lợn tăng 4,88%; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn tăng (giá thịt quay, giò chả tăng 3,28%; thịt chế biến khác tăng 0,99%); giá gà tăng 3,15%; gia cầm khác tăng 1,36%; thịt bò tăng 3,72%; thủy sản tươi sống tăng 2,75% do phục vụ lễ ông Công ông Táo và chuẩn bị Tết Nguyên đán. Riêng giá rau xanh giảm 4,67% do nguồn cung dồi dào.
[20] Giá vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 5,86%; giá vé tàu hỏa tăng 8,39%.
[21] Vận tải hành khách 2 tháng đầu năm 2020 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.
[22] Luân chuyển hành khách 2 tháng đầu năm 2020 tăng 4,9% so với cùng kỳ năm trước.
[23] Tính đến 6h00 ngày 27/02/2021 trên thế giới có 113.938,6 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (2.527,5 nghìn trường hợp tử vong).
[24] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải (Bộ Giao thông vận tải).
[25] Bình quân 1 ngày trong dịp Tết Nguyên đán Canh Tý xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông, làm 19 người chết và 25 người bị thương.
[26] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an.
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top