Tổng quan thị trường và giá cả tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2020

01/10/2020 - 02:47 PM
Điều chỉnh giá dịch vụ giáo dục tăng theo lộ trình nhằm tiệm cận với giá thị trường; Giá điện sinh hoạt tăng do nhu cầu sử dụng điện của người dân tăng trong thời tiết nắng nóng; Giá gạo trong nước tăng do giá gạo xuất khẩu của Việt Nam ở mức cao nhất kể từ năm 2011, là những yếu tố làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước, tăng 0,01% so với tháng 12/2019, tăng 2,98% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân quý III năm 2020, CPI tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng năm 2020, CPI tăng 3,85% so với cùng kỳ năm 2019 - mức tăng bình quân 9 tháng cao nhất trong 5 năm gần đây([1]). Trong đó: CPI khu vực thành thị tăng 3,4%, khu vực nông thôn tăng 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Lạm phát cơ bản 9 tháng năm 2020 tăng 2,59% so với cùng kỳ năm 2019.

Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá Đôla Mỹ tháng 9 năm 2020

Tổng quan thị trường và giá cả tháng 9, quý III và 9 tháng năm 2020
 
I. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ THÁNG 9 NĂM 2020
 
So với tháng trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính có 6 nhóm hàng tăng giá: Đồ uống và thuốc lá tăng 0,05%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,1%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,62%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; Giáo dục tăng 2,08%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Có 5 nhóm hàng giảm giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,31%; Thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,06%; Giao thông giảm 0,12%; Bưu chính viễn thông giảm 0,02%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,2%.
 
1. Các nguyên nhân làm tăng CPI tháng 9 năm 2020
 
(1) Trong tháng 9/2020, có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, theo đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 2,29% so với tháng trước làm CPI chung tăng 0,12%.
 
(2) Dựa trên sản lượng và doanh thu điện sinh hoạt từ ngày 01/8/2020 đến ngày 31/8/2020([2]), thời tiết tháng 8/2020 nắng nóng, theo đó, giá điện sinh hoạt tính trong CPI tháng 9/2020 tăng 3,23%; giá nước sinh hoạt tăng 0,4% so với tháng trước.
 
(3) Giá gạo tăng 0,71% so với tháng trước do nhu cầu tiêu dùng trong nước và nhu cầu nhập khẩu gạo của các nước tăng vì lo ngại dịch Covid-19 có thể kéo dài. Theo đó, giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 470 USD/tấn lên 480 - 490 USD/tấn, mức cao nhất kể từ năm 2011.
 
2. Các nguyên nhân làm giảm CPI tháng 9 năm 2020
 
Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, còn có một số nguyên nhân kiềm chế CPI tháng 9/2020 như sau:
 
(1) Giá xăng dầu điều chỉnh giảm vào ngày 27/8/2020, ngày 11/9/2020 và ngày 26/9/2020, bình quân tháng 9/2020 giá nhiên liệu giảm 0,05% so với tháng trước, trong đó: giá xăng E5 giảm 190 đồng/lít, giá xăng A95 giảm 130 đồng/lít, giá dầu diezen giảm 840 đồng/lít so với tháng trước.
 
(2) Giá vé tàu hỏa giảm 1,26% so với tháng trước do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giảm giá vào cuối mùa hè.
 
(3) Giá thịt lợn, giá thịt gia cầm, giá thủy sản tươi sống giảm do nguồn cung nhiều và nhu cầu giảm.
 

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9 và 9 tháng từ năm 2016 đến năm 2020
                                                                                                                                 Đơn vị tính:%
  Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
CPI tháng 9 so với tháng trước 0,54 0,59 0,59 0,32 0,12
CPI tháng 9 so với tháng 12 năm trước 3,14 1,83 3,20 2,20 0,01
CPI tháng 9 so với cùng kỳ năm trước 3,34 3,40 3,98 1,98 2,98
CPI bình quân 9 tháng so với cùng kỳ năm trước 2,07 3,79 3,57 2,50 3,85
 
II. DIỄN BIẾN GIÁ TIÊU DÙNG THÁNG 9 NĂM 2020 CỦA MỘT SỐ NHÓM HÀNG CHÍNH
1. Hàng ăn và dịch vụ ăn uống (-0,31%)
 
1.1. Lương thực (+0,53%)
 
Chỉ số giá gạo tháng 9/2020 tăng 0,71% so với tháng 8/2020 (chỉ số giá gạo khu vực thành thị tăng 0,48%, khu vực nông thôn tăng 0,87%) do nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu tăng. Giá gạo xuất khẩu bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 2,41% so với cùng kỳ năm 2019. Những ưu đãi Việt Nam được hưởng sau khi Hiệp định thương mại tự do châu Âu-Việt Nam (EVFTA) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/8/2020 đã mang lại mức giá cao cho gạo thơm của Việt Nam khi xuất khẩu sang EU. Với hạn ngạch xuất khẩu gạo của Việt Nam sang thị trường EU là 80.000 tấn/năm đã giúp gạo Việt Nam bắt đầu được mở rộng thị trường. Giá gạo 5% tấm xuất khẩu của Việt Nam tăng từ 470 USD/tấn lên 480 - 490 USD/tấn, mức cao nhất kể từ năm 2011.
 
Tại miền Bắc giá gạo tẻ thường ở mức 11.500 đồng/kg - 12.500 đồng/kg, tại miền Nam gạo tẻ thường IR504 giá phổ biến 11.500 đồng/kg - 12.500 đồng/kg; gạo tẻ thường IR74 giá 10.700 đồng/kg - 12.000 đồng/kg, gạo tẻ ngon Nàng thơm chợ Đào giá 13.000 đồng/kg - 14.500 đồng/kg, giá gạo nếp dao động từ 24.000 đồng/kg - 28.500 đồng/kg.
 
1.2. Thực phẩm (-0,59%)
 
(1) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm ở một số mặt hàng: 
 
- Giá thịt lợn giảm 3,51% so với tháng trước do: (i) nhu cầu tiêu thụ thịt giảm do một bộ phận người dân ăn chay trong tháng 7 âm lịch, ảnh hưởng của dịch Covid -19 khiến các nhà hàng, quán ăn giảm lượng hàng tiêu thụ; (ii) nguồn cung lợn trong nước tăng cùng với nhập khẩu lợn sống và lợn đông lạnh làm cho giá lợn hơi trong nước giảm (giảm 5.000 đồng/kg - 12.000 đồng/kg so với tháng 8/2020). Giá thịt lợn hơi bình quân tháng 9/2020 phổ biến ở mức 75.000 đồng/kg - 84.000 đồng/kg. Theo đó, giá các sản phẩm chế biến từ thịt lợn giảm: giá thịt quay, giò chả giảm 0,95%; giá thịt hộp, chế biến khác giảm từ 0,04% - 0,24% so với tháng trước;
 
- Giá thịt gà giảm 1%, giá thịt gia cầm khác giảm 0,68% so với tháng trước do nguồn cung nhiều. Ước tính tổng số gia cầm cả nước tháng 9/2020 tăng khoảng 5,7% so với cùng kỳ năm 2019. Bên cạnh đó, ảnh hưởng của dịch Covid-19 lần 2 nên các nhà hàng, quán ăn giảm lượng hàng tiêu thụ làm cho giá thịt gà và gia cầm khác giảm. Bình quân tháng 9/2020, giá gà ta làm sẵn nguyên con dao động từ 110.000 đồng/kg - 140.000 đồng/kg giảm từ 500 đồng/kg - 1.200 đồng/kg; giá gà công nghiệp làm sẵn dao động từ 50.000 đồng/kg - 68.000 đồng/kg giảm từ 500 đồng/kg - 1.600 đồng/kg;
 
- Giá các mặt hàng thủy sản tươi sống giảm 0,36% so với tháng trước do ảnh hưởng dịch Covid-19 xuất khẩu thủy sản giảm, nhu cầu tiêu dùng tháng 7 âm lịch giảm và thực hiện giãn cách xã hội ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có du lịch về biển, như: Đà Nẵng, Quảng Nam, Khánh Hòa, Quảng Ngãi ... nên giảm lượng khách du lịch, dẫn đến nhu cầu thủy sản giảm.
 
(2) Bên cạnh các mặt hàng giảm giá, nhóm thực phẩm có các mặt hàng tăng giá như:
 
- Giá rau tươi tăng 0,51% so với tháng trước, do thời tiết nắng nóng kéo dài tại miền Bắc, mưa tại miền Nam ảnh hưởng đến sự phát triển của rau, củ. Trong đó: giá bắp cải tăng 1,16%, giá su hào tăng 2,39%, giá cà chua tăng 0,25%, giá quả đỗ tươi tăng 1,37%;
 
- Giá trứng tăng 1,17% so với tháng trước do nhu cầu nguyên liệu làm bánh Trung thu;
 
- Giá quả tươi tăng 1,9% so với tháng trước do trong tháng có ngày lễ Vu Lan, nhu cầu về các loại quả tươi tăng. Trong đó: giá xoài tăng 3,69%; giá chuối tăng 1,1%; giá táo tăng 0,5%.
 
1.3. Ăn uống ngoài gia đình (+0,03%)
 
Dịch Covid-19 lần 2 về cơ bản đã được kiểm soát nên giá ăn, uống ngoài gia đình khá ổn định. Trong đó: giá ăn ngoài gia đình và giá uống ngoài gia đình đều tăng 0,04%; đồ ăn nhanh mang đi giảm 0,03% so với tháng trước.
 
2. Đồ uống và thuốc lá (+0,05%)
 
Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu do nước khoáng tăng 0,31%; nước giải khát có ga tăng 0,27%; nước uống tăng lực tăng 0,17% so với tháng trước. Ở chiều ngược lại, giá một số mặt hàng đồ uống giảm nhẹ, cụ thể: giá nước quả ép giảm 0,3%; giá bia chai giảm 0,07% so với tháng trước .
 
3. May mặc, mũ nón và giầy dép (+0,1%)
 
Nhóm hàng này chủ yếu tăng ở các mặt hàng quần áo may sẵn, đồng phục học sinh, giày dép học sinh do nhu cầu đầu năm học mới tăng: giá quần áo may sẵn tăng 0,08%; giá giày dép tăng 0,11%; dịch vụ may mặc tăng 0,16%; dịch vụ giầy dép tăng 0,02% so với tháng trước.
 
4. Nhà ở và vật liệu xây dựng (+0,62%)
 
(1) Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở các mặt hàng sau:
 
- Chính sách hỗ trợ giảm giá điện do ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 đã kết thúc, thời tiết nắng nóng trong tháng 8/2020 làm cho chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 3,23% so với tháng trước, làm cho CPI chung tăng 0,11%;
 
- Từ ngày 01/9/2020 giá gas trong nước điều chỉnh tăng 2.000 đồng/bình 12kg tăng 0,52% so với tháng 8/2020 do giá gas thế giới bình quân công bố ở mức 360 USD/tấn, tăng khoảng 5 USD/tấn so với tháng 8 năm 2020;
 
- Vật liệu, bảo dưỡng nhà ở tăng 0,17% do giá thép tăng; dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,31%; dịch vụ nước sinh hoạt tăng 0,16% so với tháng trước do nhu cầu tăng.
 
(2) Bên cạnh các mặt hàng tăng giá, có các mặt hàng giảm giá như:
 
- Giá thuê nhà ở giảm 0,04% so với tháng trước do trước tác động của dịch Covid-19, các chủ hộ cho thuê nhà chủ động giảm giá, hỗ trợ thêm cho người thuê nhà;
 
- Giá dầu hỏa bình quân giảm 4,27% so với tháng trước do điều chỉnh giảm vào ngày 27/8/2020, ngày 11/9/2020 và ngày 26/9/2020.
 
5. Thiết bị và đồ dùng gia đình (-0,06%)
 
Chỉ số giá nhóm hàng này giảm do một số siêu thị áp dụng chương trình giảm giá chào mừng Quốc Khánh 02/9. Cụ thể, so với tháng trước: Máy điều hòa nhiệt độ giảm 0,48%; tủ lạnh giảm 0,19%; máy giặt giảm 0,63%; bình nước nóng giảm 0,27%; quạt điện giảm 0,47%; nồi cơm điện giảm 0,58%. Theo chiều ngược lại, nhu cầu sử dụng các loại vật phẩm tiêu dùng gia đình tăng làm cho giá xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,03%; thuốc diệt côn trùng tăng 0,23% so với tháng trước.
 
6. Giao thông (-0,12%)
 
Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 0,12% so với tháng trước, chủ yếu ở những mặt hàng sau:
 
- Giá xăng dầu điều chỉnh giảm vào ngày 27/8/2020, ngày 11/9/2020 và ngày 26/9/2020, bình quân tháng 9/2020 giá nhiên liệu giảm 0,05% so với tháng trước, trong đó: giá xăng E5 giảm 190 đồng/lít, giá xăng A95 giảm 130 đồng/lít, giá dầu diezen giảm 840 đồng/lít so với tháng trước.
 
- Giá vé tàu hỏa giảm 1,26% so với tháng trước do Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giảm giá vào cuối mùa hè.
 
- Giá ô tô giảm 0,29% so với tháng trước do nhiều đại lý ô tô đã đưa những gói ưu đãi, giảm giá xe hấp dẫn nhằm kích thích sức mua của người tiêu dùng trong bối cảnh thị trường ảm đạm do dịch Covid-19, cùng với việc từ ngày 28/6/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 70/2020/NĐ-CP về việc giảm 50% lệ phí trước bạ đối với ô tô lắp ráp, sản xuất trong nước.
 
7. Giáo dục (+2,08%)
 
Đây là nhóm có chỉ số giá tăng mạnh nhất trong 11 nhóm hàng chính. Chỉ số giá nhóm giáo dục tăng chủ yếu ở nhóm dịch vụ giáo dục do cả nước có 44 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng học phí theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ. Bên cạnh đó, chuẩn bị vào năm học mới, nhu cầu mua sắm sách vở và các dụng cụ học tập tăng: giá sách giáo khoa tăng 0,57%; giá văn phòng phẩm và đồ dùng học tập khác tăng 0,28%; giá bút các loại tăng 0,52% so với tháng trước.
 
Riêng Thành phố Đà Nẵng và tỉnh Thừa Thiên Huế có chỉ số giá dịch vụ giáo dục giảm lần lượt là 15,45% và 1,53% so với tháng trước do: Thành phố Đà Nẵng thực hiện Nghị quyết số 309/NQ - HĐND ngày 8/7/2020 của Hội đồng nhân dân thành phố Đà Nẵng về việc hỗ trợ học phí theo mức thu học phí công lập năm học 2020 - 2021 đối với trẻ mầm non và học sinh phổ thông trong 4 tháng học kỳ I năm học 2020 - 2021 do ảnh hưởng của dịch Covid-19 lần 2; Tại tỉnh Thừa Thiên Huế, trường Đại học dân lập Phú Xuân điều chỉnh học phí năm học 2020 - 2021 giảm từ 710.000 đồng/1 tín chỉ xuống còn 530.000 đồng/1 tín chỉ, tương đương giảm 25,35% so với tháng trước.
 
8. Văn hóa, giải trí và du lịch (-0,2%)
 
Do ảnh hưởng của dịch Covid-19 lần 2 nên giá dịch vụ du lịch trọn gói giảm 0,37%; giá khách sạn, nhà khách giảm 0,07% so với tháng trước.
 
9. Hàng hóa và dịch vụ khác (+0,02% )
 
Chỉ số giá nhóm này tăng chủ yếu ở dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 0,12%, hàng chăm sóc cơ thể tăng 0,14% so với tháng trước. Đồng thời chịu tác động của giá đồ trang sức giảm 1,13% so với tháng trước do giá vàng giảm.
 
10. Chỉ số giá vàng (-0,33%)
 
Giá vàng trong nước biến động theo giá vàng thế giới. Trong tháng 8/2020 giá vàng tăng cao liên tục và đạt mức cao nhất vào ngày 07/8/2020 (2.089 USD/ounce). Tháng 9/2020 giá vàng thế giới giảm do: Các nhà đầu tư bán ra chốt lời sau thời gian giá vàng tăng mạnh; Nền kinh tế Mỹ phục hồi tốt hơn so với các dự đoán sau khi bị ảnh hưởng của dịch Covid-19 và chỉ số đồng USD tăng lên so với các đồng tiền chủ chốt trên thị trường thế giới (Tính đến ngày 28/9/2020, chỉ số đồng USD so với các đồng tiền chủ chốt trên thị trường thế giới đứng ở mức 93,38 điểm, tăng 0,38% so với tháng trước). Bình quân đến ngày 28/9/2020 giá vàng thế giới ở mức 1.929,8 USD/ounce giảm 2,55% so với tháng trước. Bình quân tháng 9/2020 giá vàng trong nước giảm 0,33% so với tháng trước, giá vàng dao động quanh mức 5,46 triệu đồng/chỉ vàng SJC.
 
11. Chỉ số giá đô la Mỹ (-0,05%)
 
Ngày 16/9/2020, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bất ngờ tuyên bố sẽ giữ lãi suất ở mức gần bằng 0% và giữ nguyễn lãi suất này đến năm 2023 và dự báo nền kinh tế Mỹ sẽ phục hồi sau dịch Covid-19. Trong nước, lượng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam luôn đảm bảo đáp ứng nhu cầu về ngoại tệ của các doanh nghiệp nhập khẩu, tỷ giá giữa VND và USD tháng 9/2020 giảm 0,05%, giá USD bình quân ở thị trường tự do tháng này ở quanh mức 23.270 VND/USD.
 
III. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ QUÝ III NĂM 2020
 
CPI quý III/2020 tăng 0,92% so với quý trước và tăng 3,18% so với cùng kỳ năm trước. So với cùng quý năm trước, trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 8 nhóm hàng tăng giá: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 11,47%; Đồ uống và thuốc lá tăng 1,36%; May mặc, mũ nón và giầy dép tăng 0,56%; Nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,67%; Thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,11%; Thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,51%; Giáo dục tăng 3,52%; Hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,48%. 3 nhóm giảm giá: Nhóm Giao thông giảm 13,39%; Bưu chính viễn thông giảm 0,54%; Văn hóa, giải trí và du lịch giảm 1,65%.
 
Một số nguyên nhân tác động làm tăng CPI quý III/2020 so với cùng kỳ năm trước
 
(1) Chỉ số giá nhóm thực phẩm quý III/2020 tăng 14,37% so với cùng kỳ năm trước. Riêng giá thịt lợn quý III/2020 tăng 75,34% so với cùng quý năm trước làm cho CPI chung tăng 2,55%.
 
(2)  Giá gạo quý III/2020 tăng 6,28% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu trong nước và thế giới tăng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thêm vào đó chất lượng gạo của Việt Nam được các đối tác trên thị trường quốc tế đánh giá cao.
 
(3) Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình quý III/2020 tăng 7,55% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do giá thực phẩm tăng cao nên giá suất ăn ở quán bình dân tăng.
 
(4) Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2020-2021 theo lộ trình của Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 của Chính phủ, theo đó, chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục quý III/2020 tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước.
 
Bên cạnh một số nguyên nhân tác động tăng CPI quý III/2020 còn một số nguyên nhân làm giảm CPI quý III/2020 so với cùng kỳ năm trước
 
(1) Trong quý III/2020, giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh 5 đợt tăng/giảm khác nhau giữa các loại xăng và dầu diezen. Bình quân quý III/2020 giá xăng dầu giảm 27,11% so với cùng kỳ năm trước.
 
(2) Tổng công ty Đường sắt Việt Nam giảm giá vé tàu hỏa, theo đó giá vé tàu hỏa quý III/2020 giảm 8,21% so với cùng kỳ năm trước. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhu cầu đi lại của người dân giảm làm cho giá vé máy bay quý III/2020 giảm 40,81% so với cùng kỳ năm trước.
 
(3) Dịch Covid-19 đã tác động mạnh đến ngành du lịch, nhu cầu du lịch của người dân giảm trong các tháng thực hiện giãn cách xã hội. Chỉ số giá dịch vụ du lịch trọn gói quý III/2020 giảm 3,41% so với cùng kỳ năm trước.
 
IV. TỔNG QUAN THỊ TRƯỜNG VÀ GIÁ CẢ 9 THÁNG NĂM 2020
 
Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2020 tăng 0,12% so với tháng trước, CPI bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 3,85% so với cùng kỳ năm 2019.
 
CPI bình quân 1 tháng trong 9 tháng, CPI 9 tháng so với cùng kỳ năm trước
từ
năm 2016 đến năm 2020
                                                                                                                                  Đơn vị tính: %
  Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
CPI bình quân 1 tháng trong 9 tháng 0,34 0,20 0,35 0,24 0,00
CPI 9 tháng so với cùng kỳ năm trước 2,07 3,79 3,57 2,50 3,85
 
1. Một số nguyên nhân làm tăng CPI trong 9 tháng năm 2020
(1) Tháng 1 và tháng 2 là tháng Tết nên nhu cầu mua sắm tăng cao, giá các mặt hàng lương thực bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 4,03% so với cùng kỳ năm trước góp phần làm cho CPI chung tăng 0,15%.
 
(2) Giá các mặt hàng thực phẩm bình quân 9 tháng năm 2020 tăng 14,31% so với cùng kỳ năm trước góp phần làm cho CPI tăng 3,05% chủ yếu do giá các mặt hàng thực phẩm tươi sống tăng cao trong dịp tết Nguyên đán, nhất là giá mặt hàng thịt lợn tăng cao do nguồn cung chưa được đảm bảo, giá thịt lợn tăng 70,55% so với cùng kỳ năm trước làm cho CPI chung tăng 2,39%. Theo đó, giá thịt chế biến tăng 24,58%; mỡ lợn tăng 75,66% so với cùng kỳ năm trước.
 
(3) Do ảnh hưởng từ dịch Covid-19 trên thế giới vẫn còn phức tạp, nhu cầu về một số loại vật tư y tế, thuốc phòng và chữa bệnh phục vụ trong nước và xuất khẩu ở mức cao nên giá các mặt hàng này có xu hướng tăng nhẹ. Bình quân 9 tháng năm 2020 giá thuốc và thiết bị y tế tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước.
 
(4) Giá các mặt hàng đồ uống, thuốc lá và các loại quần áo may sẵn tăng cao hơn trong dịp Tết do nhu cầu tăng, bình quân 9 tháng năm 2020 chỉ số giá các nhóm này lần lượt tăng 1,58% và 0,73% so với cùng kỳ năm 2019.
 
 2. Các yếu tố kiềm chế CPI
 
Bên cạnh các nguyên nhân làm tăng CPI, có một số nguyên nhân kiềm chế CPI 9 tháng năm 2020 như sau:
 
(1) Trong 9 tháng năm 2020 đã có 18 đợt điều hành giá xăng dầu trong nước, trong đó có 11 đợt điều chỉnh giảm giá xăng E5, 10 đợt điều chỉnh giảm giá đối với xăng A95 và 5 đợt tăng giá đối với cả hai mặt hàng xăng; 12 đợt điều chỉnh giảm, 5 đợt điều chỉnh tăng đối với các mặt hàng dầu diezen. Theo đó, giá xăng dầu trong nước bình quân 9 tháng năm 2020 giảm 22,12% so với cùng kỳ năm trước tác động làm CPI chung giảm 0,8%; Giá dầu hỏa bình quân 9 tháng năm 2020 giảm 30,1% so với cùng kỳ năm trước.
 
(2) Giá gas trong nước biến động theo giá gas thế giới. Bình quân 9 tháng năm 2020, giá gas thế giới đạt mức 393 USD/tấn giảm 19,15% so với cùng kỳ năm trước. Trong nước, từ đầu năm 2020, giá bán lẻ gas được điều chỉnh tăng 5 đợt (các tháng: 1, 5, 7, 8, 9), giảm 3 đợt (các tháng: 2, 3, 4), bình quân 9 tháng năm 2020 giá gas giảm 1,68% so với cùng kỳ năm trước.
 
(3) Nhu cầu du lịch giảm trong thời gian giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ do ảnh hưởng của dịch Covid-19 lần 1 và lần 2 nên bình quân 9 tháng năm 2020 giá du lịch trọn gói giảm 2,13% so với cùng kỳ năm trước.
 
(4) Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhu cầu đi lại của người dân giảm, so với cùng kỳ năm trước, giá vé máy bay bình quân 9 tháng năm 2020 giảm 33,68%; giá vé tàu hỏa giảm 1,57%.
 
(5) Chính phủ triển khai các gói hỗ trợ cho người dân và người sản xuất gặp khó khăn do dịch Covid-19. Cụ thể, gói hỗ trợ của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) triển khai giảm giá điện, tiền điện cho khách hàng với thời gian là từ tháng 4 đến tháng 6 năm 2020. Theo đó, giá điện tháng 5 (dựa trên sản lượng và doanh thu điện sinh hoạt từ ngày 01/4/2020 đến ngày 30/4/2020) và tháng 6 năm 2020 (dựa trên sản lượng và doanh thu điện sinh hoạt từ ngày 01/5/2020 đến ngày 31/5/2020) giảm lần lượt là 0,28% và 2,72% so với tháng trước.
 
(6) Trong 9 tháng năm 2020, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các Bộ, ngành và nhiều đơn vị liên quan khác thực hiện nhiều giải pháp để bảo đảm cân đối cung cầu, tăng cường tái đàn và nhập khẩu thịt lợn từ các nước có quan hệ thương mại bao gồm cả việc nhập khẩu lợn sống của Thái Lan.
 
(7) Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, dưới sự chỉ đạo sát sao của Chính phủ, các ngành các cấp đã tích cực triển khai thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ để ngăn chặn dịch bệnh và ổn định thị trường.
 
V. LẠM PHÁT CƠ BẢN
 
Lạm phát cơ bản (CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống; năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và dịch vụ giáo dục) 9 tháng năm 2020 tăng 2,59% so với cùng kỳ năm 2019.
 
Bình quân 9 tháng năm 2020 lạm phát chung có mức tăng cao hơn lạm phát cơ bản. Điều này phản ánh biến động giá, chủ yếu do giá lương thực, thực phẩm, giá xăng dầu tăng. Lạm phát cơ bản so cùng kỳ giảm dần từ mức 3,25% trong tháng 01/2020 về mức 1,97% trong tháng 9/2020. Điều này phản ánh kết quả của điều hành chính sách tiền tệ trong 9 tháng đầu năm.
 
Lạm phát cơ bản tháng 9 và 9 tháng từ năm 2016 đến năm 2020
                                                                                                                                     Đơn vị tính: %
  Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020
Lạm phát cơ bản tháng 9 so với tháng trước 0,07 0,08 0,14 0,16 -0,02
Lạm phát cơ bản tháng 9 so với cùng kỳ năm trước 1,85 1,32 1,61 1,96 1,97
Lạm phát cơ bản 9 tháng so với cùng kỳ năm trước 1,81 1,45 1,41 1,91 2,59
 
 
TỔNG CỤC THỐNG KÊ 

([1]) So với cùng kỳ năm trước, CPI bình quân 9 tháng năm 2016 tăng 2,07%; bình quân 9 tháng năm 2017 tăng 3,79%; bình quân 9 tháng năm 2018 tăng 3,57%; bình quân 9 tháng năm 2019 tăng 2,5%.
([2]) Chỉ số giá điện sinh hoạt,  nước sinh hoạt tháng báo cáo được tính trên doanh thu và sản lượng điện tiêu dùng của tháng trước tháng báo cáo, do đó chỉ số giá điện và nước hàng tháng sẽ phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác.

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top