Nâng cao năng suất lao động - bài toán khó tìm lời giải

08/11/2022 - 09:30 AM
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 sẽ trở thành nước đang phát triển có nền công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045 sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để đạt được những mục tiêu đó, việc nâng cao năng suất lao động được coi là một trong những yếu tố then chốt. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đang gặp khó với những bước cản mới xuất hiện trong bài toán nâng cao năng suất lao động.

Năm 2022, bức tranh toàn cảnh về năng suất lao động Việt Nam xuất hiện một vài điểm sáng, nhất là về lực lượng lao động, góp phần tăng năng suất lao động, phục hồi kinh tế và kỳ vọng tăng trưởng mạnh mẽ. Với sự trợ giúp của Chương trình phục hồi, phát triển kinh tế - xã hội theo Nghị quyết 11/NQ-CP ngày 30/01/2022 của Chính phủ cùng các giải pháp cụ thể như hỗ trợ người lao động quay lại làm việc, thị trường lao động Việt Nam cũng tiếp nối đà phục hồi. Tổng cục Thống kê cho biết, trong 3 quý năm 2022, tình hình kinh tế - xã hội nói chung và tình hình lao động việc làm nói riêng có nhiều chuyển biến tích cực. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của Việt Nam tính đến cuối tháng 9/2022 đạt 68,5% tổng dân số cả nước, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên 9 tháng năm 2022 đạt 51,6 triệu người, cao hơn 1,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, lao động từ 15 tuổi trở lên có việc làm trong 9 tháng năm 2022 là 50,5 triệu người, tăng 1,5 triệu người so với 9 tháng năm 2021. Số lao động có việc làm ghi nhận tăng ở cả khu vực thành thị và nông thôn cũng như ở nam giới và nữ giới, tuy nhiên sự tăng lên này chủ yếu ở khu vực thành thị và ở nam giới, số lao động có việc làm ở khu vực thành thị là 18,7 triệu người, tăng 1,1 triệu người và ở nam giới là 26,8 triệu người, tăng 806,9 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.

 
Nâng cao năng suất lao động bài toán khó tìm lời giải
Ảnh minh họa, nguồn Internet

Theo lĩnh vực, khu vực dịch vụ vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số có việc làm với tỷ trọng 39,0%, tương ứng là 19,7 triệu người, tăng 895,6 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng là 16,9 triệu người (chiếm 33,4%), tăng 726,8 nghìn người; lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất với 13,9 triệu người (chiếm 27,6%), giảm 162,2 nghìn người. Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của nền kinh tế, thu nhập bình quân hàng tháng của người lao động trong 9 tháng năm 2022 tăng mạnh, đạt 6,6 triệu đồng, tăng 12,4% so với cùng kỳ năm 2019 khi chưa xảy ra đại dịch.

Tuy nhiên, những điểm sáng đó vẫn chưa đủ để nâng năng suất lao động Việt Nam sánh bằng với các nước trong khu vực. Theo báo cáo năm 2020 của Tổ chức năng suất châu Á (APO), giai đoạn 2021-2020, tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam là 5,1%, cao hơn tốc độ tăng trung bình của ASEAN. Dù vậy, tốc độ tăng NSLĐ của Việt Nam vẫn thấp hơn một số nước châu Á như Trung Quốc (7%), Ấn Độ (6%). Mức tăng trưởng NSLĐ của Việt Nam trong giai đoạn trên tuy cao nhưng chưa đủ nhanh để thu hẹp khoảng cách với các quốc gia khác trong khu vực. Cụ thể: NSLĐ của Việt Nam vẫn thấp hơn 26 lần so với Singgapore, thấp hơn 7 lần so với Malaysia, thấp hơn 4 lần so với Trung Quốc, thấp hơn 3 lần so với Thái Lan và thấp hơn 2 lần so với Philippines.

Gần đây, Cơ quan Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JICA) đã đưa ra báo cáo nghiên cứu tổng thể về thực trạng phát triển nguồn nhân lực công nghiệp Việt Nam từ tháng 9/2021 đến tháng 5/2022. Báo cáo nhận định, NSLĐ của Việt Nam đang đối mặt với xu hướng giảm và đình trệ trong thập kỷ qua; đồng thời JICA đánh giá, NSLĐ của Việt Nam mặc dù đã được cải thiện những vẫn thấp so với các nước trong khu vực. Cụ thể năm 2019, năng suất lao động của Việt Nam đạt 13,817 USD, chỉ bằng 8,7% của Singapore, 10,3% của Brunei, 23,2% của Malaysia, 41,2% của Thái Lan, 56,6% của Indonesia và 63,3% của Philippines. Trong cả giai đoạn 2010-2019, NSLĐ của Việt Nam chỉ cao hơn Timor-Leste, Campuchia và Myanmar.

Số liệu của Tổng cục Thống kê cho biết, năng suất lao động của toàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2021 ước tính đạt 171,3 triệu đồng/lao động (tương đương 7.398 USD/lao động, tăng 538 USD so với năm 2020). NSLĐ của Việt Nam tiếp tục tăng nhưng tốc độ đuổi kịp của Việt Nam với các nền kinh tế thu nhập cao đã bị chậm lại, khiến Việt Nam càng phải nỗ lực hơn nữa để rút ngắn khoảng cách với các nước. Đến nay, điều này đang dần bộc lộ rõ những khó khăn nhất định, nhất là về lực lượng lao động - yếu tố chính quyết định đến năng suất lao động Việt Nam. Bởi, sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn dựa chủ yếu là đóng góp của yếu tố vốn và lao động với mức đóng góp bình quân giai đoạn 2016-2020 là 54,28%, trong đó đóng góp của yếu tố vốn vào tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn này cao hơn đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP).

Theo nghiên cứu, sự chuyển dịch lao động kém năng suất từ các hoạt động nông nghiệp sang công nghiệp, xây dựng và dịch vụ là một yếu tố chính góp phần vào tăng trưởng năng suất ở Việt Nam trong hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, đóng góp cận biên và tăng trưởng NSLĐ từ quá trình chuyển đổi này đang dần cạn. Mặt khác, lực lượng lao động của Việt Nam đang có nguy cơ mất dần lợi thế và có thể là bước cản đối với sự gia tăng NSLĐ. Bởi, nguyên nhân chính làm cho NSLĐ bình quân của Việt Nam thấp là do chất lượng nguồn lao động của Việt Nam còn thấp. Bên cạnh đó, do thiếu sự gắn kết giữa đào tạo và thực hành, mặt bằng chung lao động Việt Nam còn đang thiếu và yếu về kỹ năng lao động. Theo xếp hạng chỉ số Năng lực cạnh tranh toàn cầu 4.0 (GCI 4.0), kỹ năng của lao động Việt Nam chỉ đứng ở nhóm trung bình với vị trí 93/141 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia đánh giá và chỉ đứng ở vị trí thứ 7 trong ASEAN9.

Minh chứng cho mối quan hệ của trình độ lao động với NSLĐ được Tổng cục Thống kê chỉ ra đó là: Theo giá so sánh, năng suất lao động năm 2021 tăng 4,71% do trình độ của người lao động được cải thiện; tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2021 đạt 26,1%, cao hơn mức 25,3% của năm 2020. Mặc dù vậy, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam từ trước đến nay vẫn luôn là vấn đề đáng bàn. Theo thống kê, lực lượng lao động đã qua đào tạo từ trình độ“Sơ cấp” trở lên tính đến hết tháng 9/2022 ước tính là 13,5 triệu người, chỉ chiếm 26,2% tổng số lực lượng lao động.

Trong khi đó, lao động có việc làm phi chính thức dù đã giảm đáng kể ở Việt Nam trong 15 năm qua nhưng vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong số lao động có việc làm. Tỷ lệ phi chính thức cao nghĩa là hầu hết người lao động Việt Nam kiếm sống dựa vào các hoạt động có năng suất thấp, tạo ra thu nhập thấp và không có bất kỳ sự bảo hộ nào. Tỷ lệ lao động có việc làm phi chính thức phi nông nghiệp của cả nước là 55,3%, nếu bao gồm cả lao động khu vực nông nghiệp thì tỷ lệ này là 65,9%. Số lao động làm công việc tự sản tự tiêu là gần 4,5 triệu người, cao hơn 0,2 triệu người so với cùng kỳ năm trước. Số lao động này chủ yếu ở khu vực nông thôn. Trong tổng số hơn 4,5 triệu người là lao động sản xuất tự sản tự tiêu, gần 2,4 triệu người đang trong độ tuổi lao động (chiếm 52,2%). Hầu hết tất cả lao động sản xuất tự sản tự tiêu đều không có bằng cấp, chứng chỉ. Trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng đòi hỏi, yêu cầu cao về tay nghề, kỹ năng cũng như mở cửa nền kinh tế sau đại dịch Covid-19, cơ hội để nhóm lao động này có một công việc trên thị trường lao động là rất khó khăn, đồng thời cũng là bước cản đối với việc tăng NSLĐ.

Mặt khác, Việt Nam đang bước qua thời kỳ “dân số vàng” và tiến tới già hóa dân số với tốc độ khá nhanh so với các nước phát triển, đồng nghĩa với việc Việt Nam đang phải đối mặt với tình trạng già hóa lao động được dự kiến sẽ gây những tác động không nhỏ tới lực lượng lao động trong tương lai. Giai đoạn 2009-2019, dân số cao tuổi của Việt Nam đã tăng từ 7,45 triệu người lên 11,41 triệu người, tương ứng với tăng từ 8,68% lên 11,86% tổng dân số; dân số cao tuổi tăng thêm chiếm gần 40% tổng dân số tăng thêm trong giai đoạn. Trong đó, người cao tuổi sơ lão (60-69 tuổi) có tốc độ tăng cao nhất, tiếp đó là nhóm người cao tuổi đại lão (từ 80 tuổi trở lên). Tổng cục Thống kê dự báo, theo giả định mức sinh trung bình, số lượng người cao tuổi sẽ đạt 17,28 triệu người (chiếm 16,5% tổng dân số) vào năm 2069, và đạt 31,69 triệu người (chiếm 27,11% tổng dân số) vào năm 2069. Dự báo dân số theo giả định mức sinh trung bình cũng cho thấy, tỷ lệ người 65 tuổi trở lên sẽ đạt 14,17% tổng dân số vào năm 2036 và đó là lúc Việt Nam sẽ bước vào giai đoạn dân số già.

Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi lao động vẫn còn cao, nhất là đối với thanh niên trẻ. Tính đến tháng 9/2022, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động là gần 1,08 triệu người, chiếm 2,35% tổng số dân trong độ tuổi, nhưng số thanh niên trẻ có độ tuổi từ 15-24 thất nghiệp lại chiếm tới 37,5% tổng số người thất nghiệp từ 15 tuổi trở lên. Đây có thể coi là một sự lãng phí nguồn lực, nhất là khi những đối tượng này đang ở trong độ tuổi lao động tốt nhất.

Có thể thấy một nghịch lý rằng, khi tiền lương tăng, thu nhập tăng lên, đời sống người lao động được đảm bảo nhưng đồng thời Việt Nam sẽ mất lợi thế so sánh hiện tại về lao động giá rẻ trong các ngành đòi hỏi kỹ năng thấp và thâm dụng lao động. Hay nói cách khác, Việt Nam sẽ mất đi lợi thế về nguồn lao động giá rẻ mà trước nay là một trong những điểm thu hút các nhà đầu tư. Thêm vào đó, chính sách an sinh và bảo hiểm của thị trường lao động có độ bao phủ thấp, chưa đạt hiệu quả cao. Những nhân tố đó cũng góp phần làm giảm NSLĐ.

Ngoài ra, quy mô doanh nghiệp cũng là một trong những yếu tố trọng tâm cần được chú ý đến khi muốn cải thiện năng suất lao động. Theo kết quả Tổng điều tra kinh tế năm 2021 do Tổng cục Thống kê thực hiện, tính đến thời điểm 31/12/2020, cả nước có 684,26 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động có kết quả sản xuất kinh doanh, thu hút 14,7 triệu lao động làm việc. Tuy nhiên, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, thậm chí doanh nghiệp siêu nhỏ theo quy mô vốn của Việt Nam chiếm tỷ lệ rất lớn với 489,37 nghìn doanh nghiệp có vốn đăng ký dưới 10 tỷ đồng, tương đương 71,51%. Những doanh nghiệp này thường có quy mô nguồn vốn nhỏ, sử dụng ít lao động, doanh thu thấp, chất lượng nhân sự, người lao động của doanh nghiệp cũng như chi phí đào tạo lao động chưa cao. Giai đoạn 2016-2020, tốc độ tăng lao động luôn thấp hơn tốc độ tăng số lượng doanh nghiệp đã cho thấy số lượng doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tăng nhanh hơn số lượng doanh nghiệp vừa và lớn. Điều này cũng dẫn đến quy mô lao động bình quân doanh nghiệp ngày càng giảm, từ 27,7 lao động năm 2016 xuống còn 21,5 lao động năm 2020.

Nhìn chung, nguồn nhân lực luôn là một yếu tố tạo nên sự thành công của mọi tổ chức, quốc gia. Đây là nguồn lực quan trọng nhất, quyết định năng suất, chất lượng, hiệu quả sử dụng các nguồn lực khác trong hệ thống các nguồn lực. Việt Nam đang có lợi thế với lực lượng lao động dồi dào và cơ cấu lao động trẻ. Tuy nhiên, nhân lực còn yếu về chất lượng, thiếu hụt lao động có tay nghề cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động và hội nhập; khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu của thị trường lao động ngày càng lớn, lao động thiếu năng động và sáng tạo, tác phong chuyên nghiệp… Vì vậy để giải quyết bài toán về nâng cao NSLĐ, Việt Nam cần chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, về lâu dài là đảm bảo quy mô, cơ cấu và chất lượng dân số. Còn trước mắt là đào tạo, nâng cao trình độ, tay nghề, kỹ năng làm việc cho lực lượng lao động đang tham gia thị trường lao động.

Bên cạnh đó, chuyển đổi số, xây dựng nền kinh tế số được coi là giải pháp đột phá đối với tăng NSLĐ, được Chính phủ dành sự quan tâm đặc biệt trong những năm trở lại đây. Theo nghiên cứu của trường Đại học Kinh tế quốc dân, giai đoạn 2020-2030, nếu tiến trình chuyển đổi số diễn ra như kỳ vọng, dự đoán trung bình mỗi năm, chỉ riêng kinh tế số có thể đóng góp từ 7-16,5% trong 100% tốc độ tăng trưởng NSLĐ tổng thể. Qua đó có thể thấy, đóng góp của kinh tế số là rất quan trọng cho việc phát triển hiệu quả nền kinh tế, cải thiện và tăng NSLĐ. Chính vì vậy, Việt Nam cần gấp rút đẩy nhanh và mạnh hơn nữa tiến trình chuyển đổi số quốc gia, đầu tư thích đáng, thúc đẩy hợp tác công tư trong chuyển đổi số dưới sự dẫn dắt của Chính phủ để tận dùng nguồn lực mạnh mẽ có thể làm tăng NSLĐ nhanh chóng này./.
TS. Cao Thị Hà
Học viện Hành chính quốc gia

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top