Môi trường kinh doanh là yếu tố quan trọng để duy trì niềm tin của các doanh nghiệp trong và ngoài nước, qua đó thúc đẩy đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh, là động lực đưa Việt Nam sớm trở lại quỹ đạo tăng trưởng cao. Xác định tầm quan trọng đó, Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia được ban hành và triển khai mạnh mẽ ngay từ đầu năm đã trở thành động lực cất cánh, góp phần nâng cao uy tín, vị thế nền kinh tế Việt Nam trên bản đồ kinh tế thế giới.
Từ khóa: Môi trường kinh doanh, đầu tư, cải thiện, doanh nghiệp…
Abstract: The business environment is a crucial factor in maintaining the trust of both domestic and foreign enterprises, thereby promoting investment and business development, and serving as a driving force for Vietnam to return to a high growth trajectory. Recognizing this importance, Resolution 02/NQ-CP of the Government on the main tasks and solutions to improve the business environment and enhance national competitiveness was issued and implemented vigorously from the beginning of the year, becoming a catalyst for growth and contributing to enhancing the reputation and position of the Vietnamese economy on the global economic map.
Keywords: Business environment, investment, improvement, enterprises…
Giải pháp hiệu quả cùng các chính sách tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh
Năm 2024, Việt Nam tiếp tục tích cực triển khai các chính sách tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút đầu tư và phát triển kinh doanh dựa trên quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết 02/NQ-CP. Trong đó, các Bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và Nhân dân quán triệt, chấp hành nghiêm, thực hiện đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả, thực chất các Nghị quyết, Kết luận của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho người dân và doanh nghiệp theo đúng quy định của Hiến pháp 2013; tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và phát triển các ý tưởng kinh doanh mới, sáng tạo. Cải cách theo hướng giảm số lượng thủ tục, thời gian, chi phí và rủi ro cho doanh nghiệp.
Nghị quyết đặt mục tiêu tổng quát là cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường kinh doanh để phù hợp với bối cảnh và xu thế phát triển, nhằm nâng cao vị thế đất nước trên các bảng xếp hạng quốc tế, tập trung vào một số nhiệm vụ như: Tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh, tăng nhanh về số lượng doanh nghiệp mới thành lập; giảm tỷ lệ doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; tăng số lượng doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; giảm chi phí đầu vào và chi phí tuân thủ pháp luật trong hoạt động đầu tư, kinh doanh; giảm rủi ro chính sách; củng cố niềm tin, tạo điểm tựa phục hồi và nâng cao sức chống chịu của doanh nghiệp.

Năm 2024, Việt Nam tiếp tục tích cực triển khai các chính sách tạo môi trường thuận lợi nhằm thu hút đầu tư
và phát triển kinh doanh
Để có cơ sở phấn đấu và đánh giá hiệu quả cải thiện môi trường kinh doanh một cách sát thực, một số mục tiêu cụ thể cần đạt được trong năm 2024 gồm: Số doanh nghiệp gia nhập thị trường (thành lập mới và quay trở lại hoạt động) tăng ít nhất 10% so với năm 2023; số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường tăng dưới 10% so với năm 2023. Bên cạnh đó, phấn đấu cải thiện các nhóm chỉ số về hạ tầng công nghệ thông tin, chất lượng môi trường, xuất khẩu dịch vụ ICT trong bảng xếp hạng về Năng lực Đổi mới sáng tạo của Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (WIPO); cùng một số chỉ số trong xếp hạng Quyền tài sản của Liên minh quyền tài sản, Hiệu quả logistics của Ngân hàng Thế giới (WorldBank) và Năng lực phát triển du lịch và lữ hành của Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF).
Nhằm thực hiện các mục tiêu đặt ra, từ đầu năm, Chính phủ đã triển khai các nhiệm vụ giải pháp giúp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt, tăng cường trách nhiệm, tính chủ động, kịp thời của các Bộ, cơ quan được phân công làm đầu mối theo dõi việc cải thiện các bộ chỉ số và các Bộ, cơ quan được phân công chủ trì, chịu trách nhiệm đối với các nhóm chỉ số, chỉ số thành phần. Đồng thời triển khai 07 nhóm giải pháp trọng tâm gồm: (1) Tháo gỡ bất cập pháp lý trong thực hiện dự án đầu tư; (2) Nâng cao chất lượng cải cách danh mục ngành nghề đầu tư, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh; (3) Nâng cao hiệu quả công tác quản lý, đẩy mạnh cải cách hoạt động kiểm tra chuyên ngành đối với hàng hóa và triển khai hiệu quả Cổng thông tin một cửa quốc gia; (4) Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, liên thông, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước để nâng cao hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính; (5) Tăng khả năng tiếp cận và hấp thụ vốn cho doanh nghiệp; (6) Hoàn thiện chính sách nhằm thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư, sản xuất, kinh doanh gắn với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, hướng tới phát triển bền vững; (7) Nâng cao chất lượng các dịch vụ phát triển kinh doanh.
Thực hiện chủ trương của Nghị quyết 02/NQ-CP, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương đã triển khai nhiều chính sách đồng hành cùng doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn như: Giảm chi phí hoạt động cho doanh nghiệp nước ngoài, đẩy mạnh đầu tư nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp đầu tư và phát triển…
Bên cạnh Nghị quyết của Chính phủ, việc triển khai có hiệu quả chính sách của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) cũng được coi là một trong những yếu tố quan trọng, có tác động lớn đến việc cải thiện môi trường kinh doanh của Việt Nam. Với việc ký kết và thực thi nhiều FTA, nhất là FTA với các nền kinh tế lớn như: EU, Mỹ… đã giúp tăng cường sự liên kết với các thị trường quan trọng, có vai trò dẫn dắt, định hình. Qua đó không chỉ giúp tăng trưởng thương mại mà còn tăng cường đa dạng hóa chuỗi cung ứng, tận dụng được thời cơ trong bối cảnh các doanh nghiệp toàn cầu đang theo xu hướng áp dụng chiến lược “Trung Quốc +1” để giảm sự phụ thuộc.
Gặt hái “trái ngọt” trong cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Với những chính sách điều hành sát thực, kịp thời và hiệu quả của Chính phủ, các Bộ, Ngành, địa phương, cùng sự nỗ lực của doanh nghiệp và Nhân dân, năm 2024, môi trường kinh doanh của Việt Nam tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực, chứng minh nội lực tiềm năng và sức hút đối với doanh nghiệp trong và ngoài nước
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, trong 10 tháng năm 2024, tổng số doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt hơn 202,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 9,1% so với cùng kỳ năm 2023; bình quân một tháng có hơn 20,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Con số này gần đạt mục tiêu kỳ vọng 10% của cả năm. Riêng trong tháng 10/2024, cả nước có gần 14,2 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là hơn 153,5 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 80,5 nghìn lao động, tăng 26,5% về số doanh nghiệp, tăng 65,4% về vốn đăng ký và tăng 27,8% về số lao động so với tháng 9/2024. Đồng thời, có gần 8,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, tăng 33,5% so với tháng trước và tăng 53,7% so với cùng kỳ năm 2023.
Báo cáo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (Global Innovation Index 2024 - GII) năm 2024 của WIPO cho thấy, Việt Nam được xếp hạng 44/133 quốc gia, nền kinh tế, tăng 2 bậc so với năm 2023. Cụ thể, Việt Nam tiếp tục có sự cải thiện thứ hạng đầu vào đổi mới sáng tạo (ĐMST) tăng 4 bậc so với năm 2023, từ vị trí 57 lên 53 (đầu vào ĐMST gồm 5 trụ cột: Thể chế, Nguồn nhân lực và nghiên cứu, Cơ sở hạ tầng, Trình độ phát triển của thị trường, Trình độ phát triển của doanh nghiệp). Đầu ra ĐMST tăng 4 bậc so với 2023, từ vị trí 40 lên 36 (đầu ra ĐMST gồm 2 trụ cột: Sản phẩm tri thức và công nghệ, Sản phẩm sáng tạo). Đồng thời, Việt Nam duy trì vị trí thứ 2 trong nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp.
Việt Nam cũng là một trong 3 quốc gia giữ kỷ lục có thành tích vượt trội so với mức độ phát triển trong 14 năm liên tiếp (cùng với Ấn Độ và Moldova), với kết quả ĐMST cao hơn so với mức độ phát triển. Qua đó cho thấy hiệu quả trong việc chuyển các nguồn lực đầu vào thành kết quả đầu ra ĐMST. Đặc biệt, điểm số các trụ cột của Việt Nam cao hơn các quốc gia ở nhóm thu nhập trung bình thấp và thậm chí, có trụ cột còn cao hơn nhóm thu nhập trung bình cao. Đặc biệt, năm 2024, Việt Nam có 3 chỉ số đứng đầu thế giới là chỉ số Nhập khẩu công nghệ cao, Xuất khẩu công nghệ cao và Xuất khẩu hàng hóa sáng tạo (tính trên tổng giao dịch thương mại). Đây là lần đầu tiên chỉ số Xuất khẩu hàng hóa sáng tạo đạt vị trí dẫn đầu thế giới. Có 3 chỉ số thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu thế giới cũng được WIPO đánh giá là điểm mạnh của Việt Nam gồm: Tốc độ tăng năng suất lao động (xếp hạng 3); Số lượng ứng dụng điện thoại thông minh được tạo ra (xếp hạng 7) và Phần chi nghiên cứu và phát triển do doanh nghiệp trang trải/tổng chi nghiên cứu và phát triển (xếp hạng 9).
Với chỉ số Chất lượng môi trường, WIPO đã thay bằng chỉ số mới là Tỷ lệ sử dụng nguồn năng lượng phát thải các-bon thấp (%) (Việt Nam đạt 26,8%, xếp hạng 46). Đồng thời, hai chỉ số về năng lượng khác ở trụ cột này cũng có cải thiện tích cực là chỉ số Sản lượng điện, GWh/triệu dân tăng 5 bậc từ 75 năm 2023 lên 70 và chỉ số GDP/đơn vị năng lượng sử dụng tăng 4 bậc từ 72 lên 68. Chỉ số Xuất khẩu dịch vụ ICT dù thứ hạng còn thấp nhưng đã tăng 20 bậc, từ hạng 115 năm 2023 lên hạng 95, vượt xa mục tiêu tăng 5 bậc như Nghị quyết đặt ra.
Việt Nam hiện có hơn 43 nghìn doanh nghiệp (DN) hoạt động trong lĩnh vực logistics với tiềm năng khai thác rộng mở. Theo WorldBank, chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) của Việt Nam năm 2023 xếp thứ 43/139 nước và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm 5 nước dẫn đầu ASEAN (sau Singapore, Malaysia, Thái Lan và cùng thứ hạng với Philippines) với tốc độ phát triển của ngành logistics đạt khoảng 14-16%/năm, quy mô khoảng 40-42 tỷ USD/năm.
Không chỉ nổi bật trong bức tranh tăng trưởng khu vực ASEAN, Việt Nam còn được cộng đồng kinh tế thế giới nhận định là “ngôi sao tăng trưởng” của châu Á. Trong tháng 10/2024, thế giới tiếp tục chú ý đến sự ổn định của nền kinh tế Việt Nam khi tổ chức xếp hạng tín nhiệm Moody’s và Fitch xếp Việt Nam ở mức Ba2 và BB+. Đồng thời, các tổ chức kinh tế quốc tế uy tín có những dự báo lạc quan về tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) của Việt Nam. Trong đó Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam sẽ phục hồi lên 6,1% trong năm 2024 nhờ đầu tư trực tiếp nước ngoài linh hoạt và các chính sách hỗ trợ. Ngân hàng Phát triển châu Á dự báo, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam không đổi ở mức 6% vào năm 2024, trong khi Ngân hàng United Overseas Bank - UOB (Singapore) nâng dự báo tăng trưởng cả năm của Việt Nam thêm 0,5 điểm phần trăm, lên 6,4%.
Với dự báo tăng trưởng lên đến 7%, Ngân hàng HSBC khẳng định, Việt Nam sẽ tiếp tục thu hút dòng vốn đầu tư nước ngoài (FDI) nhờ triển vọng cơ bản tích cực, đặc biệt là khả năng dòng vốn đổ vào lĩnh vực sản xuất sẽ sớm ổn định trong tương lai nhờ các chuyến công du kết nối của Lãnh đạo cấp cao.
Đặc biệt, Báo cáo môi trường kinh doanh của Economist Intelligence Unit (EIU) nhận định, môi trường kinh doanh của Việt Nam đã chứng kiến sự cải thiện mạnh nhất trong giai đoạn 2003-2023, với điểm đánh giá đạt 1,3 điểm, cao nhất trong số 82 quốc gia, vùng lãnh thổ được nghiên cứu. Báo cáo đánh giá môi trường kinh doanh dựa trên 91 chỉ số khác nhau nhằm đưa ra đánh giá tổng quan về mức độ hấp dẫn của 82 quốc gia và vùng lãnh thổ, chiếm hơn 90% GDP toàn cầu đối với các nhà đầu tư. Theo đó, kết quả thăng hạng môi trường kinh doanh của Việt Nam đạt được là nhờ vào việc áp dụng các chính sách thương mại tự do, giảm chi phí hoạt động cho các doanh nghiệp nước ngoài và đầu tư nhiều vào nguồn nhân lực và cơ sở hạ tầng.
Đi qua gần hết năm 2024, những mục tiêu Nghị quyết 02/NQ-CP đặt ra không chỉ là nhiệm vụ mà còn là động lực tiếp tục tích cực triển khai các nhóm giải pháp trong những tháng còn lại. Qua đó, tạo tiền để xây đắp những thành tựu mới, để Việt Nam tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín là nền kinh tế có độ mở lớn, môi trường đầu tư kinh doanh tiềm năng, linh hoạt, thu hút nhiều nhà đầu tư trên thế giới./.
Tài liệu tham khảo:
1. Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng Mười và 10 tháng năm 2024, Tổng cục Thống kê;
2. Nghị quyết 02/NQ-CP ngày 05/01/2024 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2024.
ThS. Đào Bùi Kiên Trung
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân