Các công nghệ cốt lõi của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 như kết nối vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, chế tạo đắp lớp, thực tế ảo, công nghệ chuỗi khối, điện toán đám mây,... đã và đang làm thay đổi lợi thế so sánh giữa các nền kinh tế. Khi đó, tài nguyên thiên nhiên, lao động chi phí thấp, thậm chí cả tiền vốn sẽ mất dần lợi thế so với đổi mới sáng tạo (ĐMST), và điều này đang dần trở thành động lực tăng trưởng hàng đầu đối với tất cả các nền kinh tế. Do đó, để bắt kịp với xu thế công nghệ của CMCN 4.0, rút ngắn tối đa khoảng cách thời gian giữa ý tưởng, phát minh sáng chế và thương mại hóa, đưa sản phẩm ra thị trường, Việt Nam cần sớm xây dựng hệ sinh thái ĐMST, trong đó Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia được coi là một công cụ hữu hiệu.
Các khu công nghệ cao của Việt Nam hoạt động chưa thực sự hiệu quả
Cùng với xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới, những năm gần đây Việt Nam cũng đã triển khai hoạt động hợp tác với các quốc gia có nhiều kinh nghiệm phát triển dựa trên ĐMST như: Israel, Canada, Phần Lan, Vương quốc Bỉ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore… để từng bước hình thành hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia; đưa khoa học, công nghệ và ĐMST phục vụ trực tiếp cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Nhờ đó, đến nay đã có một số khu công nghệ cao (CNC), công viên phần mềm và hàng chục cơ sở vườn ươm, trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp có quy mô và lĩnh vực hoạt động khác nhau được thành lập tại Việt Nam. Ví dụ như Khu CNC Hòa Lạc, Khu CNC Thành phố Hồ Chí Minh, Công viên phần mềm Đà Nẵng, Công viên phần mềm Cần Thơ... Bên cạnh đó là các cơ sở hỗ trợ đổi mới sáng tạo quốc lập: Vườn ươm Doanh nghiệp Công nghệ cao thuộc Ban quản lý Saigon Hi-Tech Park, Vườn ươm doanh nghiệp CNC Hòa Lạc… Ngoài ra, ở Việt Nam cũng đã xuất hiện các trung tâm ĐMST của một số trường đại học hay cơ sở ĐMST tư nhân như: Trung tâm Khởi nghiệp đổi mới sáng tạo Đại học quốc gia thành phố Hồ Chí Minh, các cơ sở ĐMST tư nhân Vietnam Silicon Valley (Hà Nội), Expara Vietnam Accelerator...
Tuy vậy, theo nhận định của các chuyên gia, Việt Nam hiện chưa có một Trung tâm ĐMST đúng nghĩa theo thực tiễn quốc tế tốt nhất, bởi các cơ sở của nước ta chưa có đủ điều kiện cần thiết để có thể tạo tiền đề cho sự hình thành và phát triển của các doanh nghiệp công nghệ lớn, giúp doanh nghiệp công nghệ tạo ra các công nghệ, sản phẩm, dịch vụ đột phá.
Cụ thể, theo kinh nghiệm quốc tế, có 5 yếu tố quyết định thành công của một trung tâm khoa học công nghệ bao gồm: (i) Môi trường sống (nhà ở, y tế, giáo dục, giải trí, …); (ii) Hệ sinh thái (các doanh nghiệp cung cấp nhiều dịch vụ cần thiết trong chuỗi cung ứng); (iii) Nhân tài (các chuyên gia công nghệ và quản trị,…); (iv) Công trình xây dựng (không gian làm việc, hạ tầng kỹ thuật,…); và (v) Hỗ trợ của nhà nước (ưu đãi về thuế, đất, quy định pháp luật, thủ tục hành chính,…). Vậy mà, theo kết quả Đánh giá các cơ sở hỗ trợ khoa học công nghệ và ĐMST Việt Nam tại Dự thảo. Đề án Thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các cơ sở hỗ trợ ĐMST của Việt Nam, nhất là đối với các công nghệ của CMCN 4.0, chưa tập hợp đầy đủ các thành tố trên. Trong đó, các cơ sở chủ yếu hạn chế về quy mô, thiếu hạ tầng kỹ thuật cho nghiên cứu và phát triển (R&D) và thiếu các chính sách ưu đãi. Đặc biệt, các khu CNC chỉ mới tập trung thu hút đầu tư (chủ yếu là FDI) vào các lĩnh vực chế tạo, gia công phần mềm mà chưa có các sản phẩm, dịch vụ đặc trưng của CMCN 4.0.
Hình 1 - Phân tích các yếu tố thành công của một số trung tâm khoa học công nghệ
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Hình 1 cho thấy rõ, trong tổng số 12 cơ sở ĐMST được đánh giá chỉ có duy nhất Khu CNC TP. Hồ Chí Minh được đánh giá có mức độ thành công cao nhất. Nhờ vị trí gần trung tâm thành phố và một hệ thống cơ sở hạ tầng khá đầy đủ, Khu CNC TP. Hồ Chí Minh đã thu hút được nhiều doanh nghiệp công nghệ, trong đó có một số công ty nổi tiếng thế giới, ví dụ như Intel, Schneider, Rockwell, Microchip, United Healthcare, FPT… Điểm mạnh nhất của khu này là công trình, hạ tầng. Tuy nhiên, vấn đề về môi trường sống, nguồn nhân lực chất lượng cao, hệ sinh thái và hỗ trợ của nhà nước vẫn chưa đạt được mức độ tốt nhất. Về kết quả đầu ra, Khu CNC TP. Hồ Chí Minh vẫn chủ yếu cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có trình độ công nghệ trung bình với hàm lượng R&D thấp.
Ngoài Khu CNC TP. Hồ Chí Minh, Công viên phần mềm Quang Trung, khu CNC Hòa Lạc và khu CNC Đà Nẵng cũng chỉ đạt được một số kết quả nhất định, có mức độ trưởng thành và thành công chỉ ở mức Thấp - Trung bình. Các trung tâm công nghệ còn lại của Việt Nam hầu hết đều chưa đạt được kết quả như mong đợi.
Những hạn chế, thách thức luôn hiện hữu
Trong thời gian qua, mặc dù một số tập đoàn công nghệ lớn của thế giới đã đầu tư vào các khu CNC nhưng trên thực tế chưa tạo ra sự lan tỏa công nghệ đáng kể nào cho nền kinh tế Việt Nam. Intel và Samsung là ví dụ điển hình. Đây là hai công ty có trình độ công nghệ rất cao, song hoạt động của họ tại Việt Nam nói chung và ở Khu CNC TP. Hồ Chí Mính nói riêng chỉ dừng lại ở các khâu lắp ráp, thử nghiệm; các hoạt động R&D để tạo ra công nghệ mới còn rất khiêm tốn.
Một vấn đề khác vẫn luôn được nói đến là các cơ sở hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo nước ta có quy mô rất nhỏ, chủ yếu cung cấp một số hỗ trợ cơ bản cho khởi nghiệp sáng tạo; thiếu cơ sở vật chất cần thiết, thiếu kết nối với các quỹ đầu tư khác nhau, thiếu kết nối với các công ty lớn, thiếu thể chế vượt trội phù hợp. Bên cạnh đó, các cơ sở này cũng không đủ tiềm lực tài chính, công nghệ, trình độ quản trị… để tạo ra một hệ sinh thái đủ sức hỗ trợ các nhóm khởi nghiệp sáng tạo. Ngoài ra, Việt Nam cũng chưa có một hệ thống hỗ trợ kinh doanh tích hợp đầy đủ để hỗ trợ hậu cần, cuộc sống người lao động và dịch vụ công một cửa nhằm cung cấp dịch vụ công nhanh hơn và đơn giản hơn.
Hạn chế trên là một trong những nguyên nhân dẫn tới việc các hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của Việt Nam chưa lọt vào các bảng đánh giá, xếp hạng trên thế giới. Trong bảng xếp hạng tại Báo cáo hệ sinh thái startup toàn cầu 2018 của Startup Genome (Mỹ) có nêu tên hệ sinh thái của Bắc Kinh, Kuala Lumpur, Manila nhưng không xem xét xếp hạng hệ sinh thái nào của Việt Nam. Cũng theo báo cáo này, trong mười năm qua, chưa có cơ sở hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo nào của Việt Nam có khả năng điền tên trong danh sách các công ty có giá trị trên 1 tỷ USD, trong khi Singapore có Grab, SEA, Razer; Malaysia có Lazada; Indonesia có Go Jek, Tokopedia, Traveloka, Bukalapak; Philippines có Revolution Precrafted. Đã có không ít công ty khởi nghiệp Việt Nam đã và đang phải sang Singapore để hoàn thiện sản phẩm ĐMST của mình. Điển hình là Công ty Tomochain (công nghệ Blockchain) và Công ty Luxstay (sàn cho thuê phòng ở).
Bên cạnh vấn đề tồn tại của các trung tâm, cơ sở ĐMST nói trên thì việc các doanh nghiệp Việt Nam có trình độ công nghệ khá thấp và hầu như chưa ứng dụng công nghệ mới của CMCN 4.0 cũng là câu chuyện đáng lo ngại. Theo khảo sát của Bộ Công Thương năm 2018, có tới 98% doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam chưa làm gì hoặc làm rất ít để chuẩn bị cho CMCN 4.0. Năng lực công nghệ của các doanh nghiệp trong nước rất hạn chế, năng suất lao động thấp do ít tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có hàm lượng công nghệ cao, giá trị gia tăng cao, chậm vươn lên các nấc thang giá trị cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Những vấn đề trên lý giải cho câu hỏi vì sao đến nay Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) vẫn chỉ coi nền kinh tế Việt Nam đang ở bước đầu của quá trình phát triển dựa trên hiệu quả (efficiency-driven), chưa phải dựa trên đổi mới sáng tạo (Báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu 2017-2018 của Diễn đàn kinh tế thế giới). Báo cáo Sẵn sàng cho nền sản xuất tương lai của WEF cũng chỉ xếp Việt Nam vào nhóm nước Sơ khởi (Nascent), tức là có mức độ sẵn sàng thấp, trong đó chỉ số Công nghệ và Đổi mới sáng tạo đạt mức thấp 3,09/10, xếp thứ 90/100 nước được đánh giá.
Biến đổi mới sáng tạo trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế
Để hiện thực hóa các cơ hội phát triển từ CMCN 4.0 và đưa ĐMST dần trở thành một động lực của tăng trưởng kinh tế, góp phần chuyển đổi thành công mô hình tăng trưởng, đưa đất nước từng bước chuyển sang giai đoạn phát triển dựa trên đổi mới sáng tạo (innovation-driven) thì việc hình thành Hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và chuyển dịch theo hướng đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm, đưa các kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, hàng hóa phục vụ trực tiếp cho nhu cầu trong nước và xuất khẩu là việc làm rất cần thiết.
Trên tinh thần đó, thực hiện nhiệm vụ Chính phủ giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đang nỗ lực đẩy nhanh việc hoàn thiện Đề án Thành lập Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia. Theo kế hoạch, Trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia (NIC) sẽ được xây dựng tại Khu nghiên cứu và phát triển của Khu CNC Hòa Lạc với diện tích khoảng 23 ha, vốn xây dựng sẽ huy động từ đóng góp của doanh nghiệp trong và ngoài nước dưới các hình thức đa dạng, thích hợp và thông qua xã hội hóa đầu tư; không sử dụng vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Với vai trò là một trung tâm quốc gia, NIC sẽ kết nối, hỗ trợ và hợp tác với các cơ sở hỗ trợ ĐMST và phát triển công nghệ hiện tại, tạo thành hệ thống đổi mới sáng tạo trên khắp cả nước. Qua đó, góp phần phát triển và nâng cấp năng lực công nghệ của nền kinh tế để hướng đến mục đích cuối cùng là nâng cao năng lực công nghệ và ĐMST của các doanh nghiệp và nền kinh tế; góp phần nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, đưa Việt Nam thành nước có mức thu nhập trung bình cao.
Trung tâm NIC sẽ hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ với các công nghệ đặc trưng của CMCN 4.0 nói chung, không hạn chế theo ngành, lĩnh vực kinh tế. Tuy nhiên, dựa trên phân tích đánh giá thực trạng, thế mạnh phát triển kinh tế - xã hội của Vùng đồng bằng sông Hồng, trong định hướng hoạt động ưu tiên, trước mắt Trung tâm sẽ tập trung các lĩnh vực sau: (i) Nhà máy thông minh (smart factory); (ii) Thành phố thông minh (smart city); (iii) Truyền thông số (media & entertainment); (iv) Công nghiệp an ninh mạng; (v) Công nghệ môi trường.
Hy vọng rằng khi Trung tâm ĐMST quốc gia được thành lập sẽ giúp hệ sinh thái ĐMST quốc gia nước ta hoàn thiện rõ nét hơn, giúp Việt Nam bắt kịp xu hướng phát triển của CMCN 4.0./.
Bích Ngọc