Đánh giá hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam giai đoạn 2014-2018

09/07/2021 - 11:46 AM
Nâng cao hiệu quả sử dụng lao động chính là nâng cao năng suất lao động, nâng cao mức sinh lời bình quân của người lao động và nâng cao hiệu quả xã hội. Việc nâng cao và cải tiến năng suất lao động tất yếu dẫn đến nâng cao hiệu quả sử dụng lao động. Đây là yếu tố quan trọng góp phần giảm giá thành sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, cải thiện đời sống người lao động.
 
 
Năng suất lao động tính theo lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp
phân theo khu vực kinh tế giai đoạn 2014 - 2018
 
                                                           
Bảng trên cho thấy doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là doanh nghiệp làm ăn hiệu quả nhất. Cụ thể bình quân mỗi năm trong giai đoạn 2014-2018 mỗi người lao động trong khối doanh nghiệp này sinh lợi cho doanh nghiệp 109,31 triệu đồng. Trong khi ở khu vực doanh nghiệp công nghiệp nhà nước, mỗi người lao động chỉ sinh lợi 24,54 triệu đồng và ở doanh nghiệp ngoài nhà nước là 18,77 triệu đồng. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có năng suất theo lợi nhuận cao hơn nhiều so với các loại hình doanh nghiệp khác, đó là do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sử dụng lao động hiệu quả hơn. Để có được thành công như vậy, các doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có những đầu tư nhất định cho việc bồi dưỡng đào tạo tay nghề, ngoại ngữ .... khi tiếp nhận lao động vào làm việc. Điều đó đã thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch lao động từ thu nhập thấp sang lao động có trình độ cao và thu nhập cao, đã chuyển đổi chất lượng từ thợ thủ công sang lao động lành nghề hoặc lao động chất lượng cao. Năm 2017, các doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã đào tạo và sử dụng hơn 2,3 triệu công nhân kỹ thuật trong lắp ráp và vận hành. Từ đó đội ngũ này trở thành những người có trình độ chuyên môn kỹ thuật giỏi, hoặc những cán bộ quản trị giỏi và là nòng cốt cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó cũng góp phần để đào tạo lao động Việt Nam thay đổi theo nguyên tắc, tác phong công nghiệp và tuân thủ văn hóa doanh nghiệp.

Lao động doanh nghiệp ngoài nhà nước có mức sinh lời thấp nhất do chất lượng lao động của loại hình doanh nghiệp này rất hạn chế, chủ yếu là lao động thủ công, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển. Tỷ lệ lao động được đào tạo nghề còn thấp, kỹ năng, tay nghề, thể lực và tác phong lao động công nghiệp còn yếu nên khả năng cạnh tranh không cao. Kỷ luật lao động nói chung chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp. Người lao động chưa được trang bị các kiến thức và kỹ năng làm việc theo nhóm, không có khả năng hợp tác và gánh chịu rủi ro, ngại phát huy sáng kiến và chia sẻ kinh nghiệm làm việc.

Vậy để sử dụng lao động hiệu quả không đơn thuần chỉ là nâng cao chất lượng lao động, mà mấu chốt ở đây là việc quản trị nguồn nhân lực trong nội bộ các doanh nghiệp đây là chìa khóa giúp cải thiện khả năng cạnh tranh đem lại thành công cho doanh nghiệp.

 
Năng suất lao động tính theo lợi nhuận của các doanh nghiệp công nghiệp phân theo ngành công nghiệp giai đoạn 2014 - 2018

 
Năm 2014, mỗi lao động trong ngành công nghiệp khai khoáng tạo ra lợi nhuận rất cao lên đến 392,18 triệu đồng/người. Đây cũng là đặc thù của ngành mang lại lợi nhuận cao. Tuy nhiên, những năm gần đây ngành này đã không còn lợi thế do có sự cạnh tranh với khoáng sản nhập khẩu. Ngành khai khoáng không còn đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế nữa.

Giai đoạn 2014-2018, hiệu quả sử dụng lao động của ngành công nghiệp chế biến rất thấp, bình quân mỗi năm mỗi người lao động chỉ tạo ra được 40,09 triệu đồng. Đó là do hàm lượng chất xám và công nghệ trong sản phẩm không cao, chủ yếu dựa vào yếu tố lao động, điều kiện tự nhiên, chất lượng sản phẩm chưa thực sự có ưu thế rõ rệt trên thị trường thế giới, tính độc đáo của sản phẩm không cao. Mặt khác hầu hết các doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam phải nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất. Ngay cả sản phẩm xuất khẩu và các sản phẩm có sự tăng trưởng cao trong nhiều năm qua như: Hàng dệt may, da giầy, chế biến thực phẩm và đồ uống, sản phẩm thép và kim loại màu, ô tô, xe máy, hàng điện tử, sản phẩm nhựa... cũng phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu. Nhiều nhóm sản phẩm có tỷ trọng chi phí cho nguyên vật liệu chiếm trên 60% giá thành sản phẩm như: giấy in, giấy viết, phôi thép và thép cán, lốp xe...Việc nhập khẩu với số lượng lớn nguyên liệu cũng sẽ gây tác động trực tiếp tới tính chủ động của doanh nghiệp Việt Nam trong việc lập kế hoạch kinh doanh do phụ thuộc vào biến động giá cả nguyên vật liệu nhập khẩu, biến động tỷ giá hối đoái... Ngoài ra, việc phải nhập khẩu các nguyên vật liệu phục vụ sản xuất trong nước cũng sẽ làm phát sinh thêm nhiều khoản chi phí khác, như vận chuyển, thủ tục hải quan, cảng, bảo hiểm... Tất cả các chi phí này đều ảnh hưởng lớn đến chi phí sản xuất, giá thành sản phẩm và sức cạnh tranh của sản phẩm cũng như của doanh nghiệp.

Năng suất lao động của ngành công nghiệp điện, ga, nước trong những năm gần đây có xu hướng ngày càng tăng, năm 2016 đạt 127,72 triệu đồng/người, đến năm 2018 tăng lên 233,64 triệu đồng/người. Chất lượng lao động được cải thiện cùng với giá nguyên liệu đầu vào của ngành là than và dầu giảm mạnh đã tác động tích cực đến nhiều doanh nghiệp điện. Ngoài ra, doanh nghiệp điện còn được hỗ trợ bởi nhu cầu điện tăng cao.

Có thể nói, tới nay, trong ba khu vực kinh tế, khu vực doanh nghiệp công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn dẫn đầu về hiệu quả sử dụng lao động. Mặc dù hiệu quả sử dụng lao động các ngành công nghiệp những năm gần đây có xu hướng ngày càng tăng lên, song, so với các nước trong khu vực và trên thế giới hiệu quả sử dụng lao động của doanh nghiệp công nghiệp Việt Nam được cho là thấp.

Để phát huy những thành tựu đạt được, khắc phục những tồn tại, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động, các doanh nghiệp công nghiệp cần đưa ra những giải pháp kịp thời, chính xác trong nâng cao chất lượng lao động, đổi mới công nghệ, tự chủ nguồn nguyên liệu. Về phía nhà nước cần tăng cường quản lý tạo cơ chế chính sách cho doanh nghiệp phát triển./.

 
Lê Thu Trang- Đỗ Thu Hương
Trường Đại học Lao động và Xã hội

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top