Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2020

29/08/2020 - 03:25 PM - 207 lượt xem
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản
 
Sản xuất nông nghiệp trong tháng tập trung chủ yếu vào gieo cấy, chăm sóc lúa mùa và thu hoạch lúa, hoa màu vụ hè thu. Chăn nuôi gia cầm phát triển tốt. Chăn nuôi lợn đang dần khôi phục sau dịch tả lợn châu Phi nhưng tốc độ tái đàn còn chậm do giá con giống vẫn ở mức cao. Sản xuất lâm nghiệp trong tháng nhìn chung ổn định. Ngành thủy sản tiếp tục gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm giảm.
 
a) Nông nghiệp
 
Tính đến ngày 15/8, cả nước gieo cấy được 1.447,2 nghìn ha lúa mùa, bằng 99% cùng kỳ năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.047,2 nghìn ha, bằng 98,5%; các địa phương phía Nam đạt 400 nghìn ha, bằng 100,3%. Diện tích gieo cấy lúa mùa ở các địa phương phía Bắc giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do đầu vụ nắng nóng kéo dài và do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ. Trong tháng, mặc dù lượng mưa lớn, tập trung nhưng các địa phương đã chủ động bơm, tiêu nước đệm kịp thời nên không gây ngập úng cục bộ, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Tuy nhiên, trên các trà lúa đang bắt đầu xuất hiện rải rác một số loại sâu bệnh gây hại nhẹ như sâu cuốn lá nhỏ, khô vằn. Các địa phương cần tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh, không để lây lan trên diện rộng ảnh hưởng đến kết quả sản xuất toàn vụ.
 
Vụ lúa hè thu năm nay cả nước gieo cấy được 1.945,4 nghìn ha, giảm 64,1 nghìn ha so với vụ hè thu năm trước do ảnh hưởng của hạn hán và xâm nhập mặn; riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long giảm 44,1 nghìn ha. Tính đến trung tuần tháng Tám, cả nước thu hoạch được 942,4 nghìn ha lúa hè thu, chiếm 48,4% diện tích gieo cấy và bằng 88,8% cùng kỳ năm trước, tập trung chủ yếu ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long với 875,1 nghìn ha, chiếm 57,4% diện tích xuống giống và bằng 87,7% cùng kỳ năm trước. Theo báo cáo của các địa phương, lúa hè thu năm nay được mùa với năng suất ước tính đạt 55,3 tạ/ha, tăng 0,8 tạ/ha so với vụ hè thu năm 2019 nhưng do diện tích gieo cấy giảm nên sản lượng toàn vụ ước tính đạt 10,76 triệu tấn, giảm 184,8 nghìn tấn. Một số địa phương sản lượng giảm nhiều so với vụ hè thu năm trước do diện tích giảm là: Tiền Giang giảm 89,3 nghìn tấn; Đồng Tháp giảm 34,8 nghìn tấn; Vĩnh Long giảm 13,8 nghìn tấn; Cần Thơ giảm 12,8 nghìn tấn.
 
Đến trung tuần tháng Tám, vùng Đồng bằng sông Cửu Long xuống giống được 355,7 nghìn ha lúa thu đông, bằng 99,2% cùng kỳ năm trước. Năm nay có tháng nhuận và do ảnh hưởng xâm nhập mặn nên tiến độ xuống giống chậm hơn cùng kỳ năm trước. Hiện nay, lúa thu đông chủ yếu ở giai đoạn làm đòng đến chắc xanh, sinh trưởng và phát triển khá tốt. Để hạn chế ảnh hưởng của lũ, giảm tỷ lệ hao hụt xuống mức thấp nhất, các địa phương cần tăng cường khuyến cáo người dân chỉ nên sản xuất lúa thu đông ở những nơi có hệ thống thủy lợi nội đồng hoàn chỉnh, chủ động ngăn được lũ hoặc tiêu thoát nước tốt, đồng thời thực hiện tốt các biện pháp phòng trừ sâu bệnh.
 
Tính đến ngày 15/8, các địa phương trên cả nước gieo trồng được 833,6 nghìn ha ngô, bằng 97,4% cùng kỳ năm trước; 94,1 nghìn ha khoai lang, bằng 93,2%; 153,4 nghìn ha lạc, bằng 96,8%; 37,1 nghìn ha đậu tương, bằng 92,8%; 914,5 nghìn ha rau đậu, bằng 98,5%.
 
Chăn nuôi trâu, bò trong tháng nhìn chung ổn định. Chăn nuôi gia cầm phát triển khá. Chăn nuôi lợn đang dần được khôi phục sau dịch tả lợn châu Phi nhưng công tác tái đàn còn chậm do giá con giống vẫn ở mức cao (khoảng 2,5 triệu đồng/con đến hơn 3,0 triệu đồng/con), các hộ chăn nuôi không có đủ nguồn lực để đầu tư tái đàn sau thời gian dài bị thiệt hại vì dịch bệnh, việc tái đàn chủ yếu ở các cơ sở chăn nuôi lớn. Ước tính trong tháng Tám, tổng số trâu của cả nước giảm 2% so với cùng thời điểm năm 2019; tổng số bò tăng 3%; tổng số lợn giảm 4%; tổng số gia cầm tăng 4,5%.
 
Tính đến ngày 25/8/2020, cả nước không còn dịch tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở Kon Tum, Đắk Lắk, Khánh Hòa; dịch lở mồm long móng còn ở Cao Bằng, Quảng Trị, Kon Tum, Đồng Nai và dịch tả lợn châu Phi còn ở 181 xã của 19 địa phương[1] chưa qua 21 ngày.
 
b) Lâm nghiệp
 
Trong tháng Tám, hoạt động sản xuất lâm nghiệp chủ yếu tập trung cho công tác khai thác gỗ, chăm sóc rừng trồng và chuẩn bị cho trồng rừng vụ Thu. Diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 17,5 nghìn ha, giảm 16,7% so với cùng kỳ năm trước do kế hoạch trồng rừng năm 2020 giảm ở hầu hết các tỉnh và nắng nóng vẫn tiếp diễn ở các tỉnh miền Trung; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7,3 triệu cây, tăng 3,1%; sản lượng gỗ khai thác đạt 1.505 nghìn m3, tăng 1,4%; sản lượng củi khai thác đạt 1,5 triệu ste, tăng 0,7%.
 
Tính chung 8 tháng, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 136,5 nghìn ha, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 58,5 triệu cây, giảm 0,8%; sản lượng gỗ khai thác đạt 10.490 nghìn m3, tăng 1,6%; sản lượng củi khai thác đạt 12,9 triệu ste, giảm 0,2%.
 
Công tác phòng và chữa cháy rừng tiếp tục được tăng cường, tuy nhiên nạn chặt phá rừng làm nương rẫy lại gia tăng ở một số địa phương. Trong tháng 8/2020, diện tích rừng bị thiệt hại là 116,5 ha, giảm 75,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 45,8 ha, giảm 89,5%; diện tích rừng bị chặt phá là 70,7 ha, tăng 55%. Tính chung 8 tháng, diện tích rừng bị thiệt hại là 1.881,1 ha, giảm 15,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 1.362,9 ha, giảm 23,8%; diện tích rừng bị chặt phá là 518,3 ha, tăng 19%.
 
c) Thủy sản
 
Sản lượng thủy sản cả nước tháng 8/2020 ước tính đạt 741,8 nghìn tấn, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 528 nghìn tấn, tăng 2%; tôm đạt 100,1 nghìn tấn, giảm 1,8%; thủy sản khác đạt 113,7 nghìn tấn, tăng 1,1%.
 
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước tính đạt 405,9 nghìn tấn, tăng 0,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 277,8 nghìn tấn, tăng 1%; tôm đạt 87,5 nghìn tấn, giảm 2,2%. Dịch Covid-19 tiếp tục gây ảnh hưởng lớn đến các sản phẩm thủy sản chủ lực, chủ yếu sản xuất phục vụ chế biến xuất khẩu. Giá cá tra nguyên liệu ở các tỉnh vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong tháng dao động ở mức 18.000-18.500 đồng/kg, người nuôi đang lỗ khoảng 4.500-5.000 đồng/kg. Giá tôm thẻ chân trắng trong nửa đầu tháng Tám giảm mạnh so với tháng Bảy và xuống mức thấp nhất kể từ đầu năm 2020. Sản lượng cá tra tháng Tám ước tính đạt 139 nghìn tấn, giảm 3,6% so với cùng kỳ năm trước; tôm sú đạt 24,1 nghìn tấn, giảm 6%; tôm thẻ chân trắng đạt 61,7 nghìn tấn, giảm 1,1%.
 
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 8/2020 ước tính đạt 335,9 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm cá đạt 250,2 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 12,6 nghìn tấn, tăng 1,6%; thủy sản khác đạt 73,1 nghìn tấn, tăng 2,2%. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Tám ước tính đạt 317,2 nghìn tấn, tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó cá đạt 237,4 nghìn tấn, tăng 3%; tôm đạt 11,7 nghìn tấn, tăng 1,7%.
 
Tính chung 8 tháng năm 2020, sản lượng thủy sản ước tính đạt 5.385,1 nghìn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 2.815,4 nghìn tấn, tăng 1,2%; sản lượng thủy sản khai thác đạt 2.569,7 nghìn tấn, tăng 1,8% (sản lượng khai thác biển đạt 2.455,6 nghìn tấn, tăng 1,9%).
 
2. Sản xuất công nghiệp
 
Sản xuất công nghiệp tháng 8/2020 tiếp tục đối mặt với khó khăn, nhất là trong tình hình dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng 7/2020 tại Đà Nẵng và lây lan sang một số địa phương trên cả nước. Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 8/2020 chỉ tăng 3,5% so với tháng trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 2,2%, là mức tăng thấp nhất trong nhiều năm qua[2].
 
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 8/2020 ước tính tăng 3,5% so với tháng trước và giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành khai khoáng giảm 5,1%; ngành chế biến, chế tạo giảm 0,1%; ngành sản xuất và phân phối điện giảm 0,7%; ngành cung cấp nước và hoạt động quản lý, xử lý rác thải, nước thải tăng 2,2%.
 
Tính chung 8 tháng năm 2020, IIP ước tính tăng 2,2% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 9,5% của cùng kỳ năm 2019. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 3,7% (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,6%), đóng góp 3 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 2%, đóng góp 0,2 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,9%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai khoáng giảm 7%, làm giảm 1,1 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
 
Dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp trên toàn cầu làm chuỗi cung ứng nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn, đồng thời bùng phát trở lại ở một số địa phương trên cả nước từ cuối tháng 7/2020 đã ảnh hưởng đến sự phục hồi của sản xuất công nghiệp. Trong các ngành công nghiệp cấp II, một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng giảm sâu hoặc tăng rất thấp so với cùng kỳ năm trước: Hoạt động dịch vụ hỗ trợ khai thác mỏ và quặng giảm 23,3%; sản xuất xe có động cơ giảm 14%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 11,4%; sản xuất mô tô, xe máy giảm 9,5%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 7,8%; sản xuất đồ uống giảm 6,9%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu giảm 5,1%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,3%; sản xuất trang phục giảm 4,2%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 4%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 1,4%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 1,2%; dệt tăng 1,3%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,8%. Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 26,2%; khai thác quặng kim loại tăng 14,4%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,3% (sản xuất sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 10,8%); sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,6%; sản xuất sản phẩm thuốc lá tăng 8,4%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất, sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học cùng tăng 7,8%.
 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 8 tháng giảm sâu hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước: Bia giảm 14,8%; dầu thô khai thác giảm 14%; ô tô giảm 12,5%; khí hóa lỏng (LPG) giảm 12,1%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 9,2%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 8,4%; sắt, thép thô giảm 7,8%; xe máy giảm 7,1%; quần áo mặc thường giảm 5,5%; điện thoại di động giảm 4,4%; thép cán giảm 3,4%; thức ăn cho gia súc giảm 2,9%; phân hỗn hợp NPK tăng 0,4%; alumin tăng 0,7%; điện sản xuất tăng 1,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 2,4%. Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng khá so với cùng kỳ năm trước: Ti vi tăng 14,9%; xăng dầu các loại tăng 12,6%; bột ngọt tăng 12,4%; thép thanh, thép góc tăng 12%; thuốc lá điếu tăng 8,4%; phân u rê tăng 7,3%; than sạch tăng 5,3%.
 
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/8/2020 tăng 1,2% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,9% so với cùng thời điểm năm trước, trong đó lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước giảm 1,7%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước giảm 3,5%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm 2,8%. Tại thời điểm trên, số lao động làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng giảm 0,9% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo giảm 3,1%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,6%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải giảm 1,1%.
 
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[3]
 
Dịch Covid-19 mới xuất hiện trở lại vào cuối tháng 7/2020 nên chưa ảnh hưởng quá nặng nề đến tâm lý cộng đồng doanh nghiệp, số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng Tám vẫn tăng 1,5% so với tháng trước, vốn đăng ký tăng 20,7%. Tính chung 8 tháng năm 2020, cả nước có 88,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước với vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp là 13,8 tỷ đồng, tăng 8,7%; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 27,9%; doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể giảm 5,9% và doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể giảm 1,9%.
 
Trong tháng 8/2020, cả nước có 13,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 288,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký là 96,3 nghìn lao động, tăng 1,5% về số doanh nghiệp, tăng 20,7% về vốn đăng ký và tăng 5,4% về số lao động so với tháng trước[4]. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 21,6 tỷ đồng, tăng 18,9% so với tháng trước và tăng 59,2% so với cùng kỳ năm 2019. Trong tháng, cả nước còn có 4.775 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 1,3% so với tháng trước và tăng 200,9% so với cùng kỳ năm 2019; có 3.102 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 8% và tăng 158,5%; có 3.424 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 11,6% và tăng 63,4%; có 1.416 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 5,9% và tăng 9,3%; có 3.917 doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, giảm 14,7% và tăng 134,4%.
 
Tính chung 8 tháng, cả nước có 88,7 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 1.225,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 694,9 nghìn lao động, giảm 2% về số doanh nghiệp, tăng 6,5% về vốn đăng ký và giảm 16,5% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 8 tháng đạt 13,8 tỷ đồng, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm trước. Nếu tính cả 1.993,2 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 26,1 nghìn doanh nghiệp thay đổi tăng vốn thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 8 tháng năm nay là 3.218,4 nghìn tỷ đồng, tăng 16,8% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 32,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 27,9% so với 8 tháng năm 2019, nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 8 tháng lên 121,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trung bình mỗi tháng có gần 15,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
 
Theo khu vực kinh tế, 8 tháng năm nay có 1.697 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước; có hơn 26,3 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 7,7%; có 60,6 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, giảm 6,3%. Một số ngành, lĩnh vực hoạt động có số doanh nghiệp thành lập mới tăng trở lại như: Sản xuất phân phối điện, nước, gas có 3.394 doanh nghiệp, tăng 247% so với cùng kỳ năm trước; khoa học công nghệ, dịch vụ tư vấn, thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác 7.724 doanh nghiệp, tăng 1,9%; khai khoáng 454 doanh nghiệp, tăng 1,1%. Các ngành còn lại đều có số doanh nghiệp thành lập mới giảm: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có 29,3 nghìn doanh nghiệp, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm 2019; xây dựng 11,4 nghìn doanh nghiệp, giảm 1,5%; công nghiệp chế biến, chế tạo 11,1 nghìn doanh nghiệp, giảm 3,2%; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng và các dịch vụ hỗ trợ khác 4.537 doanh nghiệp, giảm 14%; kinh doanh bất động sản 4.331 doanh nghiệp, giảm 19,6%; vận tải, kho bãi 3.633 doanh nghiệp, giảm 4,9%; dịch vụ lưu trú và ăn uống 3.433 doanh nghiệp, giảm 20,3%; thông tin truyền thông 2.506 doanh nghiệp, giảm 2,1%; giáo dục và đào tạo 2.355 doanh nghiệp, giảm 13,2%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm 865 doanh nghiệp, giảm 9,9%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí 584 doanh nghiệp, giảm 36,7%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 597 doanh nghiệp, giảm 2,3%.
 
Trong 8 tháng, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là gần 34,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 70,8% so với cùng kỳ năm trước; 24,2 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 5,9%; 10,4 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 1,9%, trong đó có 9,2 nghìn doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng, giảm 3,8%; 168 doanh nghiệp có quy mô vốn trên 100 tỷ đồng, tăng 11,3%. Doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có gần 3,8 nghìn doanh nghiệp; công nghiệp chế biến, chế tạo có 1.175 doanh nghiệp; xây dựng có 897 doanh nghiệp; khoa học, công nghệ, dịch vụ tư vấn thiết kế, quảng cáo và chuyên môn khác có 675 doanh nghiệp; kinh doanh bất động sản có 620 doanh nghiệp; dịch vụ lưu trú và ăn uống có 589 doanh nghiệp; dịch vụ việc làm, du lịch, cho thuê máy móc thiết bị, đồ dùng, các dịch vụ hỗ trợ khác có 566 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi có 431 doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo có 396 doanh nghiệp; thông tin truyền thông có 379 doanh nghiệp. Trong 8 tháng, trên cả nước còn có 30,6 nghìn doanh nghiệp không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký, tăng 39,3% so với cùng kỳ năm trước.
 
4. Đầu tư
 
Với quyết tâm vừa đẩy lùi dịch bệnh vừa phát triển kinh tế, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các Bộ, ngành và địa phương tập trung thực hiện các giải pháp đồng bộ, nỗ lực tháo gỡ vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án, công trình. Tốc độ tăng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Tám và 8 tháng năm 2020 lần lượt tăng 45,4% và tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước, mức cao nhất trong giai đoạn 2016-2020[5].
 
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 8/2020 ước tính đạt 47,4 nghìn tỷ đồng, tăng 45,4% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý 8,7 nghìn tỷ đồng, tăng 86,7%; vốn địa phương quản lý 38,7 nghìn tỷ đồng, tăng 38,5%. Tính chung 8 tháng năm 2020, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước đạt 250,5 nghìn tỷ đồng, bằng 50,7% kế hoạch năm và tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 bằng 50,1% và tăng 5,4%), cụ thể:
 
- Vốn Trung ương quản lý đạt 41,2 nghìn tỷ đồng, bằng 48,7% kế hoạch năm và tăng 65,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó Bộ Giao thông vận tải đạt 10.741 tỷ đồng, bằng 53,5% và tăng 90,8%; Bộ Y tế 2.902 tỷ đồng, bằng 43,5% và tăng 38,5%; Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn 2.192 tỷ đồng, bằng 49,3% và tăng 38,1%; Bộ Giáo dục và Đào tạo 1.210 tỷ đồng, bằng 39,5% và tăng 88,5%; Bộ Tài nguyên và Môi trường 575 tỷ đồng, bằng 36,4% và tăng 12,6%; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch 303 tỷ đồng, bằng 41,9% và giảm 12,8%; Bộ Công Thương 210 tỷ đồng, bằng 48,6% và tăng 65,8%; Bộ Xây dựng 157 tỷ đồng, bằng 44,2% và tăng 42,4%; Bộ Khoa học và Công nghệ 113 tỷ đồng, bằng 39,9% và giảm 28,9%; Bộ Thông tin và Truyền thông 56 tỷ đồng, bằng 40,6% và giảm 20,4%.
 
- Vốn địa phương quản lý đạt 209,3 nghìn tỷ đồng, bằng 51,1% kế hoạch năm và tăng 25,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 140,2 nghìn tỷ đồng, bằng 48,7% và tăng 24,4%; vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 58,3 nghìn tỷ đồng, bằng 55,9% và tăng 26,9%; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 10,8 nghìn tỷ đồng, bằng 63,9% và tăng 25,9%. Vốn thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng năm 2020 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau: Hà Nội đạt 26.587 tỷ đồng, bằng 58,6% kế hoạch năm và tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước; thành phố Hồ Chí Minh 22.279 tỷ đồng, bằng 46,6% và tăng 79,8%; Quảng Ninh 9.453 tỷ đồng, bằng 68% và tăng 58,3%; Bình Dương 7.028 tỷ đồng, bằng 47,1% và tăng 13,6%; Thanh Hóa 6.356 tỷ đồng, bằng 62% và tăng 29,8%; Hải Phòng 5.758 tỷ đồng, bằng 39,9% và tăng 8,9%; Nghệ An 4.993 tỷ đồng, bằng 64,3% và tăng 41,7%; Bà Rịa - Vũng Tàu 4.813 tỷ đồng, bằng 49,6% và tăng 12,6%; Bình Định 4.549 tỷ đồng, bằng 55,9% và tăng 45,6%.
 
Tổng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam tính đến ngày 20/8/2020 bao gồm vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 19,5 tỷ USD, giảm 13,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó có 1.797 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 9,7 tỷ USD, giảm 25,3% về số dự án và tăng 6,6% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; có 718 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 4,9 tỷ USD, tăng 22,2%; có 4.804 lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài với tổng giá trị góp vốn đạt 4,9 tỷ USD, giảm 48,2%. Trong tổng số lượt góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.137 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị vốn góp là 1,8 tỷ USD và 3.667 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị hơn 3,1 tỷ USD. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng ước tính đạt 11,4 tỷ USD, giảm 5,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 8,1 tỷ USD, chiếm 71,1% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,7 tỷ USD, chiếm 14,9%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 0,8 tỷ USD, chiếm 7%.
 
Trong 8 tháng năm 2020, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 4,5 tỷ USD, chiếm 46,1% tổng số vốn đăng ký cấp mới; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt hơn 4 tỷ USD, chiếm 41,5%; các ngành còn lại đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 12,4%. Nếu tính cả vốn đăng ký bổ sung của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt gần 8 tỷ USD, chiếm 54,7% tổng số vốn; ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 3,9 tỷ USD[6], chiếm 26,6%; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,6 tỷ USD, chiếm 11,3%; các ngành còn lại đạt 1,1 tỷ USD, chiếm 7,4%. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt hơn 1,3 tỷ USD, chiếm 26,9% tổng vốn; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,2 tỷ USD, chiếm 24,9%; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 0,7 tỷ USD, chiếm 14,8%; các ngành còn lại đạt 1,7 tỷ USD, chiếm 33,4%.
 
Trong số 70 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 8 tháng, Xin-ga-po là nhà đầu tư lớn nhất với 4,6 tỷ USD, chiếm 47,2% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Hàn Quốc 1.039,5 triệu USD, chiếm 10,7%; Trung Quốc 1.025,7 triệu USD, chiếm 10,5%; Đặc khu hành chính Hồng Công (TQ) 856,1 triệu USD, chiếm 8,8%; Đài Loan 823 triệu USD, chiếm 8,5%; Nhật Bản 442,3 triệu USD, chiếm 4,5%.
 
Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 8 tháng có 86 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn đầu tư của phía Việt Nam là 218,4 triệu USD; có 25 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn tăng thêm đạt 111,8 triệu USD. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và tăng thêm) 8 tháng đạt 330,2 triệu USD, tăng 15,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 225,7 triệu USD, chiếm 68,4% tổng vốn đầu tư; dịch vụ lưu trú và ăn uống đạt 39,6 triệu USD, chiếm 12%; bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác đạt 19,6 triệu USD, chiếm 5,9%. Trong 8 tháng có 24 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó Đức là nước dẫn đầu với 92,6 triệu USD, chiếm 28%; Lào 86,7 triệu USD, chiếm 26,3%; Mi-an-ma 44,6 triệu USD, chiếm 13,5%; Hoa Kỳ 40,8 triệu USD, chiếm 12,3%.
 
5. Thu, chi ngân sách Nhà nước
 
Dịch Covid-19 bùng phát trở lại vào cuối tháng Bảy tại Đà Nẵng và lây lan sang một số địa phương khác trên cả nước gây cản trở sự phục hồi của các hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến tiến độ thu ngân sách Nhà nước trong 15 ngày đầu tháng 8/2020. Chi ngân sách Nhà nước tập trung bảo đảm các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, y tế, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn và hỗ trợ đối tượng bị ảnh hưởng của dịch bệnh.
 
Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2020 ước tính đạt 812,2 nghìn tỷ đồng, bằng 53,7% dự toán năm, trong đó thu nội địa đạt 674,4 nghìn tỷ đồng, bằng 53,3%; thu từ dầu thô 24,2 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 112,8 nghìn tỷ đồng, bằng 54,2%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước đạt 80,5 nghìn tỷ đồng, bằng 45,3% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 114,3 nghìn tỷ đồng, bằng 50%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 118,9 nghìn tỷ đồng, bằng 43,9%; thu thuế thu nhập cá nhân 77,1 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9%; thu thuế bảo vệ môi trường 35,1 nghìn tỷ đồng, bằng 52%; thu tiền sử dụng đất 83,3 nghìn tỷ đồng, bằng 86,8%.
 
Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2020 ước tính đạt 918,2 nghìn tỷ đồng, bằng 52,6% dự toán năm, trong đó chi thường xuyên đạt 633,2 nghìn tỷ đồng, bằng 59,9%; chi đầu tư phát triển 208,7 nghìn tỷ đồng, bằng 44,3%; chi trả nợ lãi 70,4 nghìn tỷ đồng, bằng 59,6%.
 
6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch
 
a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
 
Hoạt động thương mại và dịch vụ tháng 8/2020 có xu hướng giảm so với tháng trước do ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19 bùng phát trở lại. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám giảm 2,7% so với tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng giảm nhẹ 0,02%.
 
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám ước tính đạt 422,9 nghìn tỷ đồng, giảm 2,7% so với tháng trước và tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Doanh thu bán lẻ hàng hóa đạt 334,3 nghìn tỷ đồng, giảm 0,2% và tăng 6,6%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt 41,3 nghìn tỷ đồng, giảm 14,7% và giảm 15,6%; doanh thu du lịch lữ hành đạt 974 tỷ đồng, giảm 61,8% và giảm 74,4%; doanh thu dịch vụ khác đạt 46,3 nghìn tỷ đồng, giảm 4,5% và giảm 4,3%.
 
Tính chung 8 tháng năm 2020, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 3.225,1 nghìn tỷ đồng, giảm 0,02% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá giảm 4,5% (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,5%).
 
Xét theo ngành hoạt động, doanh thu bán lẻ hàng hóa 8 tháng đạt 2.553,6 nghìn tỷ đồng, chiếm 79,2% tổng mức và tăng 4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lương thực, thực phẩm tăng 8%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 5,4%; may mặc giảm 0,6%; phương tiện đi lại giảm 2%; vật phẩm văn hoá, giáo dục giảm 4,5%. Một số địa phương có mức doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước: Hải Phòng tăng 11%; Hà Nội tăng 9,8%; Đồng Nai tăng 9,4%; thành phố Hồ Chí Minh tăng 8,3%; Bình Định tăng 5,9%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 5%; Thanh Hóa tăng 2,3%; Cần Thơ tăng 1,9%; Đà Nẵng giảm 4,9%; Khánh Hòa giảm 6%.
 
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 8 tháng năm nay ước tính đạt 322,5 nghìn tỷ đồng, chiếm 10% tổng mức và giảm 16,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 9,8%). Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 8 tháng năm nay so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương: Khánh Hòa giảm 59,2%; Quảng Nam giảm 53,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 42,7%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 41,7%; Đà Nẵng giảm 31,7%; Cần Thơ giảm 26%; Thanh Hóa giảm 20,6%; Hà Nội giảm 17,9%; Quảng Ninh giảm 10,5%; Hải Phòng giảm 10,1%.
 
Doanh thu du lịch lữ hành 8 tháng ước tính đạt 13,1 nghìn tỷ đồng, chiếm 0,4% tổng mức và giảm 54,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10%) do dịch Covid-19 làm cho các chính sách kích cầu du lịch nội địa không thể thực hiện, nhiều khách du lịch hủy tour và nhiều sự kiện lễ hội văn hóa hủy bỏ, một số địa điểm thăm quan phải đóng cửa trở lại. Một số địa phương có doanh thu du lịch lữ hành 8 tháng giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước: Khánh Hòa giảm 76,6%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 72,1%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 67,2%; Quảng Nam giảm 66,5%; Kiên Giang giảm 64,7%; Đà Nẵng giảm 63,6%; Cần Thơ giảm 55,4%; Quảng Ninh giảm 54,9%; Hà Nội giảm 42,2%; Bình Định giảm 41,9%; Thanh Hóa giảm 40%; Hải Phòng giảm 38%.
 
Doanh thu dịch vụ khác 8 tháng ước tính đạt 335,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,4% tổng mức và giảm 5,7% so với cùng kỳ năm 2019, trong đó doanh thu của Khánh Hòa giảm 69,8%; Đà Nẵng giảm 17,5%; Bình Định giảm 12,9%; Thanh Hóa giảm 12,3%; Bà Rịa - Vũng Tàu giảm 9,7%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 8,4%; Hà Nội giảm 5,8%; Cần Thơ giảm 5,1%; Hải Phòng giảm 2,7%.
 
b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[7]
 
Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 ở trong nước và trên thế giới tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất, nhập khẩu của Việt Nam. Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 8 tháng năm 2020 ước tính đạt 336,32 tỷ USD, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 174,11 tỷ USD, tăng 1,6%; nhập khẩu đạt 162,21 tỷ USD, giảm 2,2%[8]. Khu vực kinh tế trong nước vẫn tiếp tục là điểm sáng trong hoạt động xuất nhập khẩu khi kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu 8 tháng đều tăng so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu đạt 60,80 tỷ USD, tăng cao 15,3%; nhập khẩu đạt 72,05 tỷ USD, tăng 2,9%. Cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng ước tính xuất siêu 11,9 tỷ USD.
 
Xuất khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa thực hiện tháng 7/2020 đạt 24.873 triệu USD, cao hơn 1.873 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại và linh kiện cao hơn 585 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 464 triệu USD; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 285 triệu USD.
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 8/2020 ước tính đạt 26,5 tỷ USD, tăng 6,5% so với tháng trước, chủ yếu do Công ty Samsung đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm phiên bản mới Note 20, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,5 tỷ USD, tăng 4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 17 tỷ USD, tăng 8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu tháng 8/2020 tăng 2,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 18,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 4,6%.
 
Tính chung 8 tháng năm 2020, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước tính đạt 174,11 tỷ USD, tăng 1,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước tiếp tục là điểm sáng với kim ngạch xuất khẩu đạt 60,80 tỷ USD, tăng 15,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 113,31 tỷ USD (chiếm 65,1% tổng kim ngạch xuất khẩu), giảm 4,5%.
 
Trong 8 tháng có 27 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó: Điện thoại và linh kiện đạt 31,5 tỷ USD, chiếm 18,1% tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 5,5% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 27,6 tỷ USD, tăng 24,8%; hàng dệt may đạt 19,2 tỷ USD, giảm 11,6%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 15,1 tỷ USD, tăng 31,9%; giày dép đạt 10,9 tỷ USD, giảm 8,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 7,3 tỷ USD, tăng 9,6%; thủy sản đạt 5,2 tỷ USD, giảm 5,3%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 5,2 tỷ USD, giảm 9,5%. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu của hầu hết các mặt hàng nông sản đều giảm so với cùng kỳ năm trước: Rau quả đạt 2,3 tỷ USD, giảm 11,3%; hạt điều đạt 2 tỷ USD, giảm 5,4% (lượng tăng 9%); cà phê đạt 2 tỷ USD, giảm 1,3% (lượng giảm 1,3%); cao su đạt 1,2 tỷ USD, giảm 12,7% (lượng giảm 5,9%); hạt tiêu đạt 445 triệu USD, giảm 20% (lượng giảm 7,4%); chè đạt 134 triệu USD, giảm 6,2% (lượng tăng 3,5%). Riêng sản phẩm gạo đạt 2,2 tỷ USD, tăng 10,4% (lượng giảm 1,7%).
 
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 8 tháng, nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản ước tính đạt 92,25 tỷ USD, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước, chiếm 53% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa (tăng 1,5 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước). Nhóm hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp ước tính đạt 63,21 tỷ USD, giảm 1% và chiếm 36,3% (giảm 1 điểm phần trăm). Nhóm hàng nông, lâm sản đạt 13,45 tỷ USD, giảm 2,6% và chiếm 7,7% (giảm 0,3 điểm phần trăm). Nhóm hàng thủy sản đạt 5,20 tỷ USD, giảm 5,3% và chiếm 3% (giảm 0,2 điểm phần trăm).
 
Về thị trường hàng hóa xuất khẩu, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 8 tháng với kim ngạch đạt 46,7 tỷ USD, tăng 19% so với cùng kỳ năm trước. Tiếp đến là Trung Quốc đạt 27 tỷ USD, tăng 13%. Thị trường EU đạt 22,9 tỷ USD, giảm 4%. Thị trường ASEAN đạt 15 tỷ USD, giảm 13,6%. Hàn Quốc đạt 12,6 tỷ USD, giảm 1,5%. Nhật Bản đạt 12,5 tỷ USD, giảm 6,1%.
 
Nhập khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa thực hiện tháng 7/2020 đạt 22.097 triệu USD, cao hơn 97 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện tử, máy tính và linh kiện cao hơn 201 triệu USD; điện thoại và linh kiện cao hơn 83 triệu USD, máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng cao hơn 61 triệu USD, sắt thép thấp hơn 67 triệu USD, dầu thô thấp hơn 187 triệu USD.
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 8/2020 ước tính đạt 23 tỷ USD, tăng 4,1% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 10,3 tỷ USD, tăng 0,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 12,7 tỷ USD, tăng 7,5%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu tháng 8/2020 ước tính tăng 2,8%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 13,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài giảm 4,4%.
 
Tính chung 8 tháng năm 2020, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 162,21 tỷ USD, giảm 2,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 72,05 tỷ USD, tăng 2,9%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 90,16 tỷ USD, giảm 6,0%.
 
Trong 8 tháng có 29 mặt hàng đạt kim ngạch nhập khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 86,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, trong đó: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 38,6 tỷ USD (chiếm 23,8% tổng kim ngạch nhập khẩu), tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 22,9 tỷ USD, giảm 4,3%; điện thoại và linh kiện đạt 8,8 tỷ USD, giảm 2,5%; vải đạt 7,6 tỷ USD, giảm 13%; sắt thép đạt 5,6 tỷ USD, giảm 13,2%; chất dẻo đạt 5,3 tỷ USD, giảm 12,3%; sản phẩm chất dẻo đạt 4,5 tỷ USD, tăng 6,5%; kim loại thường đạt 3,8 tỷ USD, giảm 10,1%; sản phẩm hóa chất đạt 3,5 tỷ USD, tăng 2,1%; ô tô đạt 3,5 tỷ USD, giảm 28%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 3,4 tỷ USD, giảm 14,1%; hóa chất đạt 3,2 tỷ USD, giảm 8%.
 
Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu 8 tháng, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước tính đạt 151,66 tỷ USD, giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước và chiếm 93,5% tổng kim ngạch nhập khẩu; nhóm hàng tiêu dùng ước tính đạt 10,55 tỷ USD, giảm 9,2% và chiếm 6,5%.
 
Về thị trường hàng hóa nhập khẩu trong 8 tháng, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 49,3 tỷ USD, tăng 0,7% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc đạt 28,7 tỷ USD, giảm 8,3%; ASEAN đạt 19,4 tỷ USD, giảm 9,2%; Nhật Bản đạt 12,8 tỷ USD, tăng 3,2%; Hoa Kỳ đạt 9,4 tỷ USD, giảm 0,1%; EU đạt 9,5 tỷ USD, tăng 4,7%.
 
Cán cân thương mại hàng hóa thực hiện tháng 7/2020 xuất siêu 2,8 tỷ USD[9];   7 tháng xuất siêu 8,4 tỷ USD; tháng Tám ước tính xuất siêu 3,5 tỷ USD. Tính chung 8 tháng năm 2020, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 11,9 tỷ USD[10], trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 11,2 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 23,1 tỷ USD.
 
c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ
 
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2020 tăng 0,07% so với tháng trước và giảm 0,12% so với tháng 12/2019 - đều là mức thấp nhất trong giai đoạn 2016-2020[11]. Chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng so với tháng Bảy chủ yếu donh hưởng của cơn bão số 2 và mưa trên diện rộng làm giá rau tăng; giá gạo trong nước tăng do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam thuận lợi đạt ở mức cao trong nhiều năm trở lại đây; giá dịch vụ giáo dục được điều chỉnh tăng ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo Nghị định 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm 2020 tăng 3,96% so với cùng kỳ năm trước[12].
 
Trong mức tăng 0,07% của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2020 so với tháng trước có 7/11 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng, trong đó: Nhóm giáo dục tăng nhiều nhất với 0,18% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2020-2021 và giá các mặt hàng sách vở, đồ dùng học tập tăng do nhu cầu mua sắm để chuẩn bị cho năm học mới[13] (tác động làm CPI chung tăng 0,01%). Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,11%, trong đó: lương thực tăng 0,6%[14]; thực phẩm tăng 0,08%[15]. Nhóm giao thông tăng 0,1% do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh tăng giá xăng, dầu vào thời điểm 28/7/2020 và điều chỉnh giảm giá xăng, dầu vào thời điểm 12/8/2020 làm chỉ số giá xăng, dầu tăng 0,41%. Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng cùng mức tăng 0,1%, chủ yếu do giá điện, nước sinh hoạt tăng lần lượt là 0,39% và 0,48% và do giá dầu hỏa tăng 1,93%, giá gas tăng 0,55%. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,05%[16]; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; nhóm hàng hóa, dịch vụ khác tăng 0,2%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm gồm: nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,2% do nhu cầu du lịch của người dân giảm mạnh khi dịch Covid-19 bùng phát trở lại[17]; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,03%. Riêng nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình không thay đổi.
 
CPI tháng 8/2020 giảm 0,12% so với tháng 12/2019 và tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước; CPI bình quân 8 tháng năm 2020 tăng 3,96% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.
 
Lạm phát cơ bản tháng 8/2020 giảm 0,01% so với tháng trước và tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản bình quân 8 tháng năm 2020 tăng 2,66% so với bình quân cùng kỳ năm 2019.
 
Giá vàng trong nước tăng theo giá vàng thế giới do dịch Covid-19 tiếp tục diễn biến phức tạp, ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ các nền kinh tế, bên cạnh đó, chiến tranh thương mại Mỹ - Trung cũng ngày càng gay gắt giúp vàng trở thành kênh đầu tư an toàn. Bình quân giá vàng thế giới đến ngày 24/8/2020 tăng 6,14% so với tháng 7/2020. Chỉ số giá vàng tháng 8/2020 tăng 9,86% so với tháng trước; tăng 32,81% so với tháng 12/2019 và tăng 35,02% so với cùng kỳ năm trước.
 
Đồng đô la Mỹ trên thị trường quốc tế tiếp tục suy yếu trong bối cảnh lạm phát tháng 7/2020 của Mỹ tăng và Quốc hội Mỹ chưa đạt được thỏa thuận liên quan đến gói cứu trợ mới để giúp người dân, doanh nghiệp vượt qua ảnh hưởng của đại dịch Covid-19 và duy trì đà phục hồi kinh tế. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dồi dào đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 8/2020 giảm 0,07% so với tháng trước; tăng 0,16% so với tháng 12/2019 và giảm 0,23% so với cùng kỳ năm trước.
 
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
 
Hoạt động vận tải trong tháng Tám chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dịch Covid-19 bùng phát trở lại từ cuối tháng Bảy với mức giảm 19,3% lượng hành khách vận chuyển và giảm 3,4% lượng hàng hóa vận chuyển so với tháng trước. Tính chung 8 tháng năm 2020, vận chuyển hành khách giảm 29,3% và vận chuyển hàng hóa giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước.
 
Vận tải hành khách tháng Tám ước tính đạt 238 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 19,3% so với tháng trước và luân chuyển 11,7 tỷ lượt khách.km, giảm 17,7%. Tính chung 8 tháng, vận tải hành khách đạt 2.343,6 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 29,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 10,4%) và luân chuyển 109,5 tỷ lượt khách.km, giảm 33,4% (cùng kỳ năm trước tăng 9,8%), trong đó vận tải trong nước đạt 2.340,8 triệu lượt khách, giảm 29,1% và 99,8 tỷ lượt khách.km, giảm 23,7%; vận tải ngoài nước đạt 2,7 triệu lượt khách, giảm 75,5% và 9,7 tỷ lượt khách.km, giảm 71,2%. Xét theo ngành vận tải, tất cả các ngành đường đều giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19, trong đó vận tải hành khách đường bộ 8 tháng đạt 2.181,5 triệu lượt khách, giảm 30,1% so với cùng kỳ năm trước và 79,5 tỷ lượt khách.km, giảm 25,6%; đường thủy nội địa đạt 130,8 triệu lượt khách, giảm 8,7% và gần 2,7 tỷ lượt khách.km, giảm 9,7%; hàng không đạt 24,2 triệu lượt khách, giảm 35,1% và 25,8 tỷ lượt khách.km, giảm 49,9%; đường biển đạt 4,4 triệu lượt khách, giảm 24,1% và 218,4 triệu lượt khách.km, giảm 23,8%; đường sắt đạt 2,7 triệu lượt khách, giảm 54,8% và 1,2 tỷ lượt khách.km, giảm 52,1%.
 
Vận tải hàng hóa tháng Tám ước tính đạt 142,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 3,4% so với tháng trước và luân chuyển 26,1 tỷ tấn.km, giảm 5,8%. Tính chung 8 tháng, vận tải hàng hóa đạt 1.100,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 7,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2019 tăng 8,8%) và luân chuyển 213,7 tỷ tấn.km, giảm 8,3% (cùng kỳ năm trước tăng 7,4%), trong đó vận tải trong nước đạt 1.075,8 triệu tấn, giảm 7,4% và 108,1 tỷ tấn.km, giảm 14,8%; vận tải ngoài nước đạt 24,3 triệu tấn, giảm 4,7% và 105,6 tỷ tấn.km, giảm 0,5%. Xét theo ngành vận tải, vận tải hàng hóa đường bộ 8 tháng đạt 840,5 triệu tấn, giảm 8,7% so với cùng kỳ năm trước và 57,6 tỷ tấn.km, giảm 13,7%; đường thủy nội địa đạt 204,7 triệu tấn, giảm 1,5% và 42,3 tỷ tấn.km, giảm 6,1%; đường biển đạt 51,4 triệu tấn, giảm 5,6% và 108,7 tỷ tấn.km, giảm 4,4%; đường sắt đạt 3,3 triệu tấn, giảm 2,1% và 2,4 tỷ tấn.km, giảm 1,1%; đường hàng không đạt 182,5 nghìn tấn, giảm 36,1% và 2,8 tỷ tấn.km, giảm 46,3%.
 
e) Khách quốc tế đến Việt Nam
 
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tám đạt 16,3 nghìn lượt người[18], tăng 16,9% so với tháng trước nhưng vẫn giảm 98,9% so với cùng kỳ năm 2019 do Việt Nam tiếp tục thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, chưa mở cửa du lịch quốc tế. Tính chung 8 tháng năm nay, khách quốc tế đến nước ta chỉ đạt gần 3,8 triệu lượt người, giảm 66,6% so với cùng kỳ năm trước.
 
Khách quốc tế đến nước ta trong tháng Tám ước tính đạt 16,3 nghìn lượt người, tăng 16,9% so với tháng trước và giảm 98,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 8 tháng năm 2020, khách quốc tế đến nước ta ước tính đạt 3.774,7 nghìn lượt người, giảm 66,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến bằng đường hàng không đạt 3.049,8 nghìn lượt người, chiếm 80,8% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, giảm 65,7% so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 580,5 nghìn lượt người, chiếm 15,4% và giảm 74,2%; bằng đường biển đạt 144,4 nghìn lượt người, chiếm 3,8% và giảm 15,9%.
 
Trong 8 tháng năm nay, khách đến từ châu Á đạt 2.757,7 nghìn lượt người, chiếm 73,1% tổng số khách quốc tế đến nước ta, giảm 68,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khách đến từ hầu hết các thị trường chính đều giảm mạnh: Trung Quốc đạt 932,7 nghìn lượt người, giảm 72,3% so với cùng kỳ năm trước; Hàn Quốc 827,3 nghìn lượt người, giảm 70,5%; Nhật Bản 202,2 nghìn lượt người, giảm 67,4%; Đài Loan 193,4 nghìn lượt người, giảm 67,6%; Thái Lan 126,7 nghìn lượt người, giảm 59,2%; Ma-lai-xi-a 116,7 nghìn lượt người, giảm 69,5%; riêng khách đến từ Cam-pu-chia đạt 121 nghìn lượt người, tăng 70,8%.
 
Khách đến từ châu Âu trong 8 tháng ước tính đạt 667,6 nghìn lượt người, giảm 54,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khách đến từ Liên bang Nga 245,9 nghìn lượt người, giảm 43,7%; Vương quốc Anh 81,9 nghìn lượt người, giảm 62,2%; Pháp 74,7 nghìn lượt người, giảm 62,8%; Đức 61,6 nghìn lượt người, giảm 58,8%. Khách đến từ châu Mỹ ước tính đạt 234,8 nghìn lượt người, giảm 65,3% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là khách đến từ Hoa Kỳ đạt 173 nghìn lượt người, giảm 66,8%. Khách đến từ châu Úc đạt 102,4 nghìn lượt người, giảm 65,4%, trong đó khách đến từ Ôx-trây-li-a đạt 92,4 nghìn lượt người, giảm 64,8%. Khách đến từ châu Phi đạt 12,2 nghìn lượt người, giảm 59,8% so với cùng kỳ năm 2019.
 
7. Một số tình hình xã hội
 
a) Thiếu đói trong nông dân
 
Trong tháng Tám, đời sống nông dân nhìn chung ổn định, thiếu đói không phát sinh trên phạm vi cả nước. Tính chung 8 tháng năm nay, cả nước có 16,5 nghìn lượt hộ thiếu đói, tương ứng với 66,5 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 75,3% về số lượt hộ thiếu đói và giảm 75,4% về số lượt nhân khẩu thiếu đói so với cùng kỳ năm trước. Để khắc phục tình trạng thiếu đói, từ đầu năm, các cấp, các ngành, các tổ chức từ Trung ương đến địa phương đã hỗ trợ các hộ thiếu đói 733,6 tấn gạo.
 
b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
 
Trong tháng (19/7-18/8/2020), cả nước có 10.670 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết; 12.619 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 80 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (2 trường hợp tử vong); 2 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 211 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 18 trường hợp dương tính; 99 trường hợp dương tính với bạch hầu (1 trường hợp tử vong). Tính chung 8 tháng năm 2020, cả nước có 48,5 nghìn trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (3 trường hợp tử vong); 21.862 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 375 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do vi rút (9 trường hợp tử vong); 9 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 2.798 trường hợp sốt phát ban nghi sởi, trong đó có 241 trường hợp dương tính; 199 trường hợp dương tính với bạch hầu (4 trường hợp tử vong)[19].
 
Dịch Covid-19 trên thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp[20]. Tại Việt Nam, dịch vẫn còn phức tạp nhưng đang trong tầm kiểm soát, tính đến 6h00 ngày 27/8/2020 có 1.034 trường hợp mắc, 632 trường hợp đã được chữa khỏi (29 trường hợp tử vong).
 
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/8/2020 là 210.659 người; số người đã chuyển sang giai đoạn AIDS là 97.049 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 98.977 người.
 
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Tám xảy ra 7 vụ với 365 người bị ngộ độc. Tính chung 8 tháng năm 2020, cả nước xảy ra 57 vụ với 1.574 người bị ngộ độc (19 người tử vong).
 
c) Tai nạn giao thông
 
Trong tháng (từ 15/7 đến 14/8), trên địa bàn cả nước xảy ra 1.174 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 693 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 481 vụ va chạm giao thông, làm 551 người chết, 384 người bị thương và 493 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 2,7%; số người chết tăng 0,4% và số người bị thương giảm 11,7%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Tám giảm 22,3% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 14,4% và số vụ va chạm giao thông giảm 31,4%); số người chết giảm 12,4%; số người bị thương giảm 16% và số người bị thương nhẹ giảm 26,3%. Đáng lưu ý, trong tháng xảy ra một số vụ tai nạn giao thông nghiêm trọng: Vụ tai nạn xảy ra ngày 4/8 tại Hà Nội giữa xe rơ moóc và xe ô tô làm 3 người chết, 1 người bị thương; vụ tai nạn xe máy xảy ra ngày 5/8 tại thành phố Hồ Chí Minh làm 1 người chết và 3 người bị thương; vụ tai nạn xảy ra ngày 6/8 tại Lâm Đồng giữa 2 xe tải làm 1 người chết và 2 người bị thương; vụ tai nạn xe bồn xảy ra ngày 13/8 tại Kiên Giang làm 5 người bị thương.
 
Tính chung 8 tháng năm 2020, trên địa bàn cả nước đã xảy ra 9.170 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 5.272 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 3.898 vụ va chạm giao thông, làm 4.342 người chết, 2.750 người bị thương và 3.977 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 8 tháng giảm 19,1% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 12,4%; số vụ va chạm giao thông giảm 26,6%); số người chết giảm 14,8%; số người bị thương giảm 15,2% và số người bị thương nhẹ giảm 25,6%. Bình quân 1 ngày trong 8 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 38 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 16 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 11 người bị thương và 16 người bị thương nhẹ. 
 
d) Thiệt hại do thiên tai
 
Thiên tai xảy ra trong tháng Tám chủ yếu là bão, mưa lớn, sạt lở, lốc xoáy và động đất tại một số địa phương làm 23 người chết và 20 người bị thương; 473 ngôi nhà bị sập và 5.934 ngôi nhà bị tốc mái, hư hỏng; 7 nghìn ha lúa và 2,9 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 301,5 tỷ đồng. Riêng mưa lũ làm 18 người chết, 11 người bị thương; 285 ngôi nhà bị sập, cuốn trôi; 3.868 ngôi nhà bị ngập, hư hỏng; ước tính tổng giá trị thiệt hại về tài sản là gần 156 tỷ đồng, chiếm hơn 50% tổng giá trị thiêt hại do thiên tai gây ra, trong đó tỉnh Hà Giang chịu thiệt hại nặng nề nhất với 7 người chết, 2 người bị thương, 2.950 ngôi nhà bị sập đổ, ngập và hư hỏng, thiệt hại ước tính 85,5 tỷ đồng. Tính chung 8 tháng năm 2020, thiên tai làm 68 người chết và mất tích, 164 người bị thương; hơn 137 nghìn ha lúa và 63,5 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; 1.693 ngôi nhà bị sập đổ; gần 72,2 nghìn ngôi nhà bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính hơn 6,7 nghìn tỷ đồng.
 
e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
 
Trong tháng 8/2020, cơ quan chức năng đã phát hiện 921 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 786 vụ với tổng số tiền phạt là 12,4 tỷ đồng. Tính chung 8 tháng năm nay đã phát hiện 7.650 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 6.943 vụ với tổng số tiền phạt là hơn 115,3 tỷ đồng.
 
Trong tháng, cả nước xảy ra 285 vụ cháy, nổ, làm 2 người chết và 10 người bị thương, thiệt hại ước tính 22,8 tỷ đồng. Tính chung 8 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 2.064 vụ cháy, nổ, làm 61 người chết và 129 người bị thương, thiệt hại ước tính 392,3 tỷ đồng./.
 
 TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 
[1] Bắc Ninh, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Lào Cai, Lạng Sơn, Điện Biên, Lai Châu , Sơn La, Hòa Bình,  Quảng Trị, Quảng Nam, Đắk Nông, Đắk Lắk, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp và Bạc Liêu.
[2] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp 8 tháng các năm 2012-2020 lần lượt là: 6,3%; 5,4%; 6,5%; 9,8%; 7,2%; 8,2%; 10,8%; 9,5%; 2,2%.
[3] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
[4] So với cùng kỳ năm trước, số doanh nghiệp tăng 19,9%; số vốn đăng ký tăng 90,9%; lao động tăng 9%.
[5] Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN tháng Tám so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: năm 2016 tăng 16,5%; năm 2017 tăng 6,1%; năm 2018 tăng 14,7%; năm 2019 tăng 9,3%; năm 2020 tăng 45,4%. Tốc độ tăng vốn thực hiện từ nguồn NSNN 8 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020: năm 2016 tăng 12,7%; năm 2017 tăng 6,4%; năm 2018 tăng 10,4%; năm 2019 tăng 5,4%; năm 2020 tăng 30,4%.
[6] Ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí có 3 dự án điều chỉnh vốn làm giảm 152,8 triệu USD.
[7] Số liệu tháng 8/2020 do Tổ liên ngành gồm Bộ Công Thương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Tổng cục Hải quan và Tổng cục Thống kê họp ước tính căn cứ trên số liệu kim ngạch xuất, nhập khẩu tính đến ngày 27/8/2020 của Tổng cục Hải quan kết hợp với thông tin thị trường, tỷ trọng và xu hướng xuất, nhập khẩu các mặt hàng.
[8] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 8 tháng năm 2019 đạt 337,22 tỷ USD, tăng 8,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 171,35 tỷ USD, tăng 8,1%; nhập khẩu đạt 165,87 tỷ USD, tăng 8%.
[9] Ước tính xuất siêu 1 tỷ USD.
[10] Trong đó, xuất siêu sang EU đạt 13,4 tỷ USD, giảm 9,4% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 22,3 tỷ USD, giảm 11,1%; nhập siêu từ Hàn Quốc 16,1 tỷ USD, giảm 13,0%; nhập siêu từ ASEAN 4,4 tỷ USD, tăng 9,8%.
[11] Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Tám so với tháng trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 0,1%; tăng 0,92%; tăng 0,45%; tăng 0,28%; tăng 0,07%.Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Tám so với tháng 12 năm trước của các năm giai đoạn 2016-2020 lần lượt là: tăng 2,58%; tăng 1,23%; tăng 2,59%; tăng 1,87%; giảm 0,12%.
[12] Tốc độ tăng CPI bình quân 8 tháng so với cùng kỳ năm trước các năm 2016-2020 lần lượt là: 1,91%; 3,84%; 3,52%; 2,57%; 3,96%. 
[13] Giá sách giáo khoa tăng 0,22%, giá bút viết tăng 0,11%, giá vở, giấy viết tăng 0,17%.
[14] Do giá gạo tăng 0,79% nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu (tác động làm CPI chung tăng 0,02%).
[15] Chủ yếu do giá các loại rau tươi tăng 1,96% (tác động làm CPI chung tăng 0,05%) và giá trứng gia cầm các loại tăng 0,84%.
[16] Trong đó: thuốc lá tăng 0,21%, nước quả ép tăng 0,17%; nước uống tăng lực, đóng chai, lon, hộp tăng 0,06%.
[17] Giá các tua du lịch trong nước giảm 0,54%, du lịch ngoài nước giảm 0,35%; giá khách sạn, nhà nghỉ giảm 0,06%.
[18] Chủ yếu là các chuyên gia Trung Quốc, Hàn Quốc làm việc tại các dự án; lái xe vận chuyển hàng hóa tại các cửa khẩu đường bộ; lưu học sinh Lào, Cam-pu-chia quay trở lại Việt Nam học tập.
[19] Bệnh bạch hầu xuất hiện ở các tỉnh: Quảng Trị, Đắk Lắk, Đắk Nông, Kon Tum, Gia Lai, Bình Phước.
[20] Tính đến 6h00 ngày 27/8/2020, trên thế giới có 24.295,7 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (828,2 nghìn trường hợp tử vong).

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top