Kinh tế - xã hội cả nước tháng 7 và 7 tháng năm 2021

29/07/2021 - 10:31 AM
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tháng Bảy diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi. Các địa phương trên cả nước tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo cấy lúa mùa, chăm sóc lúa hè thu và thu hoạch lúa hè thu sớm, bảo đảm gieo trồng và thu hoạch trong khung thời vụ tốt nhất. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi phải đối mặt với khó khăn do giá thức ăn chăn nuôi tăng cao và dịch bệnh đang diễn ra tại một số địa phương; dịch Covid-19 bùng phát trở lại ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường tiêu thụ sản phẩm chế biến lâm sản, thủy sản xuất khẩu.

a) Nông nghiệp

Tính đến ngày 15/7, cả nước gieo cấy được 1.099,6 nghìn ha lúa mùa, bằng 99,4% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc gieo cấy 909,2 nghìn ha, bằng 99,7%; các địa phương phía Nam gieo cấy 190,4 nghìn ha, bằng 97,8%. Hiện nay, các địa phương đang khẩn trương hoàn thành công tác gieo cấy lúa mùa, các trà lúa đã cấy phát triển tương đối tốt, diện tích trà lúa sớm đang trong giai đoạn hồi xanh, đẻ nhánh.

Đến trung tuần tháng Bảy, cả nước gieo cấy được 1.949,6 nghìn ha lúa hè thu, bằng 100,7% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 177,9 nghìn ha, bằng 102,2%; các địa phương phía Nam đạt 1.771,7 nghìn ha, bằng 100,5%, riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.507,9 nghìn ha, bằng 99,1%. Đến nay, phần lớn các trà lúa hè thu đang ở giai đoạn làm đòng đến chín, các trà lúa sớm đã cho thu hoạch với diện tích đạt 436,4 nghìn ha, bằng 87,1% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 427,2 nghìn ha, bằng 86,9%. Tuy nhiên, diện tích thu hoạch lúa hè thu chậm hơn so thời điểm cùng kỳ năm trước, một phần do ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội nên việc vận chuyển gặp khó khăn, chi phí vận chuyển cao hơn làm cho việc thu mua lúa của thương lái chậm lại, trong khi đó giá lúa có xu hướng giảm nên nông dân chưa tích cực thu hoạch.

Tính đến ngày 15/7, vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã xuống giống được 294,9 nghìn ha lúa thu đông, bằng 95,9% cùng kỳ năm trước. Trong vụ lúa thu đông năm nay, ngành Nông nghiệp đã chỉ đạo các địa phương ưu tiên sử dụng các giống lúa có tính chống chịu với rầy nâu, vàng lùn và lùn xoắn lá, bệnh cháy lá, cháy bìa lá và giống cứng cây để hạn chế đổ ngã. Hiện nay, lúa thu đông đang ở giai đoạn mạ, đẻ nhánh đến làm đòng; sinh trưởng và phát triển tốt.

Đến giữa tháng Bảy, các địa phương trên cả nước đã gieo trồng được 738 nghìn ha ngô, bằng 101,8% cùng kỳ năm trước; 74,8 nghìn ha khoai lang, bằng 92,5%; 147,5 nghìn ha lạc, bằng 95,5%; 23,5 nghìn ha đậu tương, bằng 89,7%; 863,7 nghìn ha rau, đậu, bằng 101,3%.

Chăn nuôi trâu, bò trong tháng Bảy gặp khó khăn do dịch viêm da nổi cục vẫn đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương. Để kiểm soát tốt tình hình dịch bệnh, giảm thiệt hại cho người chăn nuôi, chính quyền địa phương và các cơ quan chuyên ngành cần triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp phòng, chống dịch bệnh: tổ chức tốt việc tiêm vắc-xin; phát hiện và xử lý kịp thời các ổ dịch mới; xử lý nghiêm các trường hợp vận chuyển, mua bán trâu, bò trái phép, không rõ nguồn gốc. Ước tính tổng số trâu của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 7/2021 giảm 3,3% so với cùng thời điểm năm 2020; tổng số bò tăng 2,3%.

Chăn nuôi lợn đối mặt với những khó khăn khi giá thức ăn chăn nuôi tăng cao trong khi giá bán lợn hơi giảm, hiện giá thịt lợn hơi giảm về mức dưới 60.000 đồng/kg. Do đó, các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương cần có những biện pháp kiểm soát giá thức ăn chăn nuôi, hỗ trợ thiết lập các chuỗi cung ứng từ sản xuất đến tiêu dùng để người chăn nuôi tiếp tục tái đàn. Ước tính tổng số lợn của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Bảy tăng 6,1% so với cùng thời điểm năm trước. Chăn nuôi gia cầm phát triển ổn định trong tháng Bảy, tuy nhiên, tại một số địa phương đã phát hiện chủng vi-rút cúm gia cầm mới A/H5N8 (lần đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam). Để ngăn chặn loại vi-rút này, chính quyền địa phương cần phối hợp với các cơ quan chuyên ngành chủ động tiến hành các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng Bảy tăng 4,8% so với cùng thời điểm năm 2020.

Tính đến ngày 20/7/2021, cả nước không còn dịch tai xanh ở lợn; dịch cúm gia cầm còn ở Hà Nội, Quảng Ninh, Thái Bình, Lạng Sơn, Nghệ An, Hà Tĩnh; dịch lở mồm long móng còn ở Thái Nguyên, Nghệ An, Hà Tĩnh; dịch tả lợn châu Phi còn ở 33 địa phương[1] và dịch viêm da nổi cục còn ở 34 địa phương[2] chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung tháng 7/2021 ước tính đạt 13,1 nghìn ha, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt gần 5,4 triệu cây, giảm 0,6%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.550 nghìn m3, tăng 4,2%; sản lượng củi khai thác đạt gần 1,5 triệu ste, giảm 1,3%. Nhu cầu nguyên liệu tại các cơ sở chuyên chế biến lâm sản xuất khẩu không cao do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 gây ảnh hưởng bất lợi tới việc tiêu thụ sản phẩm. Mặc dù vậy, nhờ thời tiết thuận lợi nên chất lượng và năng suất gỗ khai thác năm nay được nâng cao, tại một số địa phương, người trồng rừng tranh thủ khai thác rừng trồng đến tuổi thu hoạch đã được ký kết theo hợp đồng. Các tỉnh có sản lượng gỗ khai thác cao như Tuyên Quang 96,7 nghìn m3­, tăng 32,6% so với cùng kỳ năm trước; Nghệ An 129,6 nghìn m3, tăng 7,7%; Quảng Ngãi 189,1 nghìn m3, tăng 8,4%.

Ước tính 7 tháng năm 2021, diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước đạt 123,6 nghìn ha, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 51,9 triệu cây, tăng 1,9%; sản lượng gỗ khai thác đạt 9.495,6 nghìn m3­, tăng 5,5%; sản lượng củi khai thác đạt 11,4 triệu ste, giảm 0,3%.

Công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng tiếp tục được các địa phương quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tuy nhiên, do nắng nóng gay gắt, hanh khô, hạn hán kéo dài kết hợp với gió Tây Nam khiến nhiệt độ khu vực miền Bắc, miền Trung tăng cao, lại đúng vào mùa làm nương rẫy nên cháy rừng xảy ra càng khó kiểm soát. Trong tháng Bảy[3], cả nước có 418,5 ha rừng bị thiệt hại, trong đó diện tích rừng bị cháy là 330,6 ha, tăng 97,3% so với cùng kỳ năm trước. Một số tỉnh có diện tích rừng bị cháy cao như Thừa Thiên - Huế 307,2 ha, Nghệ An 10,8 ha, Khánh Hòa 3,5 ha, Quảng Ninh 2,2 ha. Ước tính tháng 7/2021, diện tích rừng bị chặt, phá là 87,9 ha, giảm 5,8% so với cùng kỳ năm trước. Các tỉnh có diện tích rừng bị chặt, phá cao trong tháng là Phú Yên 28,6 ha, Nghệ An 11,0 ha, Bắc Kạn 6,8 ha, Bắc Giang 5,2 ha.

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 , hoạt động đấu tranh, ngăn chặn vi phạm tại các điểm nóng về phá rừng, khai thác lâm sản trái pháp luật bị hạn chế. Ước tính 7 tháng năm 2021, cả nước có 1.398,3 ha rừng bị thiệt hại, tăng 42,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm diện tích rừng bị cháy là 629,3 ha, tăng 40,5%; diện tích rừng bị chặt, phá là 769 ha, tăng 43,8%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Bảy ước tính đạt 804,1 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 552,3 nghìn tấn, giảm 1,6%; tôm đạt 135,8 nghìn tấn, tăng 3,4%; thủy sản khác đạt 116,0 nghìn tấn, tăng 1,5%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 448,1 nghìn tấn, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 276,6 nghìn tấn, giảm 2,1%; tôm đạt 123,2 nghìn tấn, tăng 3,7%; thủy sản khác đạt 48,3 nghìn tấn, tăng 0,4%. Dịch Covid-19 bùng phát trở lại khiến xuất khẩu cá tra và tôm trong tháng Bảy gặp nhiều khó khăn: vận chuyển nguyên liệu, hàng hóa sản xuất bị ảnh hưởng, nhiều công-ten-nơ hàng thủy sản bị ách tắc tại các chốt kiểm soát, cước vận tải quốc tế tăng đột biến so với những tháng đầu năm. Sản lượng cá tra trong tháng ước tính đạt 117,9 nghìn tấn, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Giá cá tra nguyên liệu vẫn duy trì ổn định so với các tháng đầu năm nay[4]. Giá cá tra giống trên thị trường loại 30 - 35 con/kg dao động ở mức 21.000 - 22.000 đ/kg, thấp hơn nhiều so với mức giá 32.000 đ/kg ở thời điểm trung tuần tháng Ba do người nuôi lo ngại tình hình phức tạp của dịch bệnh, nhu cầu mua cá giống sẽ giảm cho vụ nuôi mới. Tôm thẻ chân trắng đang vào vụ thu hoạch, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, bán thâm canh vẫn cho năng suất cao. Ước tính tháng 7/2021, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 74,8 nghìn tấn, tăng 7,0% so với cùng kỳ năm trước; tôm sú đạt 42,0 nghìn tấn, tăng 1,2%. Ảnh hưởng của dịch Covid-19 khiến giá tôm nguyên liệu giảm mạnh[5]: Các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long gặp khó khăn trong việc cung cấp tôm tới các vùng khác phục vụ cho thị trường trong nước; các chợ đầu mối tại Thành phố Hồ Chí Minh đóng cửa; thương lái hạn chế thu mua do khó vận chuyển; các hộ nuôi tranh thủ bán tôm do tâm lý sợ ảnh hưởng của dịch bệnh.

Sản lượng thủy sản khai thác tháng 7/2021 ước tính đạt 356,0 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 275,7 nghìn tấn, giảm 1,1%; tôm đạt 12,6 nghìn tấn, tăng 0,8%. Nhiều địa phương có tàu thuyền hoạt động tham gia khai thác thủy sản trong tháng bị hạn chế do thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 31/3/2020. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Bảy ước tính đạt 340,3 nghìn tấn, giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 265,3 nghìn tấn, tăng 1,0%; tôm đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 0,9%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, sản lượng thủy sản ước tính đạt 4.900,1 nghìn tấn, tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2.552,9 nghìn tấn, tăng 3,3%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.347,2 nghìn tấn, tăng 1,1% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 2.242,7 nghìn tấn, tăng 1,2%).

2. Sản xuất công nghiệp

Dịch Covid-19 lần thứ tư  với biến chủng mới diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất công nghiệp trong tháng Bảy và 7 tháng năm nay. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 7/2021 chỉ tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng thấp nhất trong 7 tháng qua (trừ tháng Hai có số ngày làm việc ít nhất)[6]. Tính chung 7 tháng năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 7,9% so với 7 tháng năm 2020.

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 7/2021 ước tính tăng 1,8% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 8%; ngành chế biến, chế tạo tăng 2,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 6,7%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 4,4%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, IIP ước tính tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn nhiều so với mức tăng 2,6% của cùng kỳ năm 2020 và thấp hơn mức tăng 9,4% của cùng kỳ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,9% (cùng kỳ năm 2020 tăng 4,2%), đóng góp 8,1 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,2%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 6,3%, làm giảm 1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất 7 tháng năm 2021 của một số ngành trọng điểm thuộc ngành công nghiệp cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 34,7%; sản xuất xe có động cơ tăng 30,6%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 14,2%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 13,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 13%. Ở chiều ngược lại, một số ngành có chỉ số sản xuất giảm: Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 10,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu giảm 8,6%; khai thác than cứng và than non giảm 2,9%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 1,7%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 1,1%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 0,3%.

Chỉ số sản xuất tháng 7/2021 so với cùng kỳ năm trước của 19 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở phía Nam thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg để phòng chống dịch Covid-19 như sau: 7 địa phương có chỉ số IIP tháng Bảy giảm và 12 địa phương tăng. Cụ thể, Thành phố Hồ Chí Minh giảm 19,4%; Long An giảm 14,6%; Cà Mau giảm 13,7%; Đồng Tháp giảm 5,7%; Trà Vinh giảm 5,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 1,9%; Bến Tre giảm 0,2%. Tuy nhiên, một số địa phương có chỉ số IIP[7] tăng do một số Khu công nghiệp quyết tâm không để đứt gãy chuỗi cung ứng, đảm bảo yêu cầu phòng chống dịch bệnh với phương án 3 tại chỗ nên được phép hoạt động để tiếp tục thực hiện các đơn hàng sản xuất đã ký kết hợp đồng trước đó: (1) Bạc Liêu tăng 13,7% do sản xuất điện tăng 137,6% (bổ sung Nhà máy điện gió Đông Hải 1 hòa lưới điện tháng 2/2021, Nhà máy điện gió Công Lý, Nhà máy điện gió Hòa Bình hòa lưới điện tháng 3/2021); (2) Bình Phước tăng 12,2% do sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 29,5%; (3) Hậu Giang tăng 10,1% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,3%; sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 27,2%; sản xuất đồ uống tăng 76,4%; (4) Kiên Giang tăng 8,8% do sản xuất khoáng phi kim loại khác tăng 6,5%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 69,5%; sản xuất điện tăng 14%; (5) Cần Thơ tăng 8,1% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 20,2%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 42,7%; sản xuất thuốc lá tăng 3,9%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 30,6%; sản xuất mô tô, xe máy tăng 52%; (6) Sóc Trăng tăng 7,6% do sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,6%; sản xuất đồ uống tăng 67,4%; (7) An Giang tăng 6% do ngành dệt tăng 20,2%; sản xuất trang phục tăng 0,9%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 10,1%; sản xuất khoáng phi kim loại khác tăng 14,6%.

Tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang, cơ bản đã khống chế, kiểm soát được dịch bệnh, hoạt động sản xuất trong các khu công nghiệp dần hồi phục. Tốc độ tăng chỉ số IIP các tháng 5, tháng 6 và tháng 7 so với cùng kỳ năm trước của hai tỉnh Bắc Giang và Bắc Ninh lần lượt là: Bắc Giang tháng 5 giảm 26,7%; tháng 6 giảm 49,8% và tháng 7 giảm 15,3%; Bắc Ninh tăng 23,9%; giảm 8,6% và tăng 1,1%. Thành phố Hà Nội chỉ số IIP tháng 7/2021 tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước do thực hiện giãn cách xã hội từ ngày 24/7/2021.

Chỉ số sản xuất 7 tháng năm 2021[8]  của một số địa phương mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19 nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ năm trước[9] như: (1) Bình Dương tăng 7,4% do ngành sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 21,4%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 8,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 19,2%; (2) Cần Thơ tăng 7,2% do ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 7%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất tăng 82,8%; sản xuất thuốc lá tăng 17,7%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,3%; (3) Đồng Nai tăng 7,1% do ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 11,2%; dệt tăng 8,5%; sản xuất thiết bị điện tăng 8,5%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 12,7%; (4) Tiền Giang tăng 3,1% do ngành sản xuất trang phục tăng 47,7%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15%; sản xuất thiết bị điện tăng 35,2%; (5) Long An tăng 3% do ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 4,8%; sản xuất kim loại tăng 5%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 7,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,5%; sản xuất trang phục tăng 7,7%; (6) Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,3% do ngành sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 5,7%; dệt tăng 4,9%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,7%; (7) Đồng Tháp tăng 2,1% do ngành sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,2%; sản xuất trang phục tăng 32,8%...

Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu 7 tháng năm 2021 tăng so cao với cùng kỳ năm trước: Thép cán tăng 55,9%; linh kiện điện thoại tăng 40%; ô tô tăng 39,6%; giày, dép da tăng 19,3%; sắt, thép thô tăng 16,2%; phân hỗn hợp NPK tăng 15,4%; điện thoại di động tăng 14,1%; sữa bột tăng 14%; vải dệt từ sợi nhân tạo và sợi tự nhiên cùng tăng 10,6%; thức ăn cho gia súc tăng 10%; quần áo mặc thường tăng 9,5%. Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 13,4%; tivi các loại giảm 10,3%; đường kính giảm 9,5%; phân u rê giảm 7,4%; dầu mỏ thô khai thác giảm 6,8%; bột ngọt giảm 5,1%; than sạch giảm 2,8%.

Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/7/2021 không thay đổi so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,4% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 0,2% và giảm 2,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 0,4% và giảm 0,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cùng tăng 0,2% so với cả hai thời điểm. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,4% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo không đổi và giảm 0,4%; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước, điều hòa không khí giảm 0,1% và giảm 0,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,2% và giảm 1,3%.

3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[10]

Do tình hình dịch Covid-19 lần thứ tư diễn biến phức tạp, số ca nhiễm bởi biến chủng mới ngày càng tăng và thực hiện giãn cách xã hội ở 20 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Chỉ thị số 16/CT-TTg đã ảnh hưởng đến đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp trong tháng 7 và 7 tháng năm 2021. Số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 7 giảm 22,8% so với tháng trước và giảm 33,8% so với cùng kỳ năm 2020, đồng thời số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới cũng giảm tương ứng 25,3% và giảm 48,7%. Tính chung 7 tháng năm 2021, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế là 2.432,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó số vốn đăng ký của doanh nghiệp thành lập mới là 1.065,4 nghìn tỷ đồng, tăng 13,8%.

Trong tháng 7/2021, cả nước có 8.740 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 122,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 71,2 nghìn người, giảm 22,8% về số doanh nghiệp, giảm 25,3% về vốn đăng ký và giảm 0,9% về số lao động so với tháng 06/2021[11]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 14 tỷ đồng, giảm 3,3% so với tháng trước và giảm 22,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong tháng, cả nước có 4.947 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 1,6% so với tháng trước và tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước; 4.527 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 17,1% và tăng 34,3%; 3.932 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 24,9% và tăng 28,2%; 1.442 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 24,9% và giảm 4,1%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, cả nước có 75,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.065,4 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 555,5 nghìn lao động; tăng 0,8% về số doanh nghiệp, tăng 13,8% về vốn đăng ký và giảm 7,2% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 7 tháng đạt 14,1 tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.366,7 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của gần 27,6 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 7 tháng năm 2021 là 2.432,1 nghìn tỷ đồng, tăng 16,1% so với cùng kỳ năm 2020. Bên cạnh đó, còn có 29,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 7 tháng năm 2021 là 105,4 nghìn doanh nghiệp, trung bình mỗi tháng có gần 15,1 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.

Theo khu vực kinh tế, trong 7 tháng năm nay có 1.263 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, giảm 7,9% so với cùng kỳ năm 2020; gần 20,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, giảm 6,6%; 54 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 4,1%. Một số lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng: Kinh doanh bất động sản tăng 33,8% so với cùng kỳ năm trước; vận tải kho bãi tăng 15,6%; thông tin và truyền thông tăng 12,4%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 11,9%; khai khoáng tăng 6,5%; giáo dục và đào tạo tăng 5,8%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,4%; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác tăng 4,9%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4%; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy tăng 1,3%; nghệ thuật, vui chơi giải trí tăng 1%. Một số lĩnh vực có số doanh nghiệp thành lập mới giảm so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Sản xuất phân phối điện, nước, gas giảm 63,7%; dịch vụ lưu trú ăn uống giảm 10,7%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác giảm 10,5%; xây dựng giảm 3,7%.

Cũng trong 7 tháng năm nay, có gần 79,7 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể và hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm 2020, bao gồm: gần 40,3 nghìn doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 23% so với cùng kỳ năm trước; 28 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 28,6%; 11,4 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 27,4%,  trong đó có 10.105 doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, tăng 27,2%; 131 doanh nghiệp có vốn trên 100 tỷ đồng, giảm 5,1%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 4.220 doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.325 doanh nghiệp; xây dựng có 1.006 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 689 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 646 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 582 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 575 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 501 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 373 doanh nghiệp; thông tin và truyền thông có 362 doanh nghiệp; sản xuất phân phối điện, nước, gas 234 doanh nghiệp. Trung bình mỗi tháng có gần 11,4 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

4. Đầu tư

Trong tháng Bảy, dịch Covid-19 lần thứ bùng phát mạnh tại nhiều tỉnh, thành phố. Nhằm kiểm soát và khống chế sự lây lan của dịch bệnh, 19 tỉnh, thành phố phía Nam đã thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg và một số địa phương khác cũng thực hiện theo Chỉ thị số 15/CT-TTg làm ảnh hưởng đến việc thực hiện các dự án đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 7/2021 giảm 1,7% so với tháng trước và giảm 12,4% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước vẫn tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước. Tổng số dự án đầu tư nước ngoài tính đến 20/7/2021 đăng ký cấp mới giảm 37,9% so với cùng kỳ năm 2020 nhưng số vốn đăng ký tăng 7%. Vốn đăng ký cấp mới bình quân 1 dự án trong 7 tháng năm 2021 đạt 10,1 triệu USD/dự án (cùng kỳ năm 2020 đạt 5,8 triệu USD/dự án).

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 7/2021 ước tính đạt 38,3 nghìn tỷ đồng, giảm 12,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý 7,1 nghìn tỷ đồng, giảm 7,9%; vốn địa phương quản lý 31,2 nghìn tỷ đồng, giảm 13,3%. Tính chung 7 tháng năm 2021, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 210,8 nghìn tỷ đồng, bằng 44,3% kế hoạch năm và tăng 5,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 bằng 39% và tăng 25,2%), cụ thể:

- Vốn Trung ương quản lý đạt 35,2 nghìn tỷ đồng, bằng 41,8% kế hoạch năm và tăng 12,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bộ Giao thông Vận tải đạt 17.397 tỷ đồng, bằng 44% và tăng 67,4%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 1.804 tỷ đồng, bằng 39,5% và giảm 7,8%; Bộ Y tế 1.091 tỷ đồng, bằng 28,4% và giảm 53,2%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 652 tỷ đồng, bằng 32,8% và giảm 35,7%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 495 tỷ đồng, bằng 37,2% và tăng 9,6%; Bộ Công Thương 373 tỷ đồng, bằng 34,7% và tăng 95,9%; Bộ Xây dựng 341 tỷ đồng, bằng 50,7% và tăng 99,3%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 288 tỷ đồng, bằng 31,9% và tăng 13,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 164 tỷ đồng, bằng 30,8% và tăng 109,5%; Bộ Khoa học và Công nghệ 122 tỷ đồng, bằng 35,4% và tăng 19,7%.

- Vốn địa phương quản lý đạt 175,6 nghìn tỷ đồng, bằng 44,8% kế hoạch năm và tăng 4,3% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 118,7 nghìn tỷ đồng, bằng 43,1% và tăng 6,6%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 48,1 nghìn tỷ đồng, bằng 47,3% và tăng 0,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 8,8 nghìn tỷ đồng, bằng 58,9% và giảm 4,5%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 7 tháng năm 2021 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 23.872 tỷ đồng, bằng 47% kế hoạch năm và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước; Thành phố Hồ Chí Minh 12.523 tỷ đồng, bằng 35% và giảm 11,6%; Quảng Ninh 9.814 tỷ đồng, bằng 55,5% và tăng 23,6%; Thanh Hóa 5.500 tỷ đồng, bằng 59,7% và tăng 1,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu 5.227 tỷ đồng, bằng 48,1% và tăng 26,9%; Hải Phòng 5.167 tỷ đồng, bằng 38,4% và tăng 17,8%; Bình Dương 4.801 tỷ đồng, bằng 38,9% và giảm 13,8%; Đà Nẵng 3.962 tỷ đồng, bằng 54,9% và tăng 57%; Bình Định 3.749 tỷ đồng, bằng 45,6% và tăng 4.3%.

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[12] tính đến ngày 20/7/2021 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 16,72 tỷ USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm trước.

- Vốn đăng ký cấp mới có 1.006 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 10,13 tỷ USD, giảm 37,9% về số dự án và tăng 7% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 5,13 tỷ USD, chiếm 50,6% tổng vốn đăng ký cấp mới; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 3,46 tỷ USD, chiếm 34,2%; các ngành còn lại đạt 1,54 tỷ USD, chiếm 15,2%. Trong số 56 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 7 tháng, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4,8 tỷ USD, chiếm 47,4% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Nhật Bản 1,73 tỷ USD, chiếm 17,1%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 1,02 tỷ USD, chiếm 10,1%; Trung Quốc 771,1 triệu USD, chiếm 7,6%; Hàn Quốc 604 triệu USD, chiếm 6%; Hoa Kỳ 361,9 triệu USD, chiếm 3,6%.

- Vốn đăng ký điều chỉnh có 561 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4,54 tỷ USD, giảm 3,7%;

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 7,25 tỷ USD, chiếm 49,4% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 5,39 tỷ USD, chiếm 36,7%; các ngành còn lại đạt 2,03 tỷ USD, chiếm 13,9%.

- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.403 lượt với tổng giá trị góp vốn 2,05 tỷ USD, giảm 55,8%. Trong đó, có 911 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 1,05 tỷ USD và 1.492 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 650,2 triệu USD, chiếm 31,7% giá trị góp vốn; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác 364,3 triệu USD, chiếm 17,8%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 311,5 triệu USD, chiếm 15,2%; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ đạt 281,9 triệu USD, chiếm 13,7%; các ngành còn lại 443,3 triệu USD, chiếm 21,6%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 7 tháng năm 2021, ước tính đạt 10,5 tỷ USD, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 7,54 tỷ USD, chiếm 71,8% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,3 tỷ USD, chiếm 12,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 984,2 triệu USD, chiếm 9,4%.

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 7 tháng năm 2021 có 28 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 145,3 triệu USD, giảm 29,6% so với cùng kỳ năm trước; có 11 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm 424,8 triệu USD, bằng 9,1 lần so với cùng kỳ năm trước­[13]. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) đạt 570,1 triệu USD, tăng 125,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ đạt 270,8 triệu USD, chiếm 47,5% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 148,6 triệu USD, chiếm 26,1%; nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt 98,4 triệu USD, chiếm 17,3%. Trong 7 tháng có 18 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Hoa Kỳ là nước dẫn đầu với 302,8 triệu USD, chiếm 53,1% tổng vốn đầu tư; Cam-pu-chia 89,2 triệu USD, chiếm 15,6%; Lào 47,8 triệu USD, chiếm 8,4%; Ca-na-da 32,1 triệu USD, chiếm 5,63%; Pháp, Đức, Hà Lan cùng đạt 32 triệu USD, cùng chiếm khoảng 5,61%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[14]

Thu ngân sách Nhà nước trong 7 tháng năm 2021 đảm bảo tiến độ theo dự toán ngân sách. Chi ngân sách Nhà nước tập trung cho việc triển khai nhiệm vụ chuyên môn của các đơn vị sử dụng ngân sách, đặc biệt chi cho các hoạt động phòng, chống dịch Covid-19 và hỗ trợ người dân gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch bệnh. 

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/7/2021 ước tính đạt 819,4 nghìn tỷ đồng, bằng 61% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 661,9 nghìn tỷ đồng, bằng 58,4%; thu từ dầu thô 20,1 nghìn tỷ đồng, bằng 86,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 136,7 nghìn tỷ đồng, bằng 76,6%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 78,8 nghìn tỷ đồng, bằng 53,1% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 116,8 nghìn tỷ đồng, bằng 58,6%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 144,8 nghìn tỷ đồng, bằng 61%; thu thuế thu nhập cá nhân 75,4 nghìn tỷ đồng, bằng 70%; thu thuế bảo vệ môi trường 32,4 nghìn tỷ đồng, bằng 50,3%; thu tiền sử dụng đất 84,6 nghìn tỷ đồng, bằng 76%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/7/2021 ước tính đạt 757,5 nghìn tỷ đồng, bằng 44,9% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 541,6 nghìn tỷ đồng, bằng 52,2%; chi đầu tư phát triển 150,9 nghìn tỷ đồng, bằng 31,6%; chi trả nợ lãi 61,8 nghìn tỷ đồng, bằng 56,1%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp trên cả nước làm ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động thương mại, dịch vụ khi nhiều tỉnh, thành phố phía Nam thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy giảm 8,3% so với tháng trước và giảm 19,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng nhẹ 0,7% (cùng kỳ năm 2020 giảm 0,5%).

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước tính đạt 339,4 nghìn tỷ đồng, giảm 8,3% so với tháng trước và giảm 19,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 291,8 nghìn tỷ đồng, giảm 5,5% và giảm 11,4%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 21,2 nghìn tỷ đồng, giảm 22,4% và giảm 53,8%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 133 tỷ đồng, giảm 4,8% và giảm 92,6%; doanh thu dịch vụ khác đạt 26,3 nghìn tỷ đồng, giảm 22,4% và giảm 43%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 2.791,3 nghìn tỷ đồng, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 0,74% (cùng kỳ năm 2020 giảm 5,20%).

Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 7 tháng năm 2021 ước tính đạt 2.269,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 81,3% tổng mức và tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 6,2%; phương tiện đi lại tăng 2,7%; may mặc tăng 0,5%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 2,8%; vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 2,9%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa trong 7 tháng năm 2021 của một số đại phương như sau: Hải Phòng tăng 7,5%; Đà Nẵng tăng 5,3%; Hà Nội tăng 3,4%; Cần Thơ tăng 2,3%; Quảng Ninh tăng 1,2%;  Thành phố Hồ Chí Minh giảm 5,8%; Bắc Ninh giảm 0,5%..

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 7 tháng năm 2021 ước tính đạt 243,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 8,7% tổng mức và giảm 11,8% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 18,9%). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 7 tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Nghệ An giảm 17,1%; Hải Dương giảm 15,6%; Đà Nẵng giảm 13,8%; Hà Nội giảm 9,6%;

Thành phố Hồ Chí Minh giảm 5,2%; Bình Dương tăng 0,2%; Đồng Nai tăng 2,5%.

Doanh thu du lịch lữ hành 7 tháng năm 2021 ước tính đạt 4,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,2% tổng mức và giảm 58,8% so với cùng kỳ năm trước. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 7 tháng năm 2021 giảm nhiều so với cùng kỳ năm trước: Thành phố Hồ Chí Minh giảm 49,8%; Hải Phòng giảm 47,1%; Hà Nội giảm 43,5%; Đà Nẵng giảm 41,9%; Cần Thơ giảm 26,6%; Quảng Ninh giảm 24,6%.

Doanh thu dịch vụ khác 7 tháng năm nay ước tính đạt 273,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 9,8% tổng mức và giảm 4,2% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó doanh thu của Khánh Hòa giảm 11,2%; Bình Dương giảm 11,1%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 9,7%; Bình Định giảm 5,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 4,9%; Hà Nội giảm 1,1%; Thừa Thiên - Huế tăng 1,1%; Đà Nẵng tăng 1,2%; Hải Phòng tăng 2,1%; Nghệ An tăng 2,9%.

b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[15]

Trong tháng 7 năm 2021, diễn biến dịch Covid-19 lần thứ tư ngày càng phức tạp khiến nhiều tỉnh, thành phố trên cả nước phải thực hiện giãn cách, đã có tác động tiêu cực đến hoạt động xuất nhập khẩu. Tốc độ tăng kim ngạch xuất, nhập khẩu 7 tháng đã giảm đáng kể so với tốc độ tăng 6 tháng đầu năm. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 55,7 tỷ USD, tăng 1,5% so với tháng trước. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng năm 2021, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước tính vẫn đạt ở mức cao, đạt 373,36 tỷ USD, tăng 30,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 185,33 tỷ USD, tăng 25,5%; nhập khẩu đạt 188,03 tỷ USD, tăng 35,3%[16]. Cán cân thương mại 7 tháng năm 2021 ước tính nhập siêu 2,7 tỷ USD.

Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 6/2021 đạt 27,2 tỷ USD, cao hơn 704 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 27 tỷ USD, giảm 0,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 7,49 tỷ USD, giảm 3,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 19,51 tỷ USD, tăng 0,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Bảy tăng 8,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 2,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 11%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 185,33 tỷ USD, tăng 25,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 48,52 tỷ USD, tăng 14,6%, chiếm 26,2% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 136,81 tỷ USD, tăng 29,9%, chiếm 73,8%.

Trong 7 tháng năm 2021 có 27 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 90,2% tổng kim ngạch xuất khẩu (5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 57,8%), trong đó điện thoại và linh kiện có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, đạt 29,4 tỷ USD, chiếm 15,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 27,4 tỷ USD, tăng 16,5%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 19,7 tỷ USD, tăng 55,4%; hàng dệt may đạt 18,6 tỷ USD, tăng 14,1%; giày dép đạt 12,1 tỷ USD, tăng 27,7%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 9,5 tỷ USD, tăng 53,7%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 6,5 tỷ USD, tăng 48,5%. Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng của một số mặt hàng nông, thủy sản tăng so với cùng kỳ năm trước: Thủy sản đạt 4,9 tỷ USD, tăng 12%; rau quả đạt 2,3 tỷ USD, tăng 15%; hạt điều đạt 2 tỷ USD, tăng 14% (lượng tăng 21,4%); cao su đạt 1,5 tỷ USD, tăng 73,6% (lượng tăng 33,6%); sắn và các sản phẩm từ sắn đạt 677 triệu USD, tăng 24,1% (lượng tăng 10,3%); hạt tiêu đạt 599 triệu USD, tăng 49,8% (mặc dù lượng giảm 1,3% nhưng giá trị xuất khẩu vẫn tăng do giá xuất khẩu tăng). Riêng mặt hàng gạo đạt 1,9 tỷ USD, giảm 0,6% (lượng giảm 10,6%); cà phê đạt 1,8 tỷ USD, giảm 1,7% (lượng giảm 9,3%); chè đạt 113 triệu USD, giảm 0,3% (lượng giảm 4,5%).

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 7 tháng, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước tính đạt 1,87 tỷ USD, tăng 1,4% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 1% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu (giảm 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước tính đạt 164,89 tỷ USD, tăng 27,1% và chiếm 89% (tăng 1,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 13,65 tỷ USD, tăng 16,7% và chiếm 7,4% (giảm 0,5 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 4,92 tỷ USD, tăng 12% và chiếm 2,7% (giảm 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường xuất khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2021, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 53,6 tỷ USD, tăng 37,4% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 28,7 tỷ USD, tăng 24,2%. Thị trường EU đạt 22,5 tỷ USD, tăng 15,5%. Thị trường ASEAN đạt 16,1 tỷ USD, tăng 25,9%. Hàn Quốc đạt 12 tỷ USD, tăng 10,3%. Nhật Bản đạt 11,7 tỷ USD, tăng 8,3%.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 6/2021 đạt 27,66 tỷ USD, cao hơn 159 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 7/2021 ước tính đạt 28,7 tỷ USD, tăng 3,8% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,3 tỷ USD, tăng 3,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,4 tỷ USD, tăng 4%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Bảy tăng 29,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 26,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,1%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 188,03 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 66,31 tỷ USD, tăng 29,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 121,72 tỷ USD, tăng 38,5%.

Trong 7 tháng năm 2021 có 31 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 87,5% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 39,4 tỷ USD (chiếm 20,9% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 20,3% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 27,1 tỷ USD, tăng 36,8%; điện thoại và linh kiện đạt 10,6 tỷ USD, tăng 48,5%; vải đạt 8,7 tỷ USD, tăng 32,9%; chất dẻo đạt 7,1 tỷ USD, tăng 54,3%; sắt thép đạt 6,8 tỷ USD, tăng 41,7%; ô tô đạt 5,3 tỷ USD, tăng 76,7%.

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 7 tháng năm 2021, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 176,36 tỷ USD, tăng 35,8% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,8% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu (tăng 0,3 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước), trong đó: nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 84,35 tỷ USD, tăng 30% và chiếm 44,9% (giảm 1,8 điểm phần trăm); nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu đạt 92,01 tỷ USD, tăng 41,5% và chiếm 48,9% (tăng 2,1 điểm phần trăm). Nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 11,67 tỷ USD, tăng 28,5% và chiếm 6,2% (giảm 0,3 điểm phần trăm).

Về thị trường nhập khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2021, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 62,3 tỷ USD, tăng 48,5% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp theo là thị trường Hàn Quốc đạt 29,7 tỷ USD, tăng 19,9%. Thị trường ASEAN đạt 24,7 tỷ USD, tăng 48,2%. Nhật Bản đạt 12,6 tỷ USD, tăng 13,8%. Thị trường EU đạt 9,7 tỷ USD, tăng 19,6%. Hoa Kỳ đạt 8,9 tỷ USD, tăng 10,4%.

Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng Sáu nhập siêu 455 triệu USD[17]; 6 tháng nhập siêu 1 tỷ USD; tháng Bảy ước tính nhập siêu 1,7 tỷ USD. Tính chung 7 tháng năm 2021, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 2,7 tỷ USD[18] (cùng kỳ năm trước xuất siêu 8,69 tỷ USD), trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 17,8 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 15,1 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Giá lương thực, thực phẩm tăng tại một số địa phương thực hiện giãn cách xã hội phòng chống dịch Covid-19 do người dân có tâm lý lo ngại thiếu hàng hóa đã tăng cường tích trữ; giá xăng dầu, giá gas tăng theo giá nhiên liệu thế giới và giá điện sinh hoạt tăng theo nhu cầu sử dụng trong mùa nắng nóng là những nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2021 tăng 0,62% so với tháng trước, tăng 2,25% so với tháng 12/2020 và tăng 2,64% so với tháng 7/2020. Tuy nhiên, tính chung 7 tháng năm 2021, CPI tăng 1,64% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016[19]; lạm phát cơ bản 7 tháng tăng 0,89%.

Trong mức tăng 0,62% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7/2021 so với tháng trước có 7 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, 3 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 1 nhóm giữ giá ổn định. Nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 2,36% (làm CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng, dầu vào ngày 26/6/2021, ngày 12/7/2021 và ngày 27/7/2021 làm chỉ số giá xăng tăng 7,08%, dầu diezen tăng 6,97%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,88% (làm CPI chung tăng 0,17 điểm phần trăm) chủ yếu do các đợt nắng nóng trong tháng làm chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 3,38% (làm CPI chung tăng 0,11 điểm phần trăm); giá dầu hỏa tăng 7,23%; giá gas tăng 7,77%. Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,67% (làm CPI chung tăng 0,22 điểm phần trăm) do nhu cầu tích trữ hàng hóa của người dân tại một số địa phương thực hiện giãn cách xã hội tăng đột biến làm giá lương thực, thực phẩm tăng, trong đó: Lương thực tăng 0,36%[20]; thực phẩm tăng 0,95%[21]; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,11%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,18% do nhu cầu tiêu dùng đồ uống giải khát trong mùa hè tăng cao cùng với giá thuốc lá tăng 0,43% do nguồn cung giảm. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,06% chủ yếu do giá xà phòng và các chất tẩy rửa tăng khi nhu cầu tiêu dùng tăng trong mùa dịch. Nhóm giáo dục tăng 0,03% do giá văn phòng phẩm tăng 0,25%. Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03% chủ yếu do dịch Covid-19 diễn biến nhanh và phức tạp nên nhu cầu mua các loại thuốc tăng cường hệ miễn dịch tăng làm giá các loại thuốc tăng 0,12%. Ba nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 giảm 0,1% chủ yếu do giá du lịch trọn gói giảm 0,05%; giá khách sạn, nhà khách giảm 0,41%, bên cạnh đó, giá cây, hoa cảnh giảm 0,53% do thời tiết thuận lợi, đang rộ mùa. Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05% do giá điện thoại di động giảm 0,12% và phụ kiện điện thoại thông minh, máy tính bảng giảm 1,77%. Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép giảm 0,03%. Riêng nhóm hàng hóa và dịch vụ khác không đổi.

 Lạm phát cơ bản tháng 7/2021 giảm 0,06% so với tháng trước và tăng 0,99% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 7 tháng năm nay tăng 0,89% so với cùng kỳ năm 2020.

Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 28/7/2021 giảm 1,78% so với tháng 6/2021 do đồng đô-la Mỹ phục hồi, thị trường chứng khoán tăng điểm và lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ tăng nhẹ. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 7/2021 giảm 1,39% so với tháng trước; giảm 1,16% so với tháng 12/2020 và tăng 7,07% so với cùng kỳ năm trước.

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng trong bối cảnh các nhà đầu tư lo lắng biến thể Covid-19 mới có thể đe dọa triển vọng phục hồi kinh tế toàn cầu. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 7/2021 tăng 0,09% so với tháng trước; giảm 0,23% so với tháng 12/2020 và giảm 0,55% so với cùng kỳ năm trước.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Trong tháng Bảy, hoạt động vận tải, đặc biệt là vận tải hành khách gặp khó khăn khi nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg. Vận tải hành khách tháng Bảy giảm 24,9% về lượng hành khách vận chuyển và giảm 25,7% về lượng hành khách luân chuyển so với tháng trước; vận tải hàng hóa giảm 11,6% về sản lượng vận chuyển và giảm 6,4% về sản lượng luân chuyển. Tính chung 7 tháng năm 2021, vận chuyển hành khách giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách giảm 17,5% và vận chuyển hàng hóa tăng 3,1%, luân chuyển hàng hóa tăng 4,7%.

Vận tải hành khách tháng Bảy ước tính đạt 146,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 50,4% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 5,6 tỷ lượt khách.km, giảm 60,2%. Tính chung 7 tháng năm 2021, vận tải hành khách đạt 1.917,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 26,9%) và luân chuyển 80,6 tỷ lượt khách.km, giảm 17,5% (cùng kỳ năm trước giảm 31,8%), trong đó: Vận tải trong nước đạt 1.917,7 triệu lượt khách, giảm 9,5% và 80,1 tỷ lượt khách.km, giảm 9,2%; vận tải ngoài nước đạt 97,5 nghìn lượt khách, giảm 96,4% và 484,2 triệu lượt khách.km, giảm 94,9%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hành khách đường bộ 7 tháng đạt 1.775,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước và 65,4 tỷ lượt khách.km luân chuyển, giảm 8%; đường thủy nội địa đạt 123,2 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 3% và 2,2 tỷ lượt khách.km luân chuyển, giảm 3,6%; hàng không đạt 13,7 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 32,3% và 12,3 tỷ lượt khách.km luân chuyển, giảm 46,6%; đường biển đạt 3,8 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 8,9% và 196,8 triệu lượt khách.km luân chuyển, giảm 2,7%; đường sắt đạt 1,2 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 52,3% và 520,8 triệu lượt khách.km luân chuyển, giảm 54,1%.

Vận tải hàng hóa tháng Bảy ước tính đạt 111,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 24,3% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển 24,1 tỷ tấn.km, giảm 13,2%. Tính chung 7 tháng năm 2021, vận tải hàng hóa đạt 987,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2020 giảm 7,3%)luân chuyển 196,4 tỷ tấn.km, tăng 4,7% (cùng kỳ năm trước giảm 7,3%), trong đó vận tải trong nước đạt 970,4 triệu tấn vận chuyển, tăng 3,6% và 115,7 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 20,6%; vận tải ngoài nước đạt 17 triệu tấn vận chuyển, giảm 19,7% và 80,7 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 12%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 7 tháng đạt 747,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước và 52,5 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 3,5%; đường thủy nội địa đạt 187,2 triệu tấn vận chuyển, tăng 7,4% và 41,3 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 11,9%; đường biển đạt 49 triệu tấn vận chuyển, tăng 8,3% và 98,9 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 3,6%; đường sắt đạt 3,3 triệu tấn vận chuyển, tăng 14,8% và 2,2 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 6,5%; đường hàng không đạt 147,5 nghìn tấn vận chuyển, giảm 9,2% và 1,5 tỷ tấn.km luân chuyển, giảm 38,4%.

đ) Khách quốc tế đến Việt Nam[22]

Khách quốc tế đến Việt Nam trong tháng 7/2021 đạt 7,5 nghìn lượt người, giảm 46,4% so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế nên lượng khách đến chủ yếu là chuyên gia, lao động kỹ thuật nước ngoài làm việc tại các dự án ở Việt Nam. Tính chung 7 tháng năm 2021, khách quốc tế đến nước ta đạt 95,7 nghìn lượt người, giảm 97,5% so với cùng kỳ năm trước.

Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Bảy ước tính đạt 7,5 nghìn lượt người, tăng 3,7% so với tháng trước và giảm 46,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm 2021, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 95,7 nghìn lượt người, giảm 97,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 61,5 nghìn lượt người, chiếm 64,2% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và giảm 98% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 34 nghìn lượt người, chiếm 35,5% và giảm 94%; bằng đường biển đạt 236 lượt người, chiếm 0,3% và giảm 99,8%.

Trong 7 tháng năm nay, khách đến từ châu Á đạt 83,6 nghìn lượt người, chiếm 87,4% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ tất cả các thị trường đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 39,4 nghìn lượt người, giảm 95,7% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 19,5 nghìn lượt người, giảm 97,6%; Đài Loan 7,4 nghìn lượt người, giảm 96,2%; Nhật Bản 5,1 nghìn lượt người, giảm 97,5%; Lào 4,9 nghìn lượt người, giảm 88,2%. Khách đến từ châu Âu trong 7 tháng ước tính đạt 7,7 nghìn lượt người, giảm 98,8% so với cùng kỳ năm trước; khách đến từ châu Mỹ đạt 2,9 nghìn lượt người, giảm 98,8%; khách đến từ châu Úc đạt 750 lượt người, giảm 99,3%; khách đến từ châu Phi đạt 752 lượt người, giảm 93,8%.

7. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư

Dịch Covid-19 tái bùng phát trở lại đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống nhân dân và hoạt động của doanh nghiệp, trước tình hình đó Chính phủ,

Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo kịp thời nhằm đảm bảo an sinh xã hội, đặc biệt là vùng ảnh hưởng trực tiếp từ dịch bệnh như: Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021 về một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19; Quyết định số 23/2021/QĐ-TTg ngày 07/7/2021 quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch Covid-19 với tổng gói hỗ trợ là 26 nghìn tỷ đồng. Đồng thời các địa phương đã chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với đại dịch, chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện tốt công tác an sinh xã hội. Ngoài các gói hỗ trợ của Chính phủ, nhiều tỉnh, thành phố cũng đã sử dụng một phần kinh phí ngân sách địa phương để hỗ trợ các nhóm yếu thế, người lao động... do vậy, đời sống của người dân cơ bản ổn định.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/6-18/7/2021), cả nước có 9.577 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (4 trường hợp tử vong); 864 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 65 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút; 49 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. Tính chung 7 tháng năm 2021, cả nước có 39.323 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (9 trường hợp tử vong); 37.457 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (11 trường hợp tử vong); 367 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (5 trường hợp tử vong); 13 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu (2 trường hợp tử vong); 358 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 39 trường hợp dương tính.

Dịch Covid-19 trên thế giới vẫn diễn biến phức tạp[23]. Tại Việt Nam, số ca mắc mới đang có chiều hướng tăng nhanh. Tính đến sáng ngày 28/7/2021, Việt Nam có 117.121 trường hợp mắc, trong đó 22.946 trường hợp đã được chữa khỏi và 524 trường hợp tử vong. Có 6 tỉnh, thành phố đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới: Yên Bái, Quảng Trị, Điện Biên, Quảng Ninh, Bắc Kạn, Nam Định.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/7/2021 là 211.111 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 89.874 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 106.328 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Bảy xảy ra 5 vụ với 342 người bị ngộ độc. Tính chung 7 tháng năm 2021, cả nước xảy ra 47 vụ với 1.244 người bị ngộ độc (5 người tử vong).

c) Tai nạn giao thông[24]

Trong tháng Bảy (từ 15/6-14/7/2021), trên địa bàn cả nước xảy ra 792 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 531 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 261 vụ va chạm giao thông, làm 435 người chết, 273 người bị thương và 236 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 4% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,5% và số vụ va chạm giao thông giảm 8,7%); số người chết giảm 0,2% và số người bị thương tăng 7,9% và số người bị thương nhẹ giảm 14,2%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Bảy giảm 34,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 25,7% và số vụ va chạm giao thông giảm 46,8%); số người chết giảm 20,8%; số người bị thương giảm 37,2% và số người bị thương nhẹ giảm 50,4%.

Tính chung 7 tháng năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 7.137 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 4.568 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.569 vụ va chạm giao thông, làm 3.635 người chết, 2.362 người bị thương và 2.622 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 7 tháng năm nay giảm 10,7% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 0,2%; số vụ va chạm giao thông giảm 24,8%); số người chết giảm 4,1%; số người bị thương giảm 0,2% và số người bị thương nhẹ giảm 24,7%. Bình quân 1 ngày trong 7 tháng năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 34 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 12 vụ va chạm giao thông, làm 17 người chết, 11 người bị thương và 12 người bị thương nhẹ.

d) Thiệt hại do thiên tai[25]

Thiên tai xảy ra trong tháng (từ ngày 19/6-18/7/2021) chủ yếu là mưa lớn gây ngập, giông lốc, sét đánh, hạn hán và sạt lở làm 7 người chết; 14 người bị thương; 27,3 nghìn ha lúa và 7,8 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 44 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 1,1 nghìn ngôi nhà bị ngập hư hại, thiệt hại ước tính 263,2 tỷ đồng, giảm 84,4% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 7 tháng năm nay, thiên tai làm 41 người chết và mất tích, 65 người bị thương; 282 ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và 8,8 nghìn ngôi nhà bị ngập hư hại; 7 nghìn con gia súc và gia cầm bị chết; 74,8 nghìn ha lúa và 20,1 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 771,8 tỷ đồng, giảm 88% so với cùng kỳ năm trước.

đ) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 7/2021, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.409 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.255 vụ với tổng số tiền phạt gần 34 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng năm nay đã phát hiện 10.491 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 9.261 vụ với tổng số tiền phạt 154,3 tỷ đồng.

Trong tháng[26], cả nước xảy ra 216 vụ cháy, nổ, làm 8 người chết và 5 người bị thương, thiệt hại ước tính 29,6 tỷ đồng. Tính chung 7 tháng năm 2021, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.384 vụ cháy, nổ, làm 67 người chết và 93 người bị thương, thiệt hại ước tính 318,3 tỷ đồng./.
 

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

[1] Bắc Ninh, Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Nam, Khánh Hòa, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau.
[2] Bắc Ninh, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Yên Bái, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Điện Biên, Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Long An.
[3] Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính từ 16/6/2021 đến 15/7/2021.
[4] Giá cá tra nguyên liệu cỡ 900 gram/con ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long tính đến trung tuần tháng Bảy dao động ở mức giá 21.500-22.000 đồng/kg. Nguồn: http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia.
[5] Giá tôm nguyên liệu tính tới trung tuần tháng Bảy ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long giảm từ 3.000-4.000 đồng/kg ở tất cả các mặt hàng so với những tháng đầu năm 2021. Giá tôm thẻ chân trắng cỡ 100 con/kg dao động 82.000-90.000 đồng/kg, cỡ 80 con/kg có giá từ 94.000-98.000 đồng/kg; giá tôm sú cỡ 20 con/kg có giá từ 215.000-225.000 đồng/kg. Nguồn: http://agromonitor.vn/group/47/272/giam-sat-gia.
[6] Chỉ số sản xuất công nghiệp các tháng năm 2021 so với cùng kỳ năm trước là: Tháng Một tăng 23,7%; tháng Hai giảm 8,3% (do Tết Nguyên đán Tân Sửu tập trung vào tháng Hai); tháng Ba tăng 3,6%; tháng Tư tăng 22,2%; tháng Năm tăng 11,9%; tháng Sáu tăng 4,9%; tháng Bảy tăng 2,2%.
[7] IIP tháng 7/2020 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương tăng thấp hoặc giảm: TP. Hồ Chí Minh giảm 3,8%; Tiền Giang giảm 1,4%; Cần Thơ giảm 4,8%; Vĩnh Long giảm 8,8%; Đồng Tháp tăng 4,3%; An Giang tăng 5,5%; Hậu Giang tăng 8,3%; Sóc Trăng tăng 7,2%; Bạc Liêu tăng 7,6%; Kiên Giang tăng 8,6%.
[8] IIP 7 tháng năm 2020 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương tăng thấp hoặc giảm: Bình Dương tăng 6,1%; Đồng Nai tăng 5,3%; Long An tăng 3,4%; Đồng Tháp tăng 2,3%; Tiền Giang tăng 0,7%; Cần Thơ giảm 1,1%; TP. Hồ Chí Minh giảm 5,5%.
[9] Một số địa phương có năng lực mới tăng được hoàn thành tháng 12/2020 và bổ sung trong 7 tháng năm nay là: Bình Dương bổ sung KCN Bàu Bàng; KCN Mỹ Phước 1,2,3; KCN Thới Hòa; nhà máy sản xuất vải lưới – Công ty TNHH Paihong Việt Nam; Nhà máy chế biến gỗ gia dụng – Công ty TNHH chế biến gỗ Mộc Xuyên…; ở Đồng Nai có Nhà máy sản xuất bột ngọt VeDan, xưởng sản xuất giày Changshin, Công ty Kim Sơn Bảo xây dựng thêm nhà máy mới, Xưởng luyện keo và kho nguyên liệu công ty cao su Kenda Việt Nam, Dây chuyền sản xuất công ty Tôn Phương Nam; ở Vĩnh Long có nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, gia cầm thủy sản Hải Đại Vĩnh Long (hoàn thành tháng 10/2020), nhà máy sản xuất linh kiện ô tô Kyungshin Việt Nam; ở Cần Thơ có khu công nghiệp Hưng Phú 1.
[10] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Báo cáo nhận ngày 26/7/2021).
[11] 7 tháng năm 2020, số doanh nghiệp giảm 33,8%; số vốn đăng ký giảm 48,7%; số lao động đăng ký giảm 22% so với cùng kỳ năm trước.
[12] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/7/2021.
[13] Vốn đầu tư điều chỉnh tăng mạnh do có dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ điều chỉnh tăng 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển cao su Đông Dương tại Campuchia tăng 76 triệu USD và 01 dự án của Vinfast tại Đức tăng 32 triệu USD.
[14] Theo báo cáo của Bộ Tài chính tính đến ngày 15/7/2021.
[15] Số liệu tháng 7/2021 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/7/2021 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng. Tổng cục Thống kê nhận được và cập nhật báo cáo vào chiều ngày 28/7/2021.
[16] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 7 tháng năm 2020 đạt 286,66 tỷ USD, giảm 0,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 147,67 tỷ USD, tăng 1,5%; nhập khẩu đạt 138,99 tỷ USD, giảm 3,2%.
[17] Ước tính tháng Sáu nhập siêu 1 tỷ USD.
[18] Trong đó, 7 tháng năm 2021 xuất siêu sang EU đạt 12,8 tỷ USD, tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 33,6 tỷ USD, tăng 78,3%; nhập siêu từ Hàn Quốc 17,7 tỷ USD, tăng 27,4%; nhập siêu từ ASEAN 8,6 tỷ USD, tăng 123%.
[19] Tốc độ tăng CPI bình quân 7 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2021 lần lượt là: tăng 1,82%; tăng 3,91%; tăng 3,45%; tăng 2,61%; tăng 4,07%; tăng 1,64%.
[2] Giá gạo tăng 0,22% chủ yếu ở các tỉnh miền Trung và miền Nam do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp làm nhu cầu tiêu dùng và dự trữ gạo của người dân tăng; giá bột mỳ và ngũ cốc khác tăng 2,56%; giá lương thực chế biến tăng 0,36%.
[21] Giá thịt gia cầm tăng 1,07% do giá thức ăn chăn nuôi tăng; giá trứng các loại tăng 6,34% do nhu cầu của người dân tăng cao trong bối cảnh nhiều địa phương thực hiện giãn cách xã hội; giá thủy sản tươi sống tăng 1,19% do các tàu thuyền khai thác thủy sản trong tháng hoạt động hạn chế; giá rau tươi, khô và chế biến tăng 6,86% do việc vận chuyển hàng hóa khó khăn, thời gian giãn cách xã hội dài, một số chợ đầu mối tạm ngừng hoạt động, nguồn rau về chợ bán lẻ giảm tại một số địa phương. Ở chiều ngược lại, giá thịt lợn giảm 1,5% (làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm) do dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, nhiều nhà hàng, quán ăn, trường học phải đóng cửa làm cho mức tiêu thụ mặt hàng thịt lợn giảm trong khi nguồn cung thịt lợn tăng; giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm (giá thịt quay, giò, chả giảm 0,39%; mỡ động vật giảm 4,26%); giá quả tươi và chế biến giảm 0,23% do nguồn cung tăng khi đang vào mùa thu hoạch, trong khi xuất khẩu và vận chuyển giữa các địa phương khó khăn, tiêu thụ qua du lịch giảm.
[2] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an, kỳ báo cáo từ ngày 21/6-20/7/2021.
[23] Tính đến sáng ngày 28/7/2021 trên thế giới có 195.980,2 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (4.193 nghìn trường hợp tử vong).
[24] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải (Bộ Giao thông vận tải).
[25] Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/6-18/7/2021.
[26] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/7/2021.

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top