Tổng quan thị trường giá cả quý I năm 2022

29/03/2022 - 10:35 AM
Giá xăng dầu, giá gas tăng theo giá nhiên liệu thế giới; giá nhà ở thuê tăng trở lại sau khi dịch Covid-19 được kiểm soát; giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên liệu đầu vào và giá xăng dầu là nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 3/2022 tăng 0,7% so với tháng trước, tăng 1,91% so với tháng 12/2021 và tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2021.

Tính chung quý I/2022, CPI tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 0,29% của quý I/2021 nhưng thấp hơn mức tăng của quý I các năm 2017-2020; lạm phát cơ bản tăng 0,81%.

I. TỔNG QUAN

Quý I/2022, kinh tế thế giới phục hồi, nhu cầu nguyên nhiên vật liệu phục vụ sản xuất tăng cao trong khi nguồn cung bị đứt gãy khiến giá cả hàng hóa trên thị trường quốc tế có xu hướng tăng mạnh. Áp lực lạm phát tăng cao tại nhiều nước, gồm cả những nền kinh tế hàng đầu như Mỹ, Nhật Bản và các nước châu Âu. Chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ tháng 02/2022 tăng 7,9% so với cùng kỳ năm trước, cao nhất kể từ tháng 01/1982, Nhật Bản tháng thứ 6 liên tiếp có chỉ số giá tiêu dùng tăng, lạm phát tại Anh cũng lên mức cao nhất trong 30 năm qua. Thêm vào đó, xung đột giữa Nga và Ucraina cùng với các biện pháp trừng phạt kinh tế của Mỹ và các nước đối với Nga, nước xuất khẩu khí đốt tự nhiên lớn nhất và xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ hai trên thế giới đã đẩy giá năng lượng toàn cầu lên cao, đặc biệt giảm mạnh nguồn cung cho các nước châu Âu vốn phụ thuộc đáng kể vào việc nhập khẩu năng lượng từ Nga. Nga cũng là nước xuất khẩu phân bón và lúa mì quan trọng, tình trạng thiếu hụt hai mặt hàng này làm tăng giá lương thực toàn cầu và gây áp lực lạm phát thêm trầm trọng.

Trong nước, kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng trong điều kiện bình thường mới, nhu cầu sản xuất hàng hóa phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu cùng với tác động của giá hàng hóa thế giới đã đẩy giá một số hàng hóa tăng lên nhưng nhìn chung mặt bằng giá vẫn cơ bản được kiểm soát tốt. Chỉ số giá tiêu dùng quý I/2022 tăng 1,92% so với cùng kỳ năm trước, tuy cao hơn mức tăng 0,29% của quý I/2021 nhưng thấp hơn mức tăng của quý I các năm 2017-2020[1]. Để chủ động ứng phó với những thách thức trước áp lực lạm phát gia tăng, trong thời gian qua Chính phủ đã chỉ đạo quyết liệt các bộ, ngành, địa phương thực hiện đồng bộ các giải pháp bình ổn giá, hạn chế những tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội. Các chính sách được ban hành kịp thời giúp ổn định hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và người dân, giảm áp lực đáng kể lên mặt bằng giá như giảm thuế giá trị gia tăng với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ từ 10% xuống còn 8% từ ngày 01/02/2022; giảm 50% mức thuế bảo vệ môi trường đối với nhiên liệu bay từ ngày 01/01/2022 đến hết ngày 31/12/2022; giảm mức thu 37 khoản phí, lệ phí trong 6 tháng đầu năm 2022. Đồng thời, đảm bảo nguồn cung các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu, lương thực, thực phẩm trong nước dồi dào, đáp ứng nhu cầu của người dân nên giá cả ổn định. Công tác điều hành giá xăng dầu theo sát diễn biến giá thế giới, nguồn cung xăng dầu được chỉ đạo khắc phục kịp thời. Các địa phương tăng cường quản lý giá trên địa bàn, nhiều doanh nghiệp tích cực tham gia chương trình bình ổn giá.

Đến nay, mặt bằng giá trong nước vẫn cơ bản được kiểm soát nhưng áp lực lạm phát trong những tháng còn lại của năm khá lớn. Diễn biến giá cả hàng hóa, nguyên nhiên vật liệu trên thế giới đang tiếp tục tăng mạnh trong bối cảnh chiến sự Nga - Ucraina còn phức tạp gây gián đoạn chuỗi cung ứng, đặc biệt là giá xăng dầu tạo áp lực lớn đến chi phí sản xuất của doanh nghiệp và tiêu dùng của người dân. Cùng với tác động của các gói hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng, kinh tế Việt Nam có khả năng phục hồi mạnh hơn trong các quý tiếp theo, nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tăng sẽ đẩy giá cả hàng hóa lên cao. Mặc dù là quốc gia có nguồn lương thực, thực phẩm dồi dào nhưng sẽ không tránh khỏi những ảnh hưởng từ giá thế giới khi nguồn cung phân bón và ngũ cốc dùng làm thức ăn chăn nuôi sụt giảm mạnh. Chính vì vậy, công tác quản lý, điều hành giá trong thời gian tới cần tiếp tục thực hiện một cách thận trọng, chủ động và linh hoạt nhằm bảo đảm kiểm soát tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm 2022 ở mức khoảng 4% theo mục tiêu Quốc hội đề ra.

II. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 3/2022

So với tháng trước, CPI tháng 3/2022 tăng 0,7% (khu vực thành thị tăng 0,75%; khu vực nông thôn tăng 0,66%), mức tăng cao nhất kể từ năm 2012[2]. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 10 nhóm hàng tăng giá so với tháng trước; riêng nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm giá.
Tổng quan thị trường giá cả quý I năm 2022
Diễn biến giá tiêu dùng tháng 3/2022 so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,27%)

Chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tháng 3/2022 giảm 0,27% so với tháng trước, tác động làm CPI chung giảm 0,09 điểm phần trăm, trong đó lương thực tăng 0,17%, tác động tăng 0,01 điểm phần trăm; thực phẩm giảm 0,48%, tác động giảm 0,1 điểm phần trăm; ăn uống ngoài gia đình tăng 0,08%, tác động tăng 0,01 điểm phần trăm.

1.1. Lương thực (+0,17%)

Chỉ số giá nhóm lương thực tháng 3/2022 tăng 0,17% so với tháng trước, trong đó chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,08% (Gạo tẻ ngon tăng 0,1%; gạo tẻ thường tăng 0,1%). Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, các doanh nghiệp trong nước đẩy mạnh thu mua để dự trữ.

Trong tháng, giá gạo tẻ thường dao động từ 11.500-13.000 đồng/kg; giá gạo Bắc Hương từ 17.500-20.000 đồng/kg; giá gạo tẻ ngon Nàng Thơm chợ Đào từ 17.800-20.000 đồng/kg; giá gạo nếp từ 24.300-35.000 đồng/kg.

Giá nguyên liệu đầu vào, giá cước vận chuyển tăng tác động đến giá các mặt hàng lương thực chế biến khác. Theo đó, giá mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tăng 0,95% so với tháng trước; bột mì tăng 0,65%; bột ngô tăng 0,56%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,25%; bánh mì tăng 0,23%.

1.2. Thực phẩm (-0,48%)

Chỉ số giá nhóm thực phẩm tháng 3/2022 giảm 0,48% so với tháng trước, tập trung ở một số mặt hàng:

- Giá thịt lợn giảm 2,72% so với tháng trước (làm CPI chung giảm 0,09 điểm phần trăm), trong đó khu vực thành thị giảm 3,11%; khu vực nông thôn giảm 2,45%. Giá thịt lợn giảm do quy luật tiêu dùng sau Tết Nguyên đán, giá trở về mức bình thường khi nguồn cung được đảm bảo. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng quý I/2022 ước tính đạt 1.041,6 nghìn tấn, tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Theo đó, giá thịt quay, giò, chả tháng Ba giảm 0,81% so với tháng trước; mỡ động vật giảm 0,43%.

- Giá thịt gia cầm giảm 0,31% so với tháng trước do nguồn cung đảm bảo và nhu cầu tiêu dùng sau Tết Nguyên đán giảm. Theo đó, giá thịt gà giảm 0,36%, giá thịt gia cầm khác giảm 0,22%.

- Sau Tết nhu cầu tiêu dùng giảm, trong khi các loại cá biển đến vụ khai thác mới, hàng hóa dồi dào khiến giá hải sản tươi sống giảm 0,43% so với tháng trước.

- Giá quả tươi và chế biến giảm 0,4% so với tháng trước, trong đó xoài giảm 1,68%; chuối giảm 1,02%; các loại trái cây khác giảm 2,55%. Đặc biệt, tình trạng ứ đọng hàng hóa tại cửa khẩu sang Trung Quốc khiến giá một số loại trái cây đang vào mùa như dưa hấu, thanh long giảm mạnh.

Bên cạnh các mặt hàng giảm giá, do giá nguyên liệu đầu vào, chi phí vận chuyển tăng làm cho giá dầu thực vật trong tháng tăng 2,1% so với tháng trước; đường mật tăng 0,34%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,31%; sữa, bơ, phô mai tăng 0,24%; đồ gia vị tăng 0,21%. Giá rau tươi, khô và chế biến tháng 3/2022 bình quân tăng 0,99% so với tháng trước, trong đó giá su hào tăng 7,95%; đỗ quả tươi tăng 3,21%; rau muống tăng 3,16%; rau gia vị tăng 0,95%; bắp cải tăng 0,64%; riêng giá cà chua giảm 10,22%. Giá rau tăng chủ yếu ở các tỉnh phía Bắc do thời tiết mưa rét kéo dài trong tháng 2 đã tác động đến sản lượng và giá các mặt hàng rau xanh đầu tháng 3/2022. Ở chiều ngược lại, giá rau tại các tỉnh miền Trung và miền Nam giảm do nguồn cung dồi dào.

1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,08%)

Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình tháng 3/2022 tăng 0,08% so với tháng trước, trong đó giá ăn ngoài gia đình tăng 0,13% do giá nguyên liệu chế biến và giá xăng dầu tăng; giá uống ngoài gia đình giảm 0,17%; đồ ăn nhanh mang đi giảm 0,05% do sau Tết Nguyên đán giá trở lại bình thường.

2. Đồ uống và thuốc lá (+0,06%)

Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tháng 3/2022 tăng 0,06% so với tháng trước. Chi phí vận chuyển tăng nên giá đồ uống, thuốc lá các loại đều tăng, trong đó đồ uống không cồn tăng 0,1% so với tháng trước; rượu bia tăng 0,07%; thuốc hút tăng 0,02%.

3. May mặc, mũ nón, giày dép (+0,12%)

Chỉ số giá nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tháng 3/2022 tăng 0,12% so với tháng trước do giá xăng dầu và chi phí sản xuất tăng. Trong đó, giá vải các loại tăng 0,32% so với tháng trước; mũ nón tăng 0,2%; giày dép tăng 0,11%; dịch vụ may mặc tăng 0,4%; dịch vụ sửa chữa giày dép tăng 0,58%.

4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+1,49%)

Chỉ số giá nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tháng 3/2022 tăng 1,49% so với tháng trước. Diễn biến giá một số mặt hàng tăng trong nhóm như sau:

- Giá dầu hỏa tăng 18,18% so với tháng 02/2022 do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá vào ngày 01/3/2022, 11/3/2022 và 21/3/2022.

- Giá gas tăng 9,33% so với tháng trước do từ ngày 01/3/2022 giá gas trong nước điều chỉnh tăng 42.000 đồng/bình 12 kg, sau khi giá gas thế giới tăng 132,5 USD/tấn (từ mức 775 USD/tấn lên mức 907,5 USD/tấn).

- Giá thuê nhà tăng 3,26% so với tháng trước do sau nhiều tháng giảm giá nhằm hỗ trợ người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, các nhà trọ quay trở về mức giá như cũ.

- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,56% do giá thép tăng khi giá nguyên liệu từ quặng sắt, thép phế liệu… tăng mạnh; giá nguyên vật liệu đầu vào trong sản xuất xi măng đều tăng, đặc biệt giá xăng dầu và than đá dẫn đến giá xi măng tăng cao. Bên cạnh đó, giá một số sản phẩm vật liệu xây dựng tăng như đá, cát, gạch xây dựng.

- Giá điện sinh hoạt tăng 1,51% so với tháng trước[3], giá nước sinh hoạt tăng 0,12% do nhu cầu sử dụng điện, nước trong tháng tăng cao.

5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (+0,19%)

Chỉ số giá nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tháng 3/2022 tăng 0,19% so với tháng trước. Trong đó, giá máy sinh tố, ép hoa quả tăng 0,72%; bàn là điện tăng 0,57%; lò vi sóng, lò nướng, bếp từ tăng 0,48%; bình nước nóng nhà tắm tăng 0,38%; đồng hồ và gương treo tường tăng 0,31%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,29%; giường, tủ, bàn, ghế tăng 0,27%; đồ thủy tinh, sành sứ tăng 0,23%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 0,16%.

6. Giao thông (+4,8%)

Chỉ số giá nhóm giao thông tháng 3/2022 tăng 4,8% so với tháng trước, tập trung vào những mặt hàng sau:

- Giá xăng, dầu tăng 13,44% so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,48 điểm phần trăm do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá vào ngày 01/3/2022, 11/3/2022 và 21/3/2022.

- Giá vận tải hành khách bằng đường bộ tăng 0,8% so với tháng trước, giá vận tải hành khách bằng taxi tăng 1,26%, vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 2,22%, dịch vụ giao nhận hàng lý ký gửi tăng 1,32% do một số đơn vị kinh doanh vận tải thực hiện kê khai tăng giá khi giá xăng dầu tăng.

- Giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 1,03%; phí thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,53%; phí học bằng lái xe tăng 0,44%.

Ở chiều ngược lại, giá vé tàu hỏa giảm 10,63% so với tháng 2/2022, giá vé máy bay giảm 13,63% do trở về mức giá bình thường sau Tết Nguyên đán.

7. Văn hóa, giải trí và du lịch (+0,21%)

Chỉ số giá nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tháng Ba tăng 0,21% so với tháng trước do các hoạt động trên cả nước đang trở về trạng thái “bình thường mới” sau nhiều tháng chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19, giá du lịch trọn gói tăng 0,61%; vé thuê chỗ chơi thể thao tăng 0,31%; khách sạn, nhà khách tăng 0,29%; xem phim, ca nhạc tăng 0,27%; thiết bị, dụng cụ thể thao tăng 0,06%.

8. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,46%)

Chỉ số giá nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tháng 3/2022 tăng 0,46% so với tháng trước, tập trung ở giá nhóm đồ trang sức tăng 5,17% theo giá vàng trong nước; dịch vụ cắt tóc gội đầu tăng 0,98%; vật dụng và dịch vụ về cưới hỏi tăng 0,79%; vật dụng và dịch vụ thờ cúng tăng 0,25% so với tháng trước.

9. Chỉ số giá vàng (+4,51%)

Giá vàng trong nước biến động tăng cùng chiều với giá vàng thế giới khi lạm phát các quốc gia tăng cao và ảnh hưởng của chiến tranh giữa Nga - Ucraina. Tính đến ngày 25/3/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.956,07 USD/ounce, tăng 4,95% so với tháng 2/2022.

Trong nước, nhu cầu mua sắm vàng gia tăng làm chỉ số giá vàng tháng 3/2022 tăng 4,51% so với tháng trước; tăng 9,36% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I năm 2022, chỉ số giá vàng trong nước tăng 3,52%.

10. Chỉ số giá đô la Mỹ (+0,64%)

Ngày 16/3/2022, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất cơ bản lần đầu tiên sau hơn 3 năm lên mức 0,25%-0,5% trước áp lực lạm phát gia tăng. Chỉ số đô la Mỹ tháng 3/2022 trên thị trường quốc tế đạt mức 98,47 điểm, tăng 2,58% so với tháng trước.

Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.000 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 3/2022 tăng 0,64% so với tháng trước; giảm 0,43% so với cùng kỳ năm trước; bình quân quý I năm 2022, chỉ số giá đô la Mỹ trong nước giảm 0,67%.
Bảng 1. Tốc độ tăng/giảm CPI tháng Ba từ năm 2018 đến năm 2022
Đơn vị tính: %
  Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
CPI tháng 3 so với tháng trước -0,27 -0,21 -0,72 -0,27 0,70
CPI tháng 3 so với cùng kỳ năm trước 2,66 2,70 4,87 1,16 2,41
CPI tháng 3 so với tháng 12 năm trước 0,97 0,69 0,34 1,31 1,91
CPI bình quân quý I so với cùng kỳ năm trước 2,82 2,63 5,56 0,29 1,92
 
So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 3/2022 tăng 2,41%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính có 9 nhóm tăng giá và 2 nhóm giảm giá.
 Tổng quan thị trường giá cả quý I năm 2022 1

Các nhóm hàng tăng giá:

- Nhóm giao thông tháng 3/2022 tăng cao nhất với 18,29% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI chung tăng 1,77 điểm phần trăm, trong đó giá xăng dầu tăng 56,08% do từ tháng 3/2021 đến nay xăng A95 tăng 10.150 đồng/lít; xăng E5 tăng 10.480 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 9.390 đồng/lít.

- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 2,65% chủ yếu do nhu cầu tăng trong dịp Tết Nguyên đán và Rằm tháng Giêng, thêm vào đó chi phí vận chuyển tăng và nguồn cung thuốc lá giảm.

- Bên cạnh đó, nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tháng Ba tăng 1,78% so với cùng kỳ năm trước; nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 1,7%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,44%; nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 1,01%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,52%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%.

Ở chiều ngược lại, có 2 nhóm hàng giảm giá:

- Nhóm giáo dục giảm 3,21% do từ học kỳ I năm học 2021-2022, một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn, giảm học phí trong đại dịch.

- Nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,58% do giá phụ kiện điện thoại thông minh giảm.

So với tháng 12/2021, CPI tháng Ba tăng 1,91%, trong đó có 10 nhóm hàng tăng giá, riêng nhóm bưu chính, viễn thông giảm 0,06%.

Trong các nhóm tăng giá:

- Nhóm giao thông tháng 3/2022 tăng cao nhất với 8,53% so với tháng 12/2021, trong đó giá xăng dầu tăng 23,21% do từ tháng 12/2021 đến nay, giá xăng, dầu trong nước được điều chỉnh tăng 6 đợt, giảm 1 đợt, trong đó giá xăng A95 tăng 5.900 đồng/lít so với tháng 12/2021; giá xăng E5 tăng 5.780 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 6.060 đồng/lít.

- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,49% so với tháng 12/2021 chủ yếu do giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng cao.

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,27% do giá nguyên liệu đầu vào và ăn uống ngoài gia đình tăng.
 
- Nhóm đồ uống, thuốc lá tăng 1% do nhu cầu tiêu dùng tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán và Rằm tháng Giêng.
 
III. CHỈ SỐ GIÁ TIÊU DÙNG QUÝ I NĂM 2022
 
Chỉ số giá tiêu dùng quý I/2022 tăng 1,92% so với cùng kỳ năm 2021.

1. Các yếu tố làm tăng CPI trong quý I năm 2022

- Trong quý I/2022, giá xăng dầu được điều chỉnh 7 đợt, làm cho giá xăng A95 tăng 5.900 đồng/lít; giá xăng E5 tăng 5.780 đồng/lít và giá dầu diezen tăng 6.060 đồng/lít. Bình quân quý I năm 2022, giá xăng dầu trong nước tăng 48,81% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 1,76 điểm phần trăm.

- Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới, bình quân quý I giá gas tăng 21,04% so với cùng kỳ năm trước, góp phần làm CPI chung tăng 0,31 điểm phần trăm.

- Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở quý I/2022 tăng 8,08% so với cùng kỳ năm trước do giá xi măng, sắt, thép, cát tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào, làm CPI chung tăng 0,16 điểm phần trăm.

- Giá gạo trong nước tăng theo giá gạo xuất khẩu và nhu cầu tiêu dùng gạo nếp và gạo tẻ ngon trong dịp Tết Nguyên đán và Rằm tháng Giêng tăng cao làm cho giá gạo quý I năm nay tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước, tác động làm CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm.

2. Một số nguyên nhân làm giảm CPI trong quý I năm 2022

- Giá các mặt hàng thực phẩm quý I/2022 giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước, làm CPI giảm 0,26 điểm phần trăm, trong đó giá thịt lợn giảm 21,55%, mỡ ăn giảm 22,6%; theo đó giá thịt chế biến giảm 4,63%.

- Giá dịch vụ giáo dục giảm 4,24% do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương miễn giảm học phí từ học kỳ I năm học 2021-2022 do ảnh hưởng của dịch Covid-19, làm CPI giảm 0,23 điểm phần trăm.

- Giá thuê nhà ở giảm 15,14% so với cùng kỳ năm trước do nhiều hộ gia đình giảm giá hỗ trợ người thuê nhà trong tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, làm CPI giảm 0,07 điểm phần trăm.

IV. LẠM PHÁT CƠ BẢN

Lạm phát cơ bản[4] tháng 3/2022 tăng 0,29% so với tháng trước, tăng 1,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong quý I/2022, lạm phát cơ bản bình quân tăng 0,81% so với bình quân cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 1,92%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực, xăng, dầu và gas tăng.
Bảng 2. Lạm phát cơ bản tháng Ba từ năm 2018 đến năm 2022
       Đơn vị tính: %
  Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 Năm 2021 Năm 2022
Lạm phát cơ bản tháng 3 so với tháng trước -0,09 -0,06 -0,06 -0,12 0,29
Lạm phát cơ bản tháng 3 so với cùng kỳ năm trước 1,38 1,84 2,95 0,73 1,09
Lạm phát cơ bản quý I so với cùng kỳ năm trước 1,34 1,83 3,05 0,67 0,81
 
TỔNG CỤC THỐNG


[1] Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng quý I các năm 2017-2020 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: tăng 4,96%; tăng 2,82%; tăng 2,63%; tăng 5,56%.

[2] Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng tháng 3 các năm 2012-2021 so với tháng trước lần lượt là: tăng 0,16%; giảm 0,19%; giảm 0,44%; tăng 0,15%; tăng 0,57%; tăng 0,21%; giảm 0,27%; giảm 0,21%; giảm 0,72%; giảm 0,27%.

[3] Chỉ số giá điện sinh hoạt tháng 3/2022 được tính dựa trên doanh thu và sản lượng điện tiêu dùng từ ngày

01-28/02/2022, do đó phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác.

[4] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục


Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top