Kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021

29/10/2021 - 10:23 AM
 
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
 
Sản xuất nông nghiệp trong tháng Mười tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc. Chăn nuôi gặp khó khăn do giá bán thấp, nguồn cung tăng trong khi nhu cầu về thực phẩm vẫn thấp do tác động của dịch bệnh. Sản xuất lâm nghiệp có nhiều thuận lợi khi các địa phương gỡ bỏ giãn cách xã hội, hoạt động trồng rừng và khai thác gỗ bắt đầu vào đà tăng để đạt kế hoạch năm 2021. Các doanh nghiệp chế biến thủy sản đang dần phục hồi sản xuất, tăng công suất hoạt động. Chuỗi cung ứng sản xuất-chế biến-tiêu thụ sản phẩm nông, lâm nghiệp và thủy sản dần được hồi phục.

a) Nông nghiệp

Vụ lúa mùa năm 2021 cả nước gieo cấy được 1.558,8 nghìn ha, bằng 98,3% vụ mùa năm trước, trong đó: Các địa phương phía Bắc đạt 1.040,9 nghìn ha, bằng 99,1% (giảm 9,3 nghìn ha); các địa phương phía Nam đạt 517,9 nghìn ha, bằng 96,7% (giảm 17,7 nghìn ha). Diện tích gieo cấy lúa vụ mùa năm nay giảm chủ yếu do các địa phương chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu sản xuất sang trồng cây hằng năm khác hoặc cây lâu năm có hiệu quả kinh tế cao hơn hoặc sang nuôi trồng thủy sản.

Tính đến trung tuần tháng Mười, cả nước thu hoạch được 995,5 nghìn ha lúa mùa, chiếm 64,1% diện tích gieo cấy và bằng 96,4% cùng kỳ năm trước, trong đó: Các địa phương phía Bắc thu hoạch được 698,7 nghìn ha, chiếm 67,1% và bằng 98%; các địa phương phía Nam thu hoạch được 296,8 nghìn ha, chiếm 57,3% và bằng 92,7%. Mặc dù thời tiết đầu vụ không thuận lợi, hạn hán trên diện rộng gây khó khăn cho việc gieo cấy nhưng trong quá trình cây lúa sinh trưởng và phát triển, nắng mưa xen kẽ nguồn nước được bảo đảm, cây lúa đẻ nhánh nhanh và đồng đều, công tác phòng trừ dịch bệnh trên cây trồng kịp thời nên ước tính năng suất lúa mùa năm nay đạt 51,5 tạ/ha, tăng 0,4 tạ/ha so với năm trước. Tuy nhiên, do diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng lúa mùa năm nay ước tính đạt 8,03 triệu tấn, giảm 73,5 nghìn tấn so với vụ mùa trước.

Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trên cả nước hoàn thành sản xuất lúa hè thu với diện tích gieo trồng đạt 1.954 nghìn ha, tăng 8,9 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2020. Thời tiết vụ hè thu năm nay cơ bản thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển nên năng suất đã tăng trở lại với 56,5 tạ/ha, tăng 1,2 tạ/ha so với vụ hè thu trước; sản lượng đạt 11,04 triệu tấn, tăng 282,8 nghìn tấn. Trong đó, một số địa phương ở vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải miền trung có diện tích và sản lượng lúa hè thu tăng: Khánh Hoà diện tích tăng 11,2 nghìn ha và sản lượng tăng 66,7 nghìn tấn; Bình Định tăng 3,2 nghìn ha và tăng 20,7 nghìn tấn; Quảng Ngãi tăng 2,7 nghìn ha và tăng 15,3 nghìn tấn. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long diện tích gieo trồng đạt 1.509 nghìn ha, giảm 15,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước, năng suất đạt 56,6 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha, sản lượng đạt 8,55 triệu tấn, tăng 76,7 nghìn tấn.

Đến giữa tháng Mười, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 672 nghìn ha lúa thu đông, bằng cùng kỳ năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch 272,7 nghìn ha, chiếm 40,6% diện tích gieo cấy và bằng 91,4% cùng kỳ năm trước. Diện tích lúa còn lại hiện nay chủ yếu ở giai đoạn chắc xanh đến chín, sinh trưởng và phát triển khá tốt.

Tiến độ gieo trồng màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc đạt thấp hơn so với cùng kỳ do ảnh hưởng của bão, áp thấp nhiệt đới và mưa nhiều. Tính đến ngày 15/10/2021, cả nước gieo trồng được 63,8 nghìn ha ngô, bằng 94,1% cùng kỳ năm trước; 7,7 nghìn ha khoai lang, bằng 70%; 2 nghìn ha đậu tương, bằng 87%; 3,7 nghìn ha lạc, bằng 90,2%; 79,3 nghìn ha rau đậu, bằng 99%.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021

Chăn nuôi lợn đang đứng trước nhiều khó khăn khi giá thịt lợn hơi trong tháng Mười tiếp tục giảm sâu so với tháng trước do nguồn cung đã phục hồi nhưng nhu cầu tiêu thụ thấp, thêm vào đó giá các chi phí đầu vào tăng cao khiến nhiều cơ sở chăn nuôi bị thua lỗ. Chăn nuôi gia cầm gặp khó khăn do chi phí sản xuất tăng, nhu cầu thị trường giảm, lượng vật nuôi tồn đọng trong chuồng cao, tình trạng thua lỗ kéo dài.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định, dịch viêm da nổi cục đang dần được kiểm soát nhưng nguy cơ tái phát vẫn còn cao. Chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành cần tiếp tục triển khai các giải pháp phòng, chống dịch bệnh, tổ chức hiệu quả việc tiêm vắc xin; giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời các ổ dịch mới phát sinh; xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, mua bán trâu, bò trái phép, không rõ nguồn gốc.

Tính đến ngày 20/10/2021, cả nước không còn dịch lợn tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn ở Lạng Sơn; dịch tả lợn châu Phi còn ở 42 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 28 địa phương chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng 10/2021 ước tính đạt 30,5 nghìn ha, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 13,8 triệu cây, tăng 8,0%. Do thời tiết thuận lợi nên hoạt động trồng rừng tăng khá tại một số địa phương như: Lào Cai đạt 652 ha, tăng 12,0% so với cùng kỳ năm trước; Thanh Hóa 1.045 ha, tăng 8,3%; Nghệ An 2.771 ha, tăng 10,8%; Quảng Trị 1.707 ha, tăng 22,7%. Các cơ sở chế biến gỗ dăm dần hoạt động bình thường, nhiều nhà máy đã bắt đầu khởi động sản xuất các đơn hàng phục vụ nhu cầu cuối năm khiến nhu cầu gỗ nguyên liệu tăng, giá gỗ keo tăng nhẹ nên người dân đẩy mạnh khai thác keo. Sản lượng gỗ khai thác tháng Mười đạt 1.700 nghìn m3, tăng 3,2%; sản lượng củi khai thác đạt 1,4 triệu ste, giảm 2,2%.

Tính chung 10 tháng năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 206,4 nghìn ha, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 78,9 triệu cây, tăng 3,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 14.289 nghìn m3, tăng 4,2%; sản lượng củi khai thác đạt 15,7 triệu ste, giảm 0,9%.

Trong tháng 10/2021, diện tích rừng bị thiệt hại[1] là 121,9 ha, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 34,4 ha, gấp 2,3 lần; diện tích rừng bị chặt, phá là 87,5 ha, tăng 15,1%. Các tỉnh có diện tích rừng bị cháy cao trong tháng là Quảng Nam 26,1 ha, Bắc Giang 4,1 ha, Bình Định 3,2 ha. Ước tính 10 tháng năm 2021, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.979,0 ha, tăng 44,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 1.229,0 ha, tăng 98,7%; diện tích rừng bị chặt, phá là 750,0 ha, tăng 0,3%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười ước tính đạt 798,1 nghìn tấn, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 555,7 nghìn tấn, tăng 0,8%; tôm đạt 135,8 nghìn tấn, giảm 0,1%; thủy sản khác đạt 106,6 nghìn tấn, giảm 2,8%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 492,1 nghìn tấn, tăng 0,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 324,7 nghìn tấn, tăng 1,2%; tôm đạt 123,4 nghìn tấn, tăng 0,1%.

Tính đến trung tuần tháng 10/2021, giá cá tra nguyên liệu ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long[2] dao động ở mức 22.000-23.500 đồng/kg, tăng 500-1.000 đồng/kg so với các tháng thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Do dịch Covid-19 dần được kiểm soát nên việc thu hoạch, tiêu thụ và vận chuyển thuận lợi hơn. Sản lượng cá tra tháng Mười ước tính đạt 143,7 nghìn tấn, tăng 6,1% so với cùng kỳ năm trước.

Giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu tăng ở tất cả kích cỡ tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long[3]. Các doanh nghiệp chế biến tôm đang trên đà phục hồi sản xuất, tăng dần công suất hoạt động so với những tháng có dịch Covid-19 bùng phát. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng 10/2021 ước tính đạt 85,3 nghìn tấn, tăng 0,4% so với cùng kỳ năm trước; tôm sú đạt 33,6 nghìn tấn, giảm 0,9%.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 10/2021 ước tính đạt 306,0 nghìn tấn, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 231,0 nghìn tấn, tăng 0,1%; tôm đạt 12,4 nghìn tấn, giảm 1,6%; thủy sản khác đạt 62,6 nghìn tấn, giảm 4,8%. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Mười ước tính đạt 288,1 nghìn tấn, giảm 1,0% so với cùng kỳ năm trước. Khai thác thủy sản chưa khả quan do một số địa phương vẫn chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, cộng với ảnh hưởng của áp thấp nhiệt đới và bão tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ, khiến số lượng tàu nằm bờ không hoạt động tăng nhiều so với cùng kỳ năm trước.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021

Tính chung 10 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản ước tính đạt 7.175,4 nghìn tấn, giảm 0,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 3.812,2 nghìn tấn, giảm 0,8%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 3.363,2 nghìn tấn, tăng 0,5% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 3.205,6 nghìn tấn, tăng 0,6%).

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp trong tháng Mười khởi sắc khi các biện pháp giãn cách xã hội được nới lỏng, hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước được khôi phục trong trạng thái bình thường mới. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 10/2021 ước tính tăng 6,9% so với tháng trước và giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 3,3% so với cùng kỳ năm 2020.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 10/2021 ước tính tăng 6,9% so với tháng trước và giảm 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 7,2%; ngành chế biến, chế tạo giảm 1,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,4%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,5%.

Tính chung 10 tháng năm 2021, IIP ước tính tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước (cao hơn tốc độ tăng 2,6% của cùng kỳ năm 2020). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 4,5% (cùng kỳ năm 2020 tăng 4,1%), đóng góp 3,99 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,1%, đóng góp 0,36 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,4%, đóng góp 0,05 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 7%, làm giảm 1,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất 10 tháng năm 2021 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 25,1%; sản xuất xe có động cơ tăng 12,5%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,5%; dệt tăng 7,8%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 6,4%; sản xuất trang phục và hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu cùng tăng 5,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 4,3%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 19,2%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 13,3%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 8,7%; sản xuất đồ uống giảm 5,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 5,4%. 

Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 10 tháng các năm 2017-2021
của một số ngành công nghiệp trọng điểm
%
  2017 2018 2019 2020 2021
           
Sản xuất kim loại 18,6 22,0 34,3 10,9 25,1
Sản xuất xe có động cơ 2,7 15,8 7,6 -10,7 12,5
Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế -12,2 58,5 31,8 4,9 10,5
Dệt 9,7 12,7 11,2 -0,6 7,8
Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính
và sản phẩm quang học
30,0 12,4 7,5 9,5 6,4
Sản xuất trang phục 8,8 11,4 8,3 -5,3 5,1
Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 7,6 10,5 9,3 -2,8 4,3
Sản xuất phương tiện vận tải khác 9,2 6,0 -6,3 -9,9 -5,4
Sản xuất đồ uống 5,5 8,0 10,7 -5,9 -5,8
Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị
-0,4 4,5 -0,3 -7,9 -8,7
Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên -9,3 -6,0 -2,5 -11,7 -13,3
Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 6,0 21,2 -3,4 30,8 -19,2
 
 Theo địa phương, chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2021  của 45 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng so với cùng kỳ năm trước, trong đó có 11 địa phương tăng cao.

Mức tăng IIP 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước
của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (%)

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 1

Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước giảm mạnh do ảnh hưởng của dịch Covid-19.

 Mức giảm IIP 10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước
của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (%)

  Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 2

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 10 tháng năm 2021 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Linh kiện điện thoại tăng 38,8%; thép cán tăng 37,3%; xăng dầu các loại tăng 15,5%; khí hóa lỏng LPG tăng 14,1%; ô tô tăng 12,4%; sắt, thép thô tăng 11,4%; sữa bột tăng 9,6%; thức ăn cho gia súc tăng 9,5%; giày, dép da tăng 8,5%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Tivi các loại giảm 40,4%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 18,6%; bia các loại giảm 10%; đường kính giảm 9%; dầu mỏ thô khai thác giảm 6,9%; xe máy giảm 6,6%; thức ăn cho thủy sản giảm 4,2%.
 
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2021 tăng 7,7% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 7,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó: Lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 1,2% và giảm 3,4%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 7,2% và giảm 9,7%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 9% và giảm 7,8%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,6% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,4% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 8,3% và giảm 8,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,5% và tăng 2,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,2% và giảm 1,9%.
 
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[4]
 
Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bắt đầu có sự phục hồi, những tín hiệu tích cực trong tình hình đăng ký doanh nghiệp cho thấy sự ủng hộ của người dân và doanh nghiệp trong việc Chính phủ chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch Covid-19 sang thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả. Số doanh nghiệp thành lập mới tháng 10/2021 tăng cả về số lượng và vốn đăng ký so với tháng trước. Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 29,8% so với tháng trước.
 
Trong tháng 10/2021, cả nước có 8.233 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 108,6 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 58,8 nghìn lao động, tăng 111,2% về số doanh nghiệp, tăng 73,9% về vốn đăng ký và tăng 17,9% về số lao động so với tháng 9/2021; so với cùng kỳ năm 2020, giảm 32,5% về số doanh nghiệp, giảm 34,4% về số vốn đăng ký và giảm 18,8% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 13,2 tỷ đồng, giảm 17,6% so với tháng trước và giảm 2,8% so với cùng kỳ năm 2020. Trong tháng, cả nước còn có 4.304 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 29,8% so với tháng trước và giảm 14,7% so với cùng kỳ năm 2020.
 
Tính chung 10 tháng năm 2021, cả nước có 93,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là gần 1.304,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 707,7 nghìn lao động, giảm 15,7% về số doanh nghiệp, giảm 18,2% về vốn đăng ký và giảm 16,8% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng đạt 13,9 tỷ đồng, giảm 2,9% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.879,3 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 34,6 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm nay là 3.183,6 nghìn tỷ đồng, giảm 18,2% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 35,3 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 6,3% so với 10 tháng năm 2020, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng lên 129 nghìn doanh nghiệp, giảm 13,3% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 12,9 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
 
Theo khu vực kinh tế, 10 tháng năm nay có 1.603 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 26,7% so với cùng kỳ năm trước; 25,2 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 24,6%; 66,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 11,5%.
 

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 3

Cũng trong tháng Mười, có 3.492 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 55,9% so với tháng trước và tăng 6% so với cùng kỳ năm 2020; có 3.048 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 21,5% và giảm 14,8%; có 806 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 33% và giảm 43%.
 
Tính chung 10 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 48,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 16% so với cùng kỳ năm trước; 35 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 15,7%; 13,6 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 0,8%, trong đó có 12,1 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tăng 1,1%; 162 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 27,4%. Bình quân một tháng có 9,7 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
 
 Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể 10 tháng năm 2021
phân theo lĩnh vực hoạt động
 
  Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp) Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
Thành lập mới Giải thể Thành lập mới Giải thể
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 31.900 4.987 -12,8 -1,5
Công nghiệp chế biến chế tạo 12.088 1.569 -12,5 2,9
Xây dựng 11.560 1.260 -18,3 10,8
Kinh doanh bất động sản 5.902 686 7,8 -12,7
Vận tải kho bãi 4.798 594 6,3 9,2
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.097 763 -27,9 2,3
Sản xuất phân phối, điện, nước, gas 1.022 302 -79,0 74,6
 
 4. Đầu tư

Trong tháng Mười, các biện pháp giãn cách dần được nới lỏng, các Bộ, ngành và địa phương đang nỗ lực tập trung thực hiện các giải pháp, tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách Nhà nước tháng 10/2021 ước đạt 41,7 nghìn tỷ đồng, tăng 18,6% so với tháng 9/2021. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến 20/10/2021 tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, tuy nhiên vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện giảm 4,1%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 10/2021 ước tính đạt 41,7 nghìn tỷ đồng, giảm 17,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý 7,7 nghìn tỷ đồng, giảm 19,5%; vốn địa phương quản lý 34 nghìn tỷ đồng, giảm 16,9%. Tính chung 10 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 318,6 nghìn tỷ đồng, bằng 64,7% kế hoạch năm và giảm 8,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 bằng 67,8% và tăng 31,6%). Cụ thể:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 56 nghìn tỷ đồng, bằng 66,6% kế hoạch năm và giảm 4,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Bộ Giao thông vận tải đạt 28.138 tỷ đồng, bằng 71,1% và tăng 49,4%;

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2.980 tỷ đồng, bằng 65,3% và giảm 15,2%;

Bộ Y tế 1.813 tỷ đồng, bằng 47,2% và giảm 55,8%;

Bộ Giáo dục và Đào tạo 1.068 tỷ đồng, bằng 53,8% và giảm 43,8%;

Bộ Tài nguyên và Môi trường 808 tỷ đồng, bằng 60,7% và giảm 9,8%;

Bộ Công Thương 594 tỷ đồng, bằng 55,2% và tăng 79,1%;

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 490 tỷ đồng, bằng 54,3% và giảm 0,3%;

Bộ Xây dựng 454 tỷ đồng, bằng 67,6% và tăng 49,9%;

Bộ Thông tin và Truyền thông 249 tỷ đồng, bằng 46,8% và tăng 92,3%;

Bộ Khoa học và Công nghệ 183 tỷ đồng, bằng 53,3% và giảm 4,3%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 262,6 nghìn tỷ đồng, bằng 64,3% kế hoạch năm và giảm 9,1% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 175,9 nghìn tỷ đồng, bằng 61,4% và giảm 8,6% so với cùng kỳ năm 2020;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 72,8 nghìn tỷ đồng, bằng 69,1% và giảm 10,1%;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 13,9 nghìn tỷ đồng, bằng 83,9% và giảm 10%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2021 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

Hà Nội đạt 32.322 tỷ đồng, bằng 63,6% kế hoạch năm và giảm 9,5% so với cùng kỳ năm trước;
 
Thành phố Hồ Chí Minh 14.887 tỷ đồng, bằng 41,6% và giảm 46,5%;

Quảng Ninh 14.770 tỷ đồng, bằng 81,4% và tăng 12,8%;

Hải Phòng 9.916 tỷ đồng, bằng 73,6% và tăng 12,2%;

Thanh Hóa 8.173 tỷ đồng, bằng 79,3% và giảm 0,5%;

Bà Rịa - Vũng Tàu 7.387 tỷ đồng, bằng 68% và tăng 14,1%;

Bình Dương 6.906 tỷ đồng, bằng 55,9% và giảm 33%;

Bình Định 6.086 tỷ đồng, bằng 74,1% và tăng 0,2%;

Vĩnh Phúc 5.481 tỷ đồng, bằng 69,5% và giảm 5,8%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[5] tính đến ngày 20/10/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 23,74 tỷ USD, tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước.

Đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến 20/10 hằng năm

Tỷ USD

  2017 2018 2019 2020 2021
Vốn đăng ký 28,24 27,91 29,11 23,48 23,74
    Đăng ký cấp mới 16,30 15,03 12,83 11,66 13,02
    Đăng ký điều chỉnh 7,27 6,54 5,47 5,71 7,09
Góp vốn, mua cổ phần 4,67 6,34 10,81 6,11 3,63
Vốn thực hiện 14,20 15,10 16,21 15,80 15,15
 
 - Vốn đăng ký cấp mới có 1.375 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 13,02 tỷ USD, giảm 34,5% về số dự án và tăng 11,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 5,82 tỷ USD, chiếm 44,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5,16 tỷ USD, chiếm 39,7%; các ngành còn lại đạt 2,04 tỷ USD, chiếm 15,6%. Trong số 64 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 10 tháng, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 5,17 tỷ USD, chiếm 39,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nhật Bản 2,43 tỷ USD, chiếm 18,7%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 1,5 tỷ USD, chiếm 11,5%; Trung Quốc 1,49 tỷ USD, chiếm 11,4%; Hàn Quốc 920,1 triệu USD, chiếm 7,1%; Hoa Kỳ 371,5 triệu USD, chiếm 2,9%.
 
- Vốn đăng ký điều chỉnh có 776 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 7,09 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước.
 
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 11,88 tỷ USD, chiếm 59,1% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5,42 tỷ USD, chiếm 27%; các ngành còn lại đạt 2,8 tỷ USD, chiếm 13,9%.
 
- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 3.063 lượt với tổng giá trị góp vốn 3,63 tỷ USD, giảm 40,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 1.229 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,37 tỷ USD và 1.834 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1,26 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh bất động sản đạt gần 911,8 triệu USD, chiếm 25,1% giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 864,7 triệu USD, chiếm 23,8%; các ngành còn lại 1,85 tỷ USD, chiếm 51,1%.
 
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 10 tháng năm 2021, ước tính đạt 15,15 tỷ USD, giảm 4,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 10,94 tỷ USD, chiếm 72,2% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2,08 tỷ USD, chiếm 13,7%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 1,15 tỷ USD, chiếm 7,6%.
 
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 10 tháng năm 2021 có 48 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 218,3 triệu USD, giảm 30,6% so với cùng kỳ năm trước; có 18 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 427,7 triệu USD, gấp 2,6 lần so với cùng kỳ năm trước[6]. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 646 triệu USD, tăng 35,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 270,8 triệu USD, chiếm 41,9% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt gần 152 triệu USD, chiếm 23,5%; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 98,4 triệu USD, chiếm 15,2%. Trong 10 tháng năm 2021 có 22 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Hoa Kỳ là nước dẫn đầu với 305,3 triệu USD, chiếm 47,3% tổng vốn đầu tư; Căm-pu-chia 89,4 triệu USD, chiếm 13,8%; I-xra-ren 66,6 triệu USD, chiếm 10,3%; Lào 47,8 triệu USD, chiếm 7,4%; Ca-na-da 32,1 triệu USD, chiếm 5%; Pháp, Đức, Hà Lan cùng đạt 32 triệu USD, cùng chiếm khoảng 4,95%.
 
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[7]
 
Các biện pháp phòng chống dịch bệnh được nới lỏng, hoạt động sản xuất kinh doanh từng bước được khôi phục đã tác động tích cực làm thu ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 10/2021 tăng 37,7% so với tháng trước. Chi ngân sách Nhà nước tập trung ưu tiên cho công tác phòng, chống dịch Covid-19, đảm bảo quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội.
 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 1 

Thu ngân sách Nhà nước:
 
Tổng thu ngân sách Nhà nước 15 ngày đầu tháng 10/2021 ước tính đạt 30,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2021 đạt 1.118,2 nghìn tỷ đồng, bằng 83,2% dự toán năm (thu ngân sách Trung ương bằng 79,6%; thu ngân sách địa phương bằng 87,7%). Cụ thể một số khoản thu chính như sau:
 
- Thu nội địa trong 15 ngày đầu tháng 10/2021 đạt 18,6 nghìn tỷ đồng. Lũy kế đến ngày 15/10/2021 đạt 898,9 nghìn tỷ đồng, bằng 79,3% dự toán năm, trong đó: Thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 113,5 nghìn tỷ đồng, bằng 76,5%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 152,6 nghìn tỷ đồng, bằng 76,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 189,2 nghìn tỷ đồng, bằng 79,7%; thu thuế thu nhập cá nhân 99,9 nghìn tỷ đồng, bằng 92,7%; thu thuế bảo vệ môi trường 44,6 nghìn tỷ đồng, bằng 69,3%; thu tiền sử dụng đất 113 nghìn tỷ đồng, bằng 101,5%;
 
- Thu từ dầu thô trong 15 ngày đầu tháng 10/2021 đạt 1.944 tỷ đồng; lũy kế đến ngày 15/10/2021 đạt 31,5 nghìn tỷ đồng, bằng 135,6% dự toán năm;
 
- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu trong 15 ngày đầu tháng 10/2021 đạt 9,8 nghìn tỷ đồng; lũy kế đến ngày 15/10/2021 đạt 187,1 nghìn tỷ đồng, bằng 104,8% dự toán năm.
 
Chi ngân sách Nhà nước:
 
Tổng chi ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 10/2021 ước tính đạt 67,3 nghìn tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đến thời điểm 15/10/2021 đạt 1.098,5 nghìn tỷ đồng, bằng 65,1% dự toán năm, trong đó: Chi thường xuyên đạt 763,6 nghìn tỷ đồng, bằng 73,7%; chi đầu tư phát triển 243,1 nghìn tỷ đồng, bằng 50,9%; chi trả nợ lãi 83,5 nghìn tỷ đồng, bằng 75,9%.
 
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
 
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
 
Dịch Covid-19 dần được kiểm soát, hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh và dịch vụ được phép hoạt động trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười tăng 18,1% so với tháng trước và giảm 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm 8,6% (cùng kỳ năm 2020 giảm 0,2%).
 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười năm 2021 ước tính đạt 357,9 nghìn tỷ đồng, tăng 18,1% so với tháng trước và giảm 19,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021 đạt 3.720,4 nghìn tỷ đồng, giảm 8,6% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 10,3% (cùng kỳ năm 2020 giảm 4,5%).
 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
 
Nghìn tỷ đồng
  Ước tính
tháng 10
năm 2021
Ước tính
10 tháng
năm 2021
Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)
 
   
  Tháng 10
năm 2021
10 tháng
năm 2021
 
   
Tổng số 357,9 3.720,4 -19,5 -8,6
Bán lẻ hàng hóa 304,7 3.079,6 -13,5 -4,6
Dịch vụ lưu trú, ăn uống 27,6 307,0 -37,0 -23,8
Du lịch lữ hành 0,4 5,0 -63,4 -63,8
Dịch vụ khác 25,2 328,8 -47,0 -22,6
             
 
 Xét theo ngành hoạt động trong doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2021 có ngành hàng lương thực, thực phẩm tăng 4,4%; phương tiện đi lại giảm 6,7%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình và vật phẩm văn hoá, giáo dục cùng giảm 11,1%; may mặc giảm 11,7%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh giảm 26,2%; Khánh Hòa giảm 18,6%; Cần Thơ giảm 4,8%; Hà Nội giảm 4,4%; Đà Nẵng tăng 0,9%; Đồng Nai tăng 3,7%; Bình Dương tăng 6,4%; Hải Phòng tăng 8,7%.
 
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Thành phố Hồ Chí Minh giảm 38,8%; Nghệ An giảm 35,9%; Bình Dương giảm 25%; Đồng Nai giảm 22,8%; Hà Nội giảm 19,5%; Đà Nẵng giảm 17,3%; Quảng Ninh giảm 12,7%; Cần Thơ giảm 11,1%; Hải Phòng giảm 6,4%.
 
Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng năm 2021 giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Thừa Thiên - Huế giảm 67,5%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 58%; Đà Nẵng giảm 53,4%; Hải Phòng giảm 49,9%; Hà Nội giảm 45,7%; Quảng Bình giảm 41,5%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 34,2%; Quảng Ninh giảm 30,6%.
 
Doanh thu dịch vụ khác 10 tháng so với cùng kỳ năm trước của Bà Rịa -Vũng Tàu giảm 30,4%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 27,3%; Khánh Hòa giảm 22,5%; Hà Nội giảm 21,9%; Nghệ An giảm 15,9%; Cần Thơ giảm 15%; Bình Định giảm 14%; Đà Nẵng giảm 0,8%; Hải Phòng tăng 0,9%; Quảng Bình tăng 4,4%.
 
b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[8]
 
Hoạt động xuất nhập khẩu tháng Mười tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng Mười ước tính đạt 53,5 tỷ USD giảm 0,4% so với tháng Chín và tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính chung 10 tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 537,31 tỷ USD, tăng 22,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16,6%; nhập khẩu tăng 28,2%[9].
 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 4

Xuất khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 9/2021 đạt 27,03 tỷ USD, cao hơn 26 triệu USD so với số ước tính.
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10/2021 ước tính đạt 27,3 tỷ USD, tăng 1,0% so với tháng trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 6,89 tỷ USD, giảm 1,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 20,41 tỷ USD, tăng 2,0%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 0,3%, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước giảm 1,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 1,1%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 267,93 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 69,77 tỷ USD, tăng 7,7%, chiếm 26% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 198,16 tỷ USD, tăng 20,1%, chiếm 74%.
 
Trong 10 tháng năm 2021 có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,4% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 63%).
 
 
Một số mặt hàng xuất khẩu 10 tháng năm 2021
Nghìn tấn; Triệu USD
    Ước tính
10 tháng
năm 2021
Tốc độ tăng/giảm
10 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước (%)
   
   
    Lượng Trị giá Lượng Trị giá
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD        
  Điện thoại và linh kiện   46.219   9,6
  Điện tử, máy tính và linh kiện   41.162   13,0
  Máy móc thiết bị, dụng cụ PT khác   29.569   39,7
  Dệt, may   25.858   4,5
  Giày dép   14.059   3,9
  Gỗ và sản phẩm gỗ   11.890   21,4
Các mặt hàng nông, lâm, thủy sản        
  Thủy sản   6.889   -0,8
  Hạt điều 477 2.987 14,1 13,5
  Rau quả   2.971   8,7
  Gạo 5.103 2.697 -4,6 2,2
  Cao su 1.488 2.479 13,9 46,5
  Cà phê 1.274 2.422 -5,1 4,1
  Sắn và sản phẩm của sắn 2.314 927 7,7 21,2
  Hạt tiêu 228 783 -5,7 44,2
  Chè 104 174 -7,2 -3,4
 
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 10 tháng năm 2021, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước tính đạt 3,03 tỷ USD, tăng 16,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 1,1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (tỷ trọng bằng cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước tính đạt 238,81 tỷ USD, tăng 17,3% và chiếm 89,1% (tăng 0,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 19,2 tỷ USD, tăng 15,1% và chiếm 7,2% (giảm 0,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 6,89 tỷ USD, giảm 0,8% và chiếm 2,6% (giảm 0,4 điểm phần trăm).
 
Về thị trường xuất khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2021, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 76 tỷ USD, tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 44,2 tỷ USD, tăng 16,8%. Thị trường EU đạt 31,7 tỷ USD, tăng 8,9%. Thị trường ASEAN đạt 23 tỷ USD, tăng 21,3%. Hàn Quốc đạt 17,9 tỷ USD, tăng 11,2%. Nhật Bản đạt 16,1 tỷ USD, tăng 2,2%.
 
Nhập khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 9/2021 đạt 26,67 tỷ USD, cao hơn 166 triệu USD so với số ước tính.
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2021 ước tính đạt 26,2 tỷ USD, giảm 1,7% so với tháng trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 8,6 tỷ USD, tăng 3,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 17,6 tỷ USD, giảm 4,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 8,1%, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước tăng 2,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,2%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 269,38 tỷ USD, tăng 28,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khu vực kinh tế trong nước đạt 92,5 tỷ USD, tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 176,88 tỷ USD, tăng 31,3%.
 
Trong 10 tháng năm 2021 có 39 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 91,4% tổng kim ngạch nhập khẩu.
 
Một số mặt hàng nhập khẩu 10 tháng năm 2021
Nghìn tấn; Triệu USD
   
Ước tính
10 tháng
năm 2021
Tốc độ tăng/giảm
10 tháng năm 2021 so với
cùng kỳ năm trước (%)
   
   
    Lượng Trị giá Lượng Trị giá
Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD        
  Điện tử, máy tính và LK   59.984   17,0
  Máy móc thiết bị, DC PT khác   38.335   29,0
  Điện thoại và linh kiện   16.700   32,7
  Vải   11.565   21,3
  Chất dẻo 5.811 9.664 7,0 43,8
  Sắt thép 10.637 9.663 - 5,1 45,4
  Kim loại thường khác 1.669 7.207 11,3 48,7
  Ô tô   6.936   44,0
  Sản phẩm chất dẻo   6.586   11,9
  Sản phẩm hoá chất   6.450   41,4
  Hóa chất   6.157   54,2
  Nguyên PL dệt, may, giày dép   5.201   19,7
 
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 10 tháng năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 252,21 tỷ USD, tăng 28,6% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,6% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa (tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong đó: Nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 124,13 tỷ USD, tăng 22,4% và chiếm 46,1% (giảm 2,2 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 128,08 tỷ USD, tăng 35,2% và chiếm 47,5% (tăng 2,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 17,17 tỷ USD, tăng 22,5% và chiếm 6,4% (giảm 0,3 điểm phần trăm).
 
Về thị trường nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2021, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 89,4 tỷ USD, tăng 36,4% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 45,5 tỷ USD, tăng 21,4%. Thị trường ASEAN đạt 33 tỷ USD, tăng 34,8%. Nhật Bản đạt 18 tỷ USD, tăng 9%. Thị trường EU đạt 13,8 tỷ USD, tăng 15,9%. Hoa Kỳ đạt 13 tỷ USD, tăng 13,5%.
 
Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Chín xuất siêu 360 triệu USD[10]; 9 tháng nhập siêu 2,55 tỷ USD; tháng Mười ước tính xuất siêu 1,1 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 1,45 tỷ USD[11] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 19,63 tỷ USD), trong đó: Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 22,73 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 21,28 tỷ USD.
 
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
 
Nhiều địa phương nới lỏng giãn cách giúp lưu thông, vận chuyển hàng hóa thuận lợi, nhu cầu tích trữ hàng tiêu dùng của người dân giảm, đồng thời nguồn cung hàng hóa được đảm bảo khiến giá lương thực, thực phẩm trong tháng giảm; nhu cầu sử dụng điện, nước sinh hoạt giảm khi thời tiết sang thu và giá thuê nhà tiếp tục xuống thấp nhằm hỗ trợ người dân gặp khó khăn trong đại dịch là các nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2021 giảm 0,2% so với tháng trước, tăng 1,67% so với tháng 12/2020. Tính chung 10 tháng năm 2021, CPI tăng 1,81% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[12]. Lạm phát cơ bản 10 tháng tăng 0,84%.
 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2021 5
Trong mức giảm 0,2% của CPI tháng 10/2021 so với tháng trước có 3 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm và 8 nhóm hàng có chỉ số giá tăng.
(1) Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm:
 
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống có mức giảm cao nhất với 1,28% (làm CPI chung giảm 0,43 điểm phần trăm) do nguồn cung dồi dào, trong đó: Lương thực giảm 0,17%[13]; thực phẩm giảm 2,05%[14]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,18%.
 
- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,26% (làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm) chủ yếu do giá tiền thuê nhà giảm 4,67% (làm CPI chung giảm 0,02 điểm phần trăm) để hỗ trợ người dân gặp khó khăn trong đại dịch Covid-19; cùng với đó, giá điện sinh hoạt giảm 0,99% (làm CPI chung giảm 0,03 điểm phần trăm), nước sinh hoạt giảm 2,46% do thời tiết sang thu nên nhu cầu sử dụng giảm.
 
- Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,04%, tập trung giảm ở giá điện thoại di động và phụ kiện điện thoại di động đối với các mẫu hàng cũ.
 
(2) Tám nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
 
- Nhóm giao thông tăng 2,51% (làm CPI chung tăng 0,24 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 25/9/2021, ngày 11/10/2021 và ngày 26/10/2021 làm chỉ số giá xăng tăng 6,27%, dầu diezen tăng 8,72%. Bên cạnh đó, dịch vụ giao thông công cộng tăng 0,08% do giá xăng, dầu tăng. 
 
- Nhóm giáo dục tăng 0,25% (làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm), trong đó dịch vụ giáo dục tăng 0,22% do một số địa phương tăng học phí mầm non, học phí đại học mặc dù có một số địa phương đã thực hiện miễn, giảm học phí năm học 2021-2022.
 
- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,19% do nước giải khát có ga, rượu, bia và thuốc lá tăng khi nhu cầu tiêu dùng của người dân tăng trở lại sau thời gian giãn cách xã hội và chi phí vận chuyển tăng.
 
- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,13% do nhóm vải các loại tăng 0,48% và giày dép tăng 0,07%.
 
- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06% do nhu cầu mua sắm của người dân tăng trở lại khi tình hình dịch Covid-19 dần được kiểm soát.
 
- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,04%.
 
- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02% do thời tiết giao mùa, nhiệt độ thay đổi khiến các loại vi rút gây bệnh sinh sôi mạnh, các bệnh về hô hấp dễ xảy ra nên nhu cầu các mặt hàng thuốc, dụng cụ y tế tăng, trong đó giá thuốc các loại tăng 0,09%.
 
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,12% do dịch vụ cắt tóc, gội đầu và vật dụng tang lễ, thờ cúng tăng.
 
Lạm phát cơ bản[15] tháng 10/2021 giảm 0,17% so với tháng trước, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 10 tháng năm nay tăng 0,84% so với cùng kỳ năm 2020.
 
Giá vàng trong nước giảm theo giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 27/10/2021 giảm 0,45% so với tháng 9/2021. Giá vàng thế giới giảm do đồng đô la Mỹ, lợi suất trái phiếu Mỹ phục hồi và doanh số bán lẻ tháng Chín của Mỹ tăng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 10/2021 giảm 0,21% so với tháng trước; giảm 1,85% so với tháng 12/2020 và giảm 1,82% so với cùng kỳ năm trước.
 
Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng sau khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ phát biểu giữ nguyên chính sách tiền tệ để hỗ trợ kinh tế trong thời gian tới. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2021 giảm 0,06% so với tháng trước; giảm 1,2% so với tháng 12/2020 và giảm 1,48% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu mua bán ngoại tệ hạn chế trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trong thời gian dài.
 
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
 
Hoạt động vận tải trong tháng Mười được khôi phục trở lại khi nhiều địa phương triển khai "Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19" theo Nghị quyết số 128/NQ-CP ngày 11/10/2021 của Chính phủ.
 
Sản lượng vận tải hành khách và hàng hóa tháng Mười đều tăng khá cao so với tháng trước nhưng so với cùng kỳ năm trước vận tải hành khách vẫn giảm 58,1% về vận chuyển, giảm 72,5% về luân chuyển và vận tải hàng hóa giảm 18,3% về vận chuyển, giảm 10,3% về luân chuyển.
 
Tính chung 10 tháng năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 27,1% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách giảm 34,9% và vận chuyển hàng hóa giảm 6,7%, luân chuyển hàng hóa giảm 1,4%.
 
Vận tải hành khách tháng Mười ước tính đạt 120,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 47,2% so với tháng trước và luân chuyển 3,5 tỷ lượt khách.km, tăng 41,6%. Tính chung 10 tháng năm 2021, vận tải hành khách đạt 2.140,5 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 27,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 29,7%) và luân chuyển 86,3 tỷ lượt khách.km, giảm 34,9% (cùng kỳ năm trước giảm 35,4%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 2.140,4 triệu lượt khách, giảm 27% và 85,8 tỷ lượt khách.km, giảm 30,1%; vận tải ngoài nước đạt 103,6 nghìn lượt khách, giảm 96,3% và 494,1 triệu lượt khách.km, giảm 95%.
 
Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường 10 tháng năm nay vẫn giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó hàng không và đường sắt là những ngành chịu thiệt hại khá nặng nề.
 
 Vận tải hành khách 10 tháng năm 2021 phân theo ngành vận tải
 
  Số lượt hành khách   Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)
   Vận chuyển
(Triệu HK)
Luân chuyển
(Tỷ HK.km)
   Vận chuyển Luân chuyển
Tổng số 2.140,5 86,3   -27,1 -34,9
Đường sắt 1,3 0,6   -59,9 -58,4
Đường biển 4,3 0,2   -31,1 -17,3
Đường thủy nội địa 142,3 2,4   -23,7 -21,4
Đường bộ 1.979,2 70,9   -27,1 -28,8
Hàng không 13,4 12,2   -48,2 -56,8

 Vận tải hàng hóa tháng Mười ước tính đạt 135,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 13,5% so với tháng trước và luân chuyển 26,9 tỷ tấn.km, tăng 10,7%. Tính chung 10 tháng năm 2021, vận tải hàng hóa đạt 1.335,3 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 7,5%) và luân chuyển 269,8 tỷ tấn.km, giảm 1,4% (cùng kỳ năm trước giảm 8,8%), trong đó: Vận tải trong nước đạt 1.313,5 triệu tấn vận chuyển, giảm 6,5% và 161,3 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 10,9%; vận tải ngoài nước đạt 21,8 triệu tấn vận chuyển, giảm 17,7% và 108,5 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 15,3%.

Vận tải hàng hóa 10 tháng năm 2021 phân theo ngành vận tải 

  Sản lượng hàng hóa   Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)
  Vận chuyển
(Triệu tấn)
Luân chuyển
(Tỷ tấn.km)
  Vận chuyển Luân chuyển
Tổng số 1.335,3 269,8   -6,7 -1,4
Đường sắt 4,6 3,1   9,8 4,6
Đường biển 68,1 138,8   2,9 -0,5
Đường thủy nội địa 265,2 55,5   -3,2 0,8
Đường bộ 997,2 68,2   -8,3 -6,7
Hàng không 0,2 4,2   -5,5 41,5
 
 đ) Khách quốc tế đến Việt Nam[16]
 
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười đạt 10,6 nghìn lượt người, giảm 28,8% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 10 tháng năm 2021, khách quốc tế đến nước ta đạt 125,1 nghìn lượt người, giảm 96,7% so với cùng kỳ năm trước.
 
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Mười ước tính đạt gần 10,6 nghìn lượt người, tăng 11,1% so với tháng trước và giảm 28,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 125,1 nghìn lượt người, giảm 96,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Khách đến bằng đường hàng không đạt 84,1 nghìn lượt người, chiếm 67,2% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 97,3%; bằng đường bộ đạt 40,5 nghìn lượt người, chiếm 32,4% và giảm 93,2%; bằng đường biển đạt 499 lượt người, chiếm 0,4% và giảm 99,7%.
 
7. Một số tình hình xã hội
 
a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội
 
Trong tháng Mười, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh Covid-19, các gói hỗ trợ cho công tác an sinh xã hội tiếp tục được thực hiện nên đời sống của người dân nhìn chung ổn định. Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, tính đến ngày 22/10/2021, gói hỗ trợ 26 nghìn tỷ đồng theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 và Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ đã triển khai trên toàn quốc là hơn 24 nghìn tỷ đồng hỗ trợ cho hơn 25,2 triệu đối tượng.
 
Cụ thể hỗ trợ 21,4 nghìn tỷ đồng cho 23 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Phú Yên và 19 tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long). Trong đó, riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã được hỗ trợ 10,9 nghìn tỷ đồng (chiếm 45,6% toàn quốc) hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19. Bên cạnh đó, ngày 7/10/2021 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 1680/QĐ-TTg, hỗ trợ 741,2 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia hỗ trợ cho người dân tỉnh Quảng Trị gặp khó khăn trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội.
 
b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
 
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/9-18/10/2021), cả nước có 6.063 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (04 trường hợp tử vong); 182 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 26 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (01 trường hợp tử vong) và 26 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. Tính chung 10 tháng năm 2021, cả nước có 53.489 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (20 trường hợp tử vong); 37.915 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (11 trường hợp tử vong); 471 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (07 trường hợp tử vong); 14 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (02 trường hợp tử vong) và 418 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 39 trường hợp dương tính.
 
Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[17]. Tại Việt Nam, dịch Covid-19 đang dần được kiểm soát, một số tỉnh, thành phố đã nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội. Tính đến 17 giờ ngày 27/10/2021 Việt Nam có 900.585 trường hợp mắc, 812.314 trường hợp đã được chữa khỏi (21.856 trường hợp tử vong).
 
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/10/2021 là 212.769 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 108.849 người.
 
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Mười xảy ra 03 vụ với 38 người bị ngộ độc. Tính chung 10 tháng năm 2021, cả nước xảy ra 55 vụ với 1.519 người bị ngộ độc (05 người tử vong).
 
c) Tai nạn giao thông[18]
 
Trong tháng Mười (từ 15/9-14/10/2021), trên địa bàn cả nước xảy ra 798 vụ tai nạn giao thông, bao gồm: 524 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 274 vụ va chạm giao thông, làm 377 người chết, 304 người bị thương và 269 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 63,5% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 60,7% và số vụ va chạm giao thông tăng 69,1%); số người chết tăng 48,4%; số người bị thương tăng 100% và số người bị thương nhẹ tăng 80,5%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Mười giảm 38,6% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 28,9% và số vụ va chạm giao thông giảm 51,2%); số người chết giảm 35%; số người bị thương giảm 23,2% và số người bị thương nhẹ giảm 57%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 8.933 vụ tai nạn giao thông, bao gồm: 5.761 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3.172 vụ va chạm giao thông, làm 4.523 người chết, 2.999 người bị thương và 3.201 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 10 tháng năm nay giảm 23,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 14,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 35,7%); số người chết giảm 17,1%; số người bị thương giảm 14,9% và số người bị thương nhẹ giảm 37,3%. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 29 vụ tai nạn giao thông, gồm 19 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 10 vụ va chạm giao thông, làm 15 người chết, 10 người bị thương và 11 người bị thương nhẹ.
 
d) Thiệt hại do thiên tai[19]
 
Thiên tai xảy ra trong tháng (từ ngày 19/9-18/10/2021) chủ yếu là mưa lớn, lũ, ngập lụt, lốc, sét, mưa đá làm 27 người chết và mất tích; 7 người bị thương; 19,8 nghìn ha lúa và 15,3 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 83,4 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; 97 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 905 ngôi nhà bị ngập hư hại, thiệt hại ước tính 778 tỷ đồng, giảm 71,2% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm nay, thiên tai làm 104 người chết và mất tích, 128 người bị thương; 108,6 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; 676 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 13,7 nghìn ngôi nhà bị ngập hư hại; 105,8 nghìn ha lúa và 60,2 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 2,1 nghìn tỷ đồng, giảm 78,9% so với cùng kỳ năm trước.
 
đ) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
 
Trong tháng 10/2021, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.363 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.245 vụ với tổng số tiền phạt 16,9 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm nay đã phát hiện 13.841 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 12.275 vụ với tổng số tiền phạt 210,2 tỷ đồng.
 
Trong tháng[20], cả nước xảy ra 145 vụ cháy, nổ, làm 2 người chết và 5 người bị thương, thiệt hại ước tính 12,9 tỷ đồng. Tính chung 10 tháng năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.915 vụ cháy, nổ, làm 84 người chết và 125 người bị thương, thiệt hại ước tính 356,8 tỷ đồng./.
 
TỔNG CỤC THỐNG KÊ
 

[1] Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính từ 16/9/2021 đến 15/10/2021.
[2] Nguồn: http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia.
[3] Tính tới trung tuần tháng 10/2021, giá tôm thẻ chân trắng nguyên liệu cỡ 100 con/kg dao động trong khoảng 74.000-78.000 đồng/kg, tăng 4.000-6.000 đồng/kg so với tháng trước; cỡ 80 con/kg ở mức 88.000 đồng/kg; tăng 5.000-7.000 đồng/kg so với tháng trước (nguồn: http://agromonitor.vn/group/47/272/giam-sat-gia); giá tôm sú cỡ 20 con/kg ổn định có giá 210.000-215.000 đồng/kg (nguồn: https://tepbac.com/gia-thuy-san/history/41/tom-su-loai-20-con-tai-ao.htm).
[4] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 26/10/2021.
[5] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/10/2021.
[6] Vốn đầu tư điều chỉnh tăng mạnh do có dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ điều chỉnh tăng 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển cao su Đông Dương tại Căm-pu-chia tăng 76 triệu USD và 01 dự án của Vinfast tại Đức tăng 32 triệu USD.
[7] Theo báo cáo của Bộ Tài chính tính đến ngày 15/10/2021.
[8] Số liệu tháng 10/2021 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 26/10/2021 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào ngày 28/10/2021.
[9] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2020 đạt 439,87 tỷ USD, tăng 2,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 229,75 tỷ USD, tăng 4,9%; nhập khẩu đạt 210,12 tỷ USD, tăng 0,2%.
[10] Ước tính tháng Chín xuất siêu 500 triệu USD.
[11] Trong đó, 10 tháng năm 2021 xuất siêu sang EU đạt 17,9 tỷ USD, tăng 4% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 45,2 tỷ USD, tăng 63,2%; nhập siêu từ Hàn Quốc 27,6 tỷ USD, tăng 29,1%; nhập siêu từ ASEAN 10 tỷ USD, tăng 80,8%.
[12] Tốc độ tăng CPI bình quân 10 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt là: tăng 2,27%; tăng 3,71%; tăng 3,6%; tăng 2,48%; tăng 3,71%; tăng 1,81%.
[13] Giá gạo giảm 0,25% do các địa phương đã thu hoạch xong vụ lúa hè thu và dịch Covid-19 được kiểm soát tốt nên người dân không còn tâm lý tích trữ gạo. Bên cạnh đó, chỉ số giá nhóm bột mỳ và ngũ cốc khác cũng giảm 0,48% do nhu cầu tiêu dùng giảm.
[14] Giá thịt lợn giảm 9,38% (làm CPI chung giảm 0,32 điểm phần trăm) do trong tháng mặc dù nhu cầu tiêu thụ thịt lợn tăng hơn so với tháng trước khi các biện pháp giãn cách xã hội đã tạm dừng, nhưng giá bán vẫn tiếp tục giảm sâu do lượng cung tồn đọng nhiều từ những tháng trước khiến người chăn nuôi muốn bán nhanh để cắt lỗ; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò, chả giảm 3,17%; mỡ động vật giảm 7,86%); giá thịt gia cầm tươi sống giảm 0,94%; giá trứng các loại giảm 4,31%; giá thủy sản tươi sống giảm 1,03% do ảnh hưởng Covid-19 làm cho sản lượng xuất khẩu thuỷ sản giảm, dẫn đến nguồn cung trong nước dồi dào, đồng thời lượng hàng thuỷ sản tiêu thụ trong các nhà hàng, quán ăn giảm do số khách tham quan du lịch giảm; giá quả tươi và chế biến giảm 0,5%.
[15] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.
[16] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an, kỳ báo cáo từ ngày 21/9-20/10/2021.
[17] Tính đến 17 giờ ngày 27/10/2021 trên thế giới có 245.437,3 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (4.982,2 nghìn trường hợp tử vong).
[18] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải (Bộ Giao thông vận tải).
[19] Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/9-18/10/2021.
[20] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/10/2021.

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top