Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2020

29/10/2020 - 10:12 AM - 283 lượt xem
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
 
Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc. Điều kiện thời tiết không thuận lợi đã gây ngập lụt làm một số diện tích lúa và hoa màu bị mất trắng hoặc không thể gieo trồng; nhiều gia súc, gia cầm bị chết, cuốn trôi; hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản bị ảnh hưởng. Tuy nhiên, giá cá tra trong tháng đã tăng sau 9 tháng liên tiếp ở mức thấp, giá tôm ổn định trở lại do thị trường xuất khẩu đang dần được khôi phục.
 
a) Nông nghiệp
 
Vụ lúa mùa năm 2020 cả nước gieo cấy được 1.585,2 nghìn ha, bằng 98,4% vụ mùa năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.050,8 nghìn ha, bằng 98,1% (giảm 20,1 nghìn ha); các địa phương phía Nam đạt 534,4 nghìn ha, bằng 98,8% (giảm 6,3 nghìn ha). Diện tích gieo cấy lúa vụ mùa năm nay giảm ở hầu hết các địa phương, nguyên nhân chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất và do ảnh hưởng bởi các đợt nắng nóng kéo dài làm thiếu nước tưới hoặc bị nhiễm mặn phải bỏ hoang.
 
Tính đến trung tuần tháng Mười, cả nước thu hoạch được 990,7 nghìn ha lúa mùa, chiếm 62,5% diện tích gieo cấy và bằng 97,2% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc thu hoạch được 762,3 nghìn ha, chiếm 72,5% và bằng 96,8%; các địa phương phía Nam thu hoạch được 228,4 nghìn ha, chiếm 42,7% và bằng 98,5%. Mặc dù thời tiết đầu vụ không thuận lợi, hạn hán trên diện rộng gây khó khăn cho việc gieo cấy nhưng trong quá trình cây lúa sinh trưởng và phát triển, nắng mưa xen kẽ nên nguồn nước được duy trì bảo đảm, cây lúa đẻ nhánh nhanh và đồng đều, đồng thời các địa phương tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, sử dụng giống lúa chất lượng, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, kịp thời phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng nên ước tính năng suất lúa mùa năm nay đạt 50,7 tạ/ha, tăng 0,3 tạ/ha so với năm trước. Tuy nhiên, do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng lúa mùa năm nay ước tính đạt 8,04 triệu tấn, giảm 59,5 nghìn tấn so với vụ mùa trước.
 
Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trên cả nước đã cơ bản kết thúc sản xuất lúa hè thu với diện tích gieo trồng đạt 1.944,8 nghìn ha, giảm 64,8 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2019[1], trong đó một số địa phương có diện tích lúa hè thu giảm nhiều: Tiền Giang giảm 16,7 nghìn ha; Kiên Giang giảm 6,9 nghìn ha; Đồng Tháp giảm 6,8 nghìn ha. Tính đến giữa tháng Mười, cả nước đã thu hoạch được 1.920,4 nghìn ha, bằng 96,5% so cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long thu hoạch đạt 1.499,9 nghìn ha, bằng 95,9% so cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của các địa phương, năng suất lúa hè thu cả nước năm nay ước tính đạt 55,7 tạ/ha, tăng 0,9 tạ/ha so với vụ hè thu trước nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng chung toàn vụ hè thu năm 2020 đạt 10,83 triệu tấn, giảm 119,3 nghìn tấn, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 8,57 triệu tấn, giảm 110,7 nghìn tấn.
 
Đến giữa tháng Mười, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 684,9 nghìn ha lúa thu đông, bằng 95,9% cùng kỳ năm trước. Tiến độ gieo trồng vụ lúa thu đông năm nay chậm hơn cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng từ tiến độ sản xuất vụ hè thu muộn, nhiều diện tích không đủ thời vụ sản xuất nên người dân tạm cho đất nghỉ ngơi, mở ruộng đón phù sa chuẩn bị cho vụ đông xuân sắp tới. Bên cạnh đó, do lo ngại về hạn mặn, hàm lượng phèn trong đất cao, không bảo đảm cho sản xuất nên một số địa phương (Bến Tre, Tiền Giang, Trà Vinh) đã chỉ đạo cắt bớt diện tích lúa thu đông. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch 283,7 nghìn ha, chiếm 41,4% diện tích gieo cấy và bằng 103,2% cùng kỳ năm trước, năng suất ước tính đạt 52,2 tạ/hạ, tăng 0,4 tạ/ha. Diện tích lúa còn lại hiện nay chủ yếu ở giai đoạn chắc xanh đến chín, sinh trưởng và phát triển khá tốt.
 
Tiến độ gieo trồng hoa màu vụ đông đạt thấp do ảnh hưởng của mưa, bão, lũ lụt tại các địa phương phía Bắc. Tính đến thời điểm 15/10/2020, cả nước gieo trồng được 66,5 nghìn ha ngô, bằng 91,5% cùng kỳ năm trước; 10,8 nghìn ha khoai lang, bằng 92,3%; 2,5 nghìn ha đậu tương, bằng 59,5%; 4 nghìn ha lạc, bằng 83,3%; 78,9 nghìn ha rau, đậu, tương đương cùng kỳ năm trước.
 
Ước tính trong tháng Mười, tổng số trâu của cả nước giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước; tổng số bò tăng 2,5%; tổng số gia cầm tăng 4,3%. Chăn nuôi lợn đang dần được khôi phục, tổng số lợn trong tháng tăng 7,6% so với cùng thời điểm năm trước. Tuy nhiên, dịch tả lợn châu Phi hiện nay đang diễn biến phức tạp tại 31 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan chuyên ngành cần phối hợp với chính quyền cơ sở xử lý triệt để ổ dịch, kiểm soát, ngăn chặn dịch bệnh lây lan diện rộng. Tính đến ngày 25/10/2020, một số loại dịch bệnh chưa qua 21 ngày còn ở các địa phương: dịch tai xanh còn ở Hà Nam; dịch cúm gia cầm còn ở Thái Bình; dịch lở mồm long móng ở Quảng Nam, Kon Tum; dịch tả lợn châu Phi còn ở 377 xã của 31 địa phương[2].
 
b) Lâm nghiệp
 
Trong tháng Mười, các tỉnh phía Bắc tập trung hoàn thành công tác trồng rừng cuối vụ, các tỉnh phía Nam bước vào giai đoạn trồng rừng chính vụ, đồng thời các địa phương tiến hành chăm sóc cây giống và diện tích rừng đã trồng. Diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 28,6 nghìn ha, giảm 3,1% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 12,7 triệu cây, giảm 0,8%; sản lượng củi khai thác đạt 1,4 triệu ste, giảm 2,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.428 nghìn m3, giảm 1,4% do một số diện tích rừng trồng ở miền Trung bị mưa, lũ không thể tiến hành khai thác.
 
Tính chung 10 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 198,1 nghìn ha, giảm 2,7% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 79,2 triệu cây, giảm 1,2%; sản lượng gỗ khai thác đạt gần 13,5 triệu m3, tăng 1,4%; sản lượng củi khai thác đạt 15,8 triệu ste, giảm 0,5%.
 
Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Mười là 66,1 ha, giảm 45,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 7,3 ha, giảm 90,9%; diện tích rừng bị chặt, phá là 58,8 ha, tăng 42,4%. Tính chung 10 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại 1.357,1 ha, giảm 59,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 611 ha, giảm 78,6%; diện tích rừng bị chặt, phá là 746,1 ha, tăng 44,9%, trong đó Đắk Nông 94 ha, Quảng Nam 80,7 ha, Gia Lai 50,6 ha, Lào Cai 47,2 ha.
 
c) Thủy sản
 
Trong tháng Mười, bão, áp thấp và lũ lụt tại các tỉnh miền Trung đã ảnh hưởng tới nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi thủy sản lồng bè và khai thác thủy sản biển. Sản lượng thủy sản trong tháng ước tính đạt 786,9 nghìn tấn, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 561,9 nghìn tấn, giảm 1,4%; tôm đạt 120,3 nghìn tấn, tăng 0,5%; thủy sản khác đạt 104,7 nghìn tấn, giảm 0,9%.
 
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 476,1 nghìn tấn, giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 324,5 nghìn tấn, giảm 3%; tôm đạt 108,2 nghìn tấn, tăng 0,5%. Sau 9 tháng liên tiếp ở mức thấp dưới 20.000 đồng/kg, bước sang tháng Mười giá cá tra đã tăng khoảng 3.000-4.000 đồng/kg so với giá bình quân tháng trước và dao động ở mức 22.000-23.000 đồng/kg. Tuy nhiên, sản lượng cá tra tháng Mười giảm so với cùng kỳ do nguồn cung cá tra bắt đầu hạn chế. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 122,6 nghìn tấn, giảm 14,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm ổn định từ tháng Chín do thị trường xuất khẩu đang dần được khôi phục. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Mười ước tính đạt 73,5 nghìn tấn, tăng 9,4% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tôm sú ước tính đạt 28,8 nghìn tấn, giảm 16,3%. Một số tỉnh có diện tích thu hoạch tôm sú ước tính giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Sóc Trăng thu hoạch 5.210 ha, giảm 23%; Bến Tre ước thu hoạch 1.120 ha, giảm 7%.
 
Do ảnh hưởng của bão và áp thấp nhiệt đới nên khai thác thủy sản ở vùng biển miền Trung không được hoạt động liên tục, làm giảm sản lượng khai thác của cả nước. Sản lượng thủy sản khai thác tháng Mười ước tính đạt 310,8 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 237,4 nghìn tấn; tăng 0,7%; tôm đạt 12,1 nghìn tấn, tăng 0,8%; thủy sản khác đạt 61,3 nghìn tấn, giảm 4,6%. Sản lượng thủy sản khai thác biển trong tháng ước tính đạt 292 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước.
 
Tính chung 10 tháng năm 2020, sản lượng thủy sản ước tính đạt 6.914,6 nghìn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.690,2 nghìn tấn, tăng 0,9%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.224,4 nghìn tấn, tăng 1,7% (sản lượng khai thác biển đạt 3.067,2 nghìn tấn, tăng 1,8%).
 
2. Sản xuất công nghiệp

Trước tình hình dịch Covid-19 được kiểm soát tốt, các lĩnh vực của nền kinh tế đang bước vào trạng thái hoạt động trong điều kiện bình thường mới, sản xuất công nghiệp tháng 10/2020 tiếp tục khởi sắc [3], đặc biệt là ngành chế biến, chế tạo với mức tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước.
 
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10/2020 ước tính tăng 3,6% so với tháng trước và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm mạnh 14,5%; ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 1%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt mức tăng cao trong tháng Mười chủ yếu do có sự khởi sắc của các ngành sau: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 25,4% so với cùng kỳ năm trước; sản xuất than cốc và dầu mỏ tinh chế tăng 22,6%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 20,2%; sản xuất các sản phẩm điện tử, máy tính và sản phẩm quang học tăng 16,9%; sản xuất kim loại tăng 15,2%; sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 10,9%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,6%; sản xuất giường tủ bàn ghế tăng 10,1%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2020, IIP ước tính tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,5% của cùng kỳ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 4,2% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,8%), đóng góp 3,6 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 3,2%, đóng góp 0,3 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,1%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 8,1%, làm giảm 1,3 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
 
Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành trọng điểm có chỉ số sản xuất 10 tháng giảm sâu hoặc tăng rất thấp so với cùng kỳ năm trước: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng giảm 33,9%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 11,9%; sản xuất xe có động cơ giảm 10,8%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 10%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 6%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 5,4%; sản xuất đồ uống giảm 5,3%; sản xuất trang phục giảm 4,8%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,8%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,2%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,4%; sản xuất thiết bị điện tăng 1,5%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và khai thác than cứng, than non cùng tăng 3,2%. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 10 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 31,2%; khai thác quặng kim loại tăng 14,1%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 9,6%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 7,7%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 7%; sản xuất sản phẩm thuốc lá và sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế cùng tăng 6,7% (sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 6,3%); sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 6,5%.
 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 10 tháng giảm sâu hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Đường kính giảm 22,3%; khí hóa lỏng LPG giảm 15,2%; dầu thô khai thác giảm 14,1%; bia giảm 13,1%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 10,6%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 10%; ô tô giảm 9,2%; xe máy giảm 7,9%; quần áo mặc thường giảm 6,1%; thức ăn cho gia súc giảm 1,8%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 25,3%; phân u rê tăng 10,5%; linh kiện điện thoại tăng 9,3%; bột ngọt tăng 9,1%; sữa bột tăng 9%; thép thanh, thép góc tăng 7,6%; thuốc lá điếu tăng 6,8%; xăng dầu các loại tăng 6%; thép cán tăng 5,3%; thủy hải sản chế biến tăng 5,1%.
 
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2020 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 3,4%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 1,5%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 1,7% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo giảm 2,1%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,2%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,3%.
 
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]
 
Tình hình đăng ký doanh nghiệp tháng 10/2020 khởi sắc so với tháng trước. Số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trong tháng 10/2020 tăng 18,4% so với tháng 9/2020, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 10,4%. Tính chung 10 tháng năm 2020, cả nước có gần 111,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước, quy mô vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới đạt 14,3 tỷ đồng, tăng 14,4%.
 
Trong tháng 10/2020, cả nước có 12,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 165,6 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 72,4 nghìn lao động, tăng 18,4% về số doanh nghiệp, giảm 18,5% về vốn đăng ký và giảm 12,7% về số lao động so với tháng trước[5]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 13,6 tỷ đồng, giảm 31,2% so với tháng trước và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng, cả nước còn có 5.044 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 10,4% so với tháng trước và giảm 30,4% so với cùng kỳ năm 2019; có 3.293 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 0,7% và tăng 57,9%; có 3.579 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 12,6% và giảm 28,6%; có 1.413 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 18,6% và tăng 0,2%.
 
Tính chung 10 tháng, cả nước có gần 111,2 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.594,1 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 850,3 nghìn lao động, giảm 2,9% về số doanh nghiệp, tăng 11,1% về vốn đăng ký và giảm 17% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng đạt 14,3 tỷ đồng, tăng 14,4% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 2.298 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 32,6 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm nay là 3.892,1 nghìn tỷ đồng, tăng 17% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 37,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 8,2% so với 10 tháng năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng lên 148,9 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước. Trung bình mỗi tháng có gần 14,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
 
Theo khu vực kinh tế, 10 tháng năm nay có 2.187 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm trước; gần 33,4 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 8,6%; 75,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 7,9%. Trong tất cả các ngành, lĩnh vực hoạt động, bên cạnh ngành nông, lâm nghiệp, thủy sản còn có ngành sản xuất phân phối điện, nước, gas có số doanh nghiệp thành lập mới đạt 4.877 doanh nghiệp, tăng 270,6% so với cùng kỳ năm trước. Các ngành còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới giảm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 36,6 nghìn doanh nghiệp, giảm 2,3% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 14,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo 13,8 nghìn doanh nghiệp, giảm 4,4%; khoa học công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 9.520 doanh nghiệp, giảm 0,9%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 5.557 doanh nghiệp, giảm 17,8%; kinh doanh bất động sản 5.474 doanh nghiệp, giảm 19,2%; vận tải, kho bãi 4.513 doanh nghiệp, giảm 5,5%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 4.296 doanh nghiệp, giảm 22,2%; thông tin truyền thông 3.103 doanh nghiệp, giảm 4,8%; giáo dục và đào tạo 3.051 doanh nghiệp, giảm 11,8%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 1.050 doanh nghiệp, giảm 13,1%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 746 doanh nghiệp, giảm 3,6%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 731 doanh nghiệp, giảm 35,9%; khai khoáng 564 doanh nghiệp, giảm 1,4%.
 
Trong 10 tháng có gần 85,6 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: 41,8 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 58,7%; gần 30,3 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 12,4%; 13,5 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,1%, trong đó có 11,9 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 2%; 223 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 23,9%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có gần 5,1 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.525 doanh nghiệp; xây dựng có 1.137 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 867 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 786 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 746 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 733 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 544 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 506 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 479 doanh nghiệp. Trung bình mỗi tháng có 8,6 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
 
4. Đầu tư
 
Các Bộ, ngành và địa phương đang nỗ lực tập trung thực hiện những giải pháp đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, tuy nhiên tình hình mưa bão ở miền Trung trong tháng Mười đã gây ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án, công trình. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười ước tính đạt 10,25% so với kế hoạch năm 2020, tăng không đáng kể so với mức 10,15% của tháng Chín. So với cùng kỳ năm trước, tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười và 10 tháng năm nay tiếp tục đạt mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020[6].
 
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 10/2020 ước tính đạt 52 nghìn tỷ đồng, tăng 42,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý 10,3 nghìn tỷ đồng, tăng 61,9%; vốn địa phương quản lý 41,7 nghìn tỷ đồng, tăng 38%. Tính chung 10 tháng năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 354,6 nghìn tỷ đồng, bằng 69,8% kế hoạch năm và tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 68,8% và tăng 6,7%), cụ thể:
 
- Vốn Trung ương quản lý đạt 62,1 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7% kế hoạch năm và tăng 67,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 16.971 tỷ đồng, bằng 71,7% và tăng 79%; Bộ Y tế 4.044 tỷ đồng, bằng 60,6% và tăng 38,6%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 3.211 tỷ đồng, bằng 68,9% và tăng 45,4%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 1.833 tỷ đồng, bằng 59,8% và tăng 88,9%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 858 tỷ đồng, bằng 54,2% và tăng 17,4%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 470 tỷ đồng, bằng 64,9% và tăng 0,8%; Bộ Công Thương 302 tỷ đồng, bằng 70,1% và tăng 69,2%; Bộ Xây dựng 258 tỷ đồng, bằng 72,7% và tăng 52,3%; Bộ Khoa học và Công nghệ 169 tỷ đồng, bằng 59,4% và giảm 21,6%; Bộ Thông tin và Truyền thông 86 tỷ đồng, bằng 62,1% và giảm 16,9%.
 
- Vốn địa phương quản lý đạt 292,5 nghìn tỷ đồng, bằng 70,3% kế hoạch năm và tăng 29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 197,1 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7% và tăng 28,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 80,6 nghìn tỷ đồng, bằng 75% và tăng 30,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 14,8 nghìn tỷ đồng, bằng 85,5% và tăng 26,6%. Vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2020 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 35.796 tỷ đồng, bằng 78,9% kế hoạch năm và tăng 3% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 32.159 tỷ đồng, bằng 67,2% và tăng 74,9%; Quảng Ninh 13.252 tỷ đồng, bằng 76,3% và tăng 58,1%; Bình Dương 10.661 tỷ đồng, bằng 71,5% và tăng 20,5%; Hải Phòng 8.828 tỷ đồng, bằng 61,1% và tăng 11,5%; Thanh Hóa 8.247 tỷ đồng, bằng 80,4% và tăng 30,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu 6.492 tỷ đồng, bằng 67% và tăng 19,7%; Nghệ An 6.360 tỷ đồng, bằng 82% và tăng 41,3%; Bình Định 6.005 tỷ đồng, bằng 73,7% và tăng 31,2%.
 
Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/10/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 23,5 tỷ USD, giảm 19,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 2.100 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11,7 tỷ USD, giảm 32,1% về số dự án và giảm 9,1% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 907 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 5,7 tỷ USD, tăng 4,4%; có 5.451 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn đạt 6,1 tỷ USD, giảm 43,5%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.392 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp gần 2,5 tỷ USD và 4.059 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị hơn 3,6 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng ước tính đạt 15,8 tỷ USD, giảm 2,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 11,2 tỷ USD, chiếm 71% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2,3 tỷ USD, chiếm 14,5%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt gần 1,1 tỷ USD, chiếm 6,9%.
 
Trong 10 tháng năm 2020, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 5,1 tỷ USD, chiếm 43,9% tổng số vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 4,8 tỷ USD, chiếm 41,2%; các ngành còn lại đạt 1,8 tỷ USD, chiếm 14,9%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 9,2 tỷ USD, chiếm 52,8% tổng số vốn; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 4,7 tỷ USD[7], chiếm 26,9%; các ngành còn lại đạt 3,5 tỷ USD, chiếm 20,3%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 1,6 tỷ USD, chiếm 25,8% tổng vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,5 tỷ USD, chiếm 24,6%; các ngành còn lại đạt 3 tỷ USD, chiếm 49,6%.
 
Trong số 74 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 10 tháng, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 5,4 tỷ USD, chiếm 46,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Trung Quốc 1,3 tỷ USD, chiếm 11,5%; Hàn Quốc 1,1 tỷ USD, chiếm 9,4%; Đài Loan (TQ) 934,8 triệu USD, chiếm 8%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 909,4 triệu USD, chiếm 7,8%; Nhật Bản 471,9 triệu USD, chiếm 4%.
 
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 10 tháng năm 2020 có 107 dự án được cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư mới với tổng số vốn đầu tư của phía Việt Nam là 314,5 triệu USD; có 28 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm đạt 163,8 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 10 tháng đạt 478,3 triệu USD, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 228,1 triệu USD, chiếm 47,7% tổng vốn đầu tư; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 68,2 triệu USD, chiếm 14,3%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 62,6 triệu USD, chiếm 13,1%; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 51,1 triệu USD, chiếm 10,7%. Trong 10 tháng có 27 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Ôx-trây-li-a là nước dẫn đầu với 101,8 triệu USD, chiếm 21,3%; Đức 92,6 triệu USD, chiếm 19,4%; Lào 88,7 triệu USD, chiếm 18,6%; Hoa Kỳ 69,6 triệu USD, chiếm 14,6%.
 
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước
 
Dịch Covid-19 được kiểm soát trên phạm vi cả nước, các hoạt động sản xuất kinh doanh của nền kinh tế từng bước trở lại hoạt động trong trạng thái bình thường mới, tăng trưởng của nền kinh tế khởi sắc trong quý III là các nhân tố tác động tích cực đến kết quả thu, chi ngân sách Nhà nước tháng 10/2020.
 
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2020 ước tính đạt 1.018,6 nghìn tỷ đồng, bằng 67,4% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 846,6 nghìn tỷ đồng, bằng 67%; thu từ dầu thô 28,4 nghìn tỷ đồng, bằng 80,7%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 142,7 nghìn tỷ đồng, bằng 68,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 104,1 nghìn tỷ đồng, bằng 58,5% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 141,2 nghìn tỷ đồng, bằng 61,7%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 156,2 nghìn tỷ đồng, bằng 57,6%; thu thuế thu nhập cá nhân 92 nghìn tỷ đồng, bằng 71,5%; thu thuế bảo vệ môi trường 44,5 nghìn tỷ đồng, bằng 65,8%; thu tiền sử dụng đất 108 nghìn tỷ đồng, bằng 112,7%.
 
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2020 ước tính đạt 1.183,3 nghìn tỷ đồng, bằng 67,7% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 801,8 nghìn tỷ đồng, bằng 75,9%; chi đầu tư phát triển 288,7 nghìn tỷ đồng, bằng 61,3%; chi trả nợ lãi 85,4 nghìn tỷ đồng, bằng 72,3%.
 
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
 
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
 
Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng Mười tiếp tục xu hướng tăng, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 10/2020 tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 1,3%.
 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tính đạt 450,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,4% so với tháng trước và tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 356,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,5% và tăng 11%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 44,8 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1% và giảm 9%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 1,2 nghìn tỷ đồng, giảm 0,1% và giảm 69,8%; doanh thu dịch vụ khác đạt 48,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2% và giảm 4,4%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 4.123 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 3% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,7%).
 
Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng đạt 3.263,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,1% tổng mức và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 9,4%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,3%; may mặc tăng 1,6%; phương tiện đi lại giảm 1,1%; vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 1%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Hải Phòng tăng 11,5%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 9,9%; Đồng Nai tăng 9,8%; Hà Nội tăng 9,7%; Bình Định tăng 5,1%; Nghệ An tăng 4,1%; Thanh Hóa tăng 4%; Cần Thơ tăng 3,3%; Đà Nẵng giảm 5,7%; Khánh Hòa giảm 2%.
 
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng năm nay ước tính đạt 412,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 10% tổng mức và giảm 14,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,5%). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Khánh Hòa giảm 58,6%; Quảng Nam giảm 53,8%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 39,1%; Đà Nẵng giảm 38,1%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 37,5%; Quảng Bình giảm 23,6%; Bình Định giảm 15,5%; Hà Nội giảm 15,4%; Thanh Hóa giảm 14,4%; Cần Thơ giảm 13,3%; Hải Phòng giảm 7,1%; Quảng Ninh giảm 3,9%.
 
Doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng ước tính đạt 15,4 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng mức và giảm 57,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,9%). Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Khánh Hòa giảm 80,4%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 74,4%; Quảng Nam giảm 73,7%; Đà Nẵng giảm 71,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 67,1%; Bình Dương giảm 59,8%; Quảng Bình giảm 55%; Cần Thơ giảm 53,7%; Hà Nội giảm 45,1%; Bình Định giảm 44,3%; Quảng Ninh giảm 42%; Thanh Hóa giảm 39,2%; Hải Phòng giảm 31,6%.
 
  Doanh thu dịch vụ khác 10 tháng ước tính đạt 431,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,5% tổng mức và giảm 5,4% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó doanh thu của Quảng Nam giảm 37%; Đà Nẵng giảm 18,5%; Thanh Hóa giảm 11,6%; Đồng Nai giảm 9,5%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 8,6%; Hà Nội giảm 4,7%; Quảng Bình giảm 4,4%; Hải Phòng giảm 3,7%; Cần Thơ giảm 3,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 2,5%; Bình Dương tăng 5,3%.
 
b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[8]
 
Mặc dù dịch Covid-19 ngày càng diễn biến phức tạp trên thế giới nhưng hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam vẫn tiếp tục giữ mức tăng dương. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2020 ước tính đạt 439,82 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 229,27 tỷ USD, tăng 4,7%; nhập khẩu đạt 210,55 tỷ USD, tăng 0,4%[9]. Cán cân thương mại hàng hóa 10 tháng năm 2020 ước tính xuất siêu kỷ lục 18,72 tỷ USD.
 
Xuất khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 9/2020 đạt 27.163 triệu USD, thấp hơn 337 triệu USD so với số ước tính, trong đó phương tiện vận tải và phụ tùng thấp hơn 147 triệu USD; dầu thô thấp hơn 80 triệu USD; đá quý, kim loại quý và sản phẩm thấp hơn 37 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện thấp hơn 35 triệu USD.
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10/2020 ước tính đạt 26,7 tỷ USD, giảm 1,7% so với tháng trước và tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 229,27 tỷ USD, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm trước.
 
Trong 10 tháng có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (trong đó có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 59,9%), cụ thể: Điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 42 tỷ USD, chiếm 18,3% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 4,5% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 36,2 tỷ USD, tăng 24,3%; hàng dệt may đạt 24,8 tỷ USD, giảm 9,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 21 tỷ USD, tăng 42%; giày dép đạt 13,4 tỷ USD, giảm 9,9%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 9,6 tỷ USD, tăng 12,4%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 7,3 tỷ USD, tăng 3%; thủy sản đạt 6,9 tỷ USD, giảm 2,5%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu 10 tháng của hầu hết các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 2,7 tỷ USD, giảm 12,5%; hạt điều đạt 2,6 tỷ USD, giảm 3,4% (lượng tăng 11,5%); cà phê đạt 2,3 tỷ USD, giảm 0,7% (lượng giảm 1,3%); cao su đạt 1,7 tỷ USD, giảm 4,2% (lượng tăng 0,8%); hạt tiêu đạt 537 triệu USD, giảm 15,2% (lượng giảm 4,6%); chè đạt 179 triệu USD, giảm 5,6% (lượng tăng 2,4%). Riêng sản phẩm gạo đạt 2,6 tỷ USD, tăng 8,2% (lượng giảm 4%).
 
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 10 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 123,8 tỷ USD, tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 54% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (tăng 1,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 81,8 tỷ USD, tăng 1,5% và chiếm 35,7% (giảm 1,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 16,8 tỷ USD, giảm 1,5% và chiếm 7,3% (giảm 0,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 6,9 tỷ USD, giảm 2,5% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm).
 
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng với kim ngạch đạt 62,3 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 37,6 tỷ USD, tăng 14%. Thị trường EU đạt 28,9 tỷ USD, giảm 3%. Thị trường ASEAN đạt 18,9 tỷ USD, giảm 11,6%. Hàn Quốc đạt 16,3 tỷ USD, giảm 2,6%. Nhật Bản đạt 15,6 tỷ USD, giảm 7%.
 
Nhập khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 9/2020 đạt 24.204 triệu USD, cao hơn 204 triệu USD so với số ước tính, trong đó máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 128 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 69 triệu USD; sản phẩm chất dẻo cao hơn 34 triệu USD.
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2020 ước tính đạt 24,5 tỷ USD, tăng 1,2% so với tháng trước và tăng 10,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 210,55 tỷ USD, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước.
 
Trong 10 tháng năm 2020 có 34 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,4% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện đạt 51,3 tỷ USD (chiếm 24,4% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 29,8 tỷ USD, giảm 0,6%; điện thoại và linh kiện đạt 12,6 tỷ USD, tăng 4%; vải đạt 9,5 tỷ USD, giảm 13%; sắt thép đạt 6,7 tỷ USD, giảm 17%; chất dẻo đạt 6,7 tỷ USD, giảm 10,7%; sản phẩm chất dẻo đạt 5,9 tỷ USD, tăng 9,6%; kim loại thường đạt 4,8 tỷ USD, giảm 8,9%; ô tô đạt 4,8 tỷ USD, giảm 21,5%; sản phẩm hóa chất đạt 4,6 tỷ USD, tăng 3,3%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 4,4 tỷ USD, giảm 10,9%; hóa chất đạt 4 tỷ USD, giảm 6%.
 
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 10 tháng năm 2020, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 194,93 tỷ USD, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 92,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 15,62 tỷ USD, tăng 6,5% và chiếm 7,4%.
 
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong 10 tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 65,8 tỷ USD, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 37,4 tỷ USD, giảm 5,3%; thị trường ASEAN đạt 24,4 tỷ USD, giảm 8,5%; Nhật Bản đạt 16,5 tỷ USD, tăng 2,5%; thị trường EU đạt 11,8 tỷ USD, tăng 4,2%; Hoa Kỳ đạt 11,6 tỷ USD, giảm 2,4%.
 
Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 9/2020 xuất siêu 3 tỷ USD[10]; 9 tháng xuất siêu 16,52 tỷ USD; tháng Mười ước tính xuất siêu 2,2 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu kỷ lục 18,72 tỷ USD[11].
 
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
 
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 10/2020 cùng mức tăng 0,09% so với tháng trước và so với tháng 12 năm trước - đều là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[12], chủ yếu do giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trườngnh hưởng của mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 10 tháng năm 2020 tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước.
 
Trong mức tăng 0,09% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2020 so với tháng trước có 6/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó: Nhóm giáo dục tăng nhiều nhất với 1,35% (dịch vụ giáo dục tăng 1,52% làm CPI chung tăng 0,08%) do trong tháng có 9 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện lộ trình tăng học phí cho năm học mới 2020-2021. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29%, chủ yếu do giá gas tăng 1,77% (làm CPI chung tăng 0,03%), giá nhóm vật liệu, bảo dưỡng và nhóm dịch vụ sửa chữa nhà ở lần lượt tăng 0,15% và 0,2%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,08%[13]; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,06% do nhu cầu mua sắm khi thời tiết chuyển mùa; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,09%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,18%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,13% (lương thực tăng 0,16%[14]; thực phẩm giảm 0,28%[15]); nhóm giao thông giảm 0,08% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 26/9/2020 làm chỉ số giá xăng, dầu giảm 0,18% (tác động làm CPI chung giảm 0,01%), bên cạnh đó giá vé tàu hỏa giảm 0,95% vào dịp cuối hè và giá ô tô giảm 0,17% do nhiều gói ưu đãi, giảm giá xe hấp dẫn được các đại lý ô tô đưa ra để kích cầu tiêu dùng; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,03%. Riêng nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình không thay đổi.
 
CPI tháng 10/2020 tăng 0,09% so với tháng 12/2019 và tăng 2,47% so với cùng kỳ năm trước. CPI bình quân 10 tháng năm 2020 tăng 3,71% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.
 
Lạm phát cơ bản tháng 10/2020 tăng 0,07% so với tháng trước và tăng 1,88% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm 2020 tăng 2,52% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.
 
Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Giá vàng thế giới diễn biến thất thường do nhiều luồng thông tin trái chiều trước thềm bầu cử Tổng thống Mỹ và dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 25/10/2020 giảm 1,05% so với tháng 9/2020. Chỉ số giá vàng tháng 10/2020 giảm 1,1% so với tháng trước; tăng 30,91% so với tháng 12/2019 và tăng 29,63% so với cùng kỳ năm trước.
 
Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ và khả năng không chắc chắn về việc thông qua gói kích thích kinh tế thứ 2 của Quốc hội Mỹ là những nhân tố làm giá đô la Mỹ tăng. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2020 tăng 0,07% so với tháng trước; tăng 0,19% so với tháng 12/2019 và giảm 0,13% so với cùng kỳ năm trước.
 
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
 
Hoạt động vận tải tháng 10/2020 tiếp tục tăng so với tháng trước với mức tăng 2,9% về lượng hành khách vận chuyển và 3,7% về lượng hàng hóa vận chuyển, trong đó ngành hàng không ghi nhận sự phục hồi tích cực về sản lượng vận chuyển hành khách và hàng hóa với mức tăng lần lượt là 25,1% và 21,8% do các hãng hàng không khôi phục lại các đường bay nội địa và một số đường bay thương mại quốc tế. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng năm 2020, vận chuyển hành khách vẫn giảm 29,7% và vận chuyển hàng hóa giảm 7,5% so với cùng kỳ năm 2019.
 
Vận tải hành khách tháng Mười ước tính đạt 283,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 2,9% so với tháng trước và luân chuyển 12,4 tỷ lượt khách.km, tăng 7,6%. Tính chung 10 tháng năm 2020, vận tải hành khách đạt 2.916,7 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 29,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,6%) và luân chuyển 132,1 tỷ lượt khách.km, giảm 35,4% (cùng kỳ năm trước tăng 10,4%), trong đó vận tải trong nước đạt 2.913,9 triệu lượt khách, giảm 29,6% và 122,2 tỷ lượt khách.km, giảm 25,2%; vận tải ngoài nước đạt 2,8 triệu lượt khách, giảm 79,6% và 9,9 tỷ lượt khách.km, giảm 76,1%. Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường đều giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, trong đó vận tải hành khách đường bộ 10 tháng đạt 2.710,7 triệu lượt khách, giảm 30,5% so với cùng kỳ năm trước và 99,4 tỷ lượt khách.km, giảm 25,5%; đường thủy nội địa đạt 171,7 triệu lượt khách, giảm 8,8% và 3,1 tỷ lượt khách.km, giảm 16,8%; hàng không đạt 25,3 triệu lượt khách, giảm 44,6% và 28 tỷ lượt khách.km, giảm 56,4%; đường biển đạt 5,8 triệu lượt khách, giảm 28,4% và 258,4 triệu lượt khách.km, giảm 29,3%; đường sắt đạt 3,2 triệu lượt khách, giảm 54,9% và 1,3 tỷ lượt khách.km, giảm 52,5%.
 
Vận tải hàng hóa tháng Mười ước tính đạt 164 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 3,7% so với tháng trước và luân chuyển 30,1 tỷ tấn.km, tăng 4%. Tính chung 10 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.429.9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 7,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,3%) và luân chuyển 273,7 tỷ tấn.km, giảm 8,8% (cùng kỳ năm trước tăng 7,4%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.403,6 triệu tấn, giảm 7,3% và 145,7 tỷ tấn.km, giảm 12,2%; vận tải ngoài nước đạt 26,3 triệu tấn, giảm 18,6% và 128 tỷ tấn.km, giảm 4,6%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 10 tháng đạt 1.085,7 triệu tấn, giảm 6,6% so với cùng kỳ năm trước và 72,9 tỷ tấn.km, giảm 14,5%; đường thủy nội địa đạt 273,8 triệu tấn, giảm 11,6% và 55,2 tỷ tấn.km, giảm 10,8%; đường biển đạt 66,1 triệu tấn, giảm 4,2% và 139,6 tỷ tấn.km, giảm 2,8%; đường sắt đạt 4,1 triệu tấn, giảm 2,4% và 3 tỷ tấn.km, giảm 0,7%; đường hàng không đạt 223,8 nghìn tấn, giảm 38,5% và 2,9 tỷ tấn.km, giảm 55,2%.
 
e) Khách quốc tế đến Việt Nam
 
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười đạt 14,8 nghìn lượt người, tăng 7,6% so với tháng trước nhưng giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 10 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta đạt 3,8 triệu lượt người, giảm 73,8% so với cùng kỳ năm trước.
 
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng 10/2020 ước tính đạt 14,8 nghìn lượt người, tăng 7,6% so với tháng trước và giảm 99,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chỉ riêng khách đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Lào chiếm đến 70% lượng khách đến trong tháng. Tính chung 10 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.803,3 nghìn lượt người, giảm 73,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.064,8 nghìn lượt người, chiếm 80,6% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 73,4%; bằng đường bộ đạt 593,9 nghìn lượt người, chiếm 15,6% và giảm 78,5%; bằng đường biển đạt 144,6 nghìn lượt người, chiếm 3,8% và giảm 32,2%.
 
Trong 10 tháng năm nay, khách đến từ châu Á đạt 2.783,3 nghìn lượt người, chiếm 73,2% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 75,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 943,9 nghìn lượt người, giảm 79,4% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 833,2 nghìn lượt người, giảm 76,2%; Nhật Bản 203,7 nghìn lượt người, giảm 74,1%; Đài Loan 195,1 nghìn lượt người, giảm 74,4%; Thái Lan 127,2 nghìn lượt người, giảm 68%; Cam-pu-chia 121,7 nghìn lượt người, giảm 19%; Ma-lai-xi-a 116,8 nghìn lượt người, giảm 75,7%.
 
Khách đến từ châu Âu trong 10 tháng ước tính đạt 669,5 nghìn lượt người, giảm 62% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga 246 nghìn lượt người, giảm 52,7%; Vương quốc Anh 82,1 nghìn lượt người, giảm 68,7%; Pháp 75 nghìn lượt người, giảm 68,1%; Đức 61,8 nghìn lượt người, giảm 65,9%. Khách đến từ châu Mỹ ước tính đạt 235,6 nghìn lượt người, giảm 70,8% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 173,5 nghìn lượt người, giảm 72,1%. Khách đến từ châu Úc đạt 102,6 nghìn lượt người, giảm 72,1%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 92,6 nghìn lượt người, giảm 71,6%. Khách đến từ châu Phi đạt 12,3 nghìn lượt người, giảm 68,3% so với cùng kỳ năm 2019.
 
7. Một số tình hình xã hội
 
a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội
 
Trong tháng Mười, đời sống dân cư nhìn chung ổn định, thiếu đói không phát sinh trên phạm vi cả nước. Tính chung 10 tháng năm nay, cả nước có 16,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 66,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 75,7% về số lượt hộ thiếu đói và giảm 75,9% về số lượt nhân khẩu thiếu đói so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 733,6 tấn gạo.
 
Riêng đối với người dân bị ảnh hưởng của bão lũ, theo báo cáo của Ủy ban Quốc gia Ứng phó sự cố, thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn, đến ngày 22/10 Bộ Quốc phòng đã xuất cấp tổng cộng 77,5 tấn lương khô, 1,2 nghìn thùng mì tôm, 2 tấn gạo cho người dân vùng lũ; Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã cứu trợ khẩn cấp tổng giá trị 7,7 nghìn tỷ đồng. Thực hiện Quyết định số 1599/QĐ-TTg ngày 19/10/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc xuất cấp gạo từ nguồn dự trữ quốc gia, các địa phương có kế hoạch phân bổ gạo cứu đói cho nhân dân, đảm bảo không để người dân nào bị thiếu đói; các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Trị đã chi từ ngân sách địa phương hỗ trợ cho các gia đình có người chết 5 triệu đồng/người, người bị thương từ 1-3 triệu đồng/người.
 
b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
 
Trong tháng (19/9-18/10/2020), cả nước có 19.365 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (6 trường hợp tử vong); 15.441 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 45 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (1 trường hợp tử vong); 1 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 107 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. So với cùng kỳ năm trước số trường hợp mắc sốt xuất huyết giảm 54,7%; số trường hợp mắc bệnh tay chân miệng giảm 36,3%. Tính chung 10 tháng, cả nước có 84.411 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (13 trường hợp tử vong); 43.903 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 449 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (10 trường hợp tử vong); 12 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu và 3.031 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 247 trường hợp dương tính; 208 trường hợp dương tính với bạch hầu (5 trường hợp tử vong).
 
Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp tại nhiều quốc gia[16], 5 quốc gia có số ca mắc Covid-19 nhiều nhất thế giới là Mỹ, Ấn Độ, Bra-xin, Nga và Pháp. Tại Việt Nam, tính đến 6h00 ngày 28/10/2020 có 1.172 trường hợp mắc Covid-19, 1.066 trường hợp đã được chữa khỏi (35 trường hợp tử vong) và đã 56 ngày liên tiếp không ghi nhận ca mắc Covid-19 mới trong cộng đồng.
 
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/10/2020 là 210.871 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.077 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 99.044 người.
 
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Mười xảy ra 16 vụ với 373 người bị ngộ độc. Tính chung 10 tháng năm 2020, cả nước xảy ra 81 vụ với 2.040 người bị ngộ độc (21 người tử vong).
 
c) Tai nạn giao thông
 
Trong tháng (từ 15/9 đến 14/10), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.299 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 737 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 562 vụ va chạm giao thông, làm 580 người chết, 396 người bị thương và 625 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 9,7%; số người chết tăng 8,6% và số người bị thương tăng 5%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Mười giảm 17,6% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 10,6% và số vụ va chạm giao thông giảm 25,3%); số người chết giảm 12%; số người bị thương giảm 17% và số người bị thương nhẹ giảm 19,6%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2020, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 11.653 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6.717 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 4.936 vụ va chạm giao thông, làm 5.456 người chết, 3.523 người bị thương và 5.107 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 10 tháng giảm 18,2% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 10,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 26,4%); số người chết giảm 13,6%; số người bị thương giảm 14,3% và số người bị thương nhẹ giảm 24,5%. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 16 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 12 người bị thương và 17 người bị thương nhẹ.
 
d) Thiệt hại do thiên tai
 
Thiên tai xảy ra trong tháng Mười chủ yếu là bão, mưa lớn, sạt lở, lốc xoáy tại một số địa phương làm 153 người chết và mất tích, 222 người bị thương; 111,9 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, ngập và hư hỏng; 3 nghìn con gia súc và 600,5 nghìn con gia cầm bị chết; 45 nghìn ha lúa và 22,3 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 2,7 nghìn tỷ đồng. Theo báo cáo sơ bộ của các địa phương, riêng mưa lũ tại các tỉnh miền Trung làm 129 người chết và mất tích, 214 người bị thương; 111,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, ngập và hư hỏng; hơn 1 nghìn ha lúa và 7,2 nghìn ha hoa màu bị ngập, hư hỏng; ước tính tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 2,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,8% tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra. Trong đó, tỉnh Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế và Quảng Bình chịu thiệt hại nặng nề với 106 người chết, mất tích, 133 người bị thương; 95,3 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi, ngập và hư hỏng, 2,4 nghìn con gia súc và 573,2 nghìn con gia cầm bị chết, thiệt hại ước tính hơn 1,4 nghìn tỷ đồng.
 
Tính chung 10 tháng năm 2020, thiên tai làm 249 người chết và mất tích, 516 người bị thương; 1.940 ngôi nhà bị sập đổ; 212,7 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng; 187,8 nghìn ha lúa và gần 90 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 10,1 nghìn tỷ đồng, trong đó thiệt hại do bão, lũ là 3,5 nghìn tỷ đồng.
 
e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
 
Trong tháng 10/2020, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.238 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.107 vụ với tổng số tiền phạt là 20,7 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm nay đã phát hiện 12.554 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 11.470 vụ với tổng số tiền phạt là 143,3 tỷ đồng.
 
Trong tháng, cả nước xảy ra 164 vụ cháy, nổ, làm 8 người chết và 10 người bị thương, thiệt hại ước tính 45,9 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.418 vụ cháy, nổ, làm 87 người chết và 141 người bị thương, thiệt hại ước tính 462,1 tỷ đồng./.
 
 
 TỔNG CỤC THỐNG KÊ
 
 

[1] Do các địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ: 2 nghìn ha chuyển sang đất phi nông nghiệp để xây dựng các công trình thủy lợi, cơ sở hạ tầng; 9,9 nghìn ha chuyển sang trồng cây hằng năm khác; 10,7 nghìn ha chuyển sang trồng cây lâu năm; 0,3 nghìn ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản; 40 nghìn ha diện tích không sản xuất do ảnh hưởng của nắng nóng, khô hạn; số còn lại giảm do ngừng sản xuất để cải tạo đất hoặc chuyển đổi mùa vụ.
 
[2] Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau.
 
[3] Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2020 tăng 3,5% so với tháng trước; tháng Chín tăng 2,3% và tháng Mười tăng 3,6%.
 
[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Báo cáo nhận ngày 26/10/2020).
 
[5] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 0,2%; số vốn đăng ký tăng 15,3%; lao động giảm 23,5%.
 
[6] Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng Mười so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: Năm 2016 tăng 20,5%; năm 2017 tăng 10,7%; năm 2018 tăng 16,9%; năm 2019 tăng 8,8%; năm 2020 tăng 42,2%. Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN 10 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: Năm 2016 tăng 14%; năm 2017 tăng 7,1%; năm 2018 tăng 12,1%; năm 2019 tăng 6,7%; năm 2020 tăng 34,4%.
 
[7] Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có 5 dự án điều chỉnh vốn làm giảm 129,8 triệu USD.
 
[8] Số liệu tháng 10/2020 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/10/2020 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào ngày 28/10/2020.
 
[9] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2019 đạt 428,58 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 218,94 tỷ USD, tăng 8,3%; nhập khẩu đạt 209,64 tỷ USD, tăng 7,6%.
 
[10] Ước tính xuất siêu 3,5 tỷ USD.
 
[11] Trong đó, xuất siêu sang EU đạt 17,1 tỷ USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 28,2 tỷ USD, giảm 2,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 21,1 tỷ USD, giảm 7,3%; nhập siêu từ ASEAN 5,5 tỷ USD, tăng 4,1%.
 
[12] Tốc độ tăng CPI tháng Mười so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,83%; tăng 0,41%; tăng 0,33%; tăng 0,59%; tăng 0,09%. Tốc độ tăng CPI tháng Mười so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 4%; tăng 2,25%; tăng 3,54%; tăng 2,79%; tăng 0,09%.
 
[13] Trong đó: Rượu tăng 0,12%; thuốc lá tăng 0,19%; nước uống giải khát có gas tăng 0,13%.
 
[14] Do giá gạo tăng 0,21% nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và chuẩn bị hàng xuất khẩu cuối năm tăng.
 
[15] Chủ yếu do giá thịt lợn giảm 2,84%; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò chả giảm 1,03%; nội tạng động vật giảm 1,57%; mỡ ăn giảm 4,5%); giá thịt gia cầm giảm 0,5%. Tuy nhiên, do ảnh hưởng mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung nên giá rau tươi tăng 1,86% (làm CPI chung tăng 0,04%); giá thủy hải sản tươi sống tăng 0,11%.
 
[16] Tính đến 6h00 ngày 28/10/2020, trên thế giới có 44.218,6 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (1.171,1 nghìn trường hợp tử vong).
 
[17] Do các địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và mùa vụ: 2 nghìn ha chuyển sang đất phi nông nghiệp để xây dựng các công trình thủy lợi, cơ sở hạ tầng; 9,9 nghìn ha chuyển sang trồng cây hằng năm khác; 10,7 nghìn ha chuyển sang trồng cây lâu năm; 0,3 nghìn ha chuyển sang nuôi trồng thủy sản; 40 nghìn ha diện tích không sản xuất do ảnh hưởng của nắng nóng, khô hạn; số còn lại giảm do ngừng sản xuất để cải tạo đất hoặc chuyển đổi mùa vụ.
 
[18] Hà Nội, Bắc Ninh, Quảng Ninh, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Cà Mau.
 
[19] Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2020 tăng 3,5% so với tháng trước; tháng Chín tăng 2,3% và tháng Mười tăng 3,6%.
 
[20] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Báo cáo nhận ngày 26/10/2020).
 
[21] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 0,2%; số vốn đăng ký tăng 15,3%; lao động giảm 23,5%.
 
[22] Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng Mười so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: Năm 2016 tăng 20,5%; năm 2017 tăng 10,7%; năm 2018 tăng 16,9%; năm 2019 tăng 8,8%; năm 2020 tăng 42,2%. Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN 10 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: Năm 2016 tăng 14%; năm 2017 tăng 7,1%; năm 2018 tăng 12,1%; năm 2019 tăng 6,7%; năm 2020 tăng 34,4%.
 
[23] Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có 5 dự án điều chỉnh vốn làm giảm 129,8 triệu USD.
 
[24] Số liệu tháng 10/2020 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/10/2020 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào ngày 28/10/2020.
 
[25] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2019 đạt 428,58 tỷ USD, tăng 8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 218,94 tỷ USD, tăng 8,3%; nhập khẩu đạt 209,64 tỷ USD, tăng 7,6%.
 
[26] Ước tính xuất siêu 3,5 tỷ USD.
 
[27] Trong đó, xuất siêu sang EU đạt 17,1 tỷ USD, giảm 7,4% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 28,2 tỷ USD, giảm 2,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 21,1 tỷ USD, giảm 7,3%; nhập siêu từ ASEAN 5,5 tỷ USD, tăng 4,1%.
 
[28] Tốc độ tăng CPI tháng Mười so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,83%; tăng 0,41%; tăng 0,33%; tăng 0,59%; tăng 0,09%. Tốc độ tăng CPI tháng Mười so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 4%; tăng 2,25%; tăng 3,54%; tăng 2,79%; tăng 0,09%.
 
[29] Trong đó: Rượu tăng 0,12%; thuốc lá tăng 0,19%; nước uống giải khát có gas tăng 0,13%.
 
[30] Do giá gạo tăng 0,21% nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và chuẩn bị hàng xuất khẩu cuối năm tăng.
 
[31] Chủ yếu do giá thịt lợn giảm 2,84%; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò chả giảm 1,03%; nội tạng động vật giảm 1,57%; mỡ ăn giảm 4,5%); giá thịt gia cầm giảm 0,5%. Tuy nhiên, do ảnh hưởng mưa bão, lũ lụt tại các tỉnh miền Trung nên giá rau tươi tăng 1,86% (làm CPI chung tăng 0,04%); giá thủy hải sản tươi sống tăng 0,11%.
 
[32] Tính đến 6h00 ngày 28/10/2020, trên thế giới có 44.218,6 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (1.171,1 nghìn trường hợp tử vong).

Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top