Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022

29/05/2022 - 10:35 AM
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản
 
Sản xuất nông nghiệp tháng Năm với nhiệm vụ trọng tâm là tập trung chăm sóc lúa đông xuân, phòng trừ sâu bệnh hại cây trồng tại các địa phương phía Bắc; chăm sóc, thu hoạch lúa, hoa màu vụ đông xuân và xuống giống lúa hè thu tại các địa phương phía Nam. Sản xuất lâm nghiệp ổn định, các địa phương tiếp tục trồng mới rừng tập trung theo kế hoạch; thời tiết trong tháng thuận lợi cho hoạt động khai thác gỗ. Các sản phẩm thủy sản trọng điểm như cá tra, tôm thẻ chân trắng có mức tăng trưởng ấn tượng bởi nhu cầu thị trường cao và giá xuất khẩu tốt. Hoạt động khai thác biển tiếp tục gặp khó khăn do giá nhiên liệu tăng cao.
a) Nông nghiệp
Lúa đông xuân
 
Vụ lúa đông xuân năm 2022 cả nước gieo cấy được 2.991,8 nghìn ha, bằng 99,5% vụ đông xuân năm trước, trong đó các địa phương phía Bắc đạt 1.077,6 nghìn ha, bằng 99,2%; các địa phương phía Nam đạt 1.914,2 nghìn ha, bằng 99,7%. Diện tích lúa đông xuân năm nay giảm 15 nghìn ha so với vụ đông xuân năm trước, trong đó: Các địa phương phía Bắc giảm 9,2 nghìn ha, các địa phương phía Nam giảm 5,8 nghìn ha chủ yếu do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp phục vụ quá trình đô thị hóa và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ, chuyển sang trồng cây hàng năm, cây lâu năm hoặc nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Một số địa phương có diện tích lúa đông xuân giảm nhiều là Hà Nội giảm 1,4 nghìn ha; Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Ninh, Nam Định mỗi địa phương đều giảm gần 1 nghìn ha.
 
Ở phía Bắc, năng suất gieo trồng lúa vụ đông xuân ước đạt 62,6 tạ/ha, giảm 1,8 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước do thời tiết nông vụ năm nay thất thường. Năng suất giảm cùng với diện tích gieo trồng giảm nên sản lượng lúa đông xuân ước đạt 6,74 triệu tấn, giảm 258,6 nghìn tấn.
 
Ở phía Nam, tính đến trung tuần tháng Năm đã cơ bản thu hoạch xong lúa đông xuân. Theo báo cáo từ các địa phương, năng suất lúa đông xuân của vùng năm nay ước đạt 69,3 tạ/ha, giảm 1,7 tạ/ha so với vụ đông xuân năm trước chủ yếu do giá phân bón tăng cao nên nông dân hạn chế đầu tư cùng với đó là ảnh hưởng của mưa trái mùa trên diện rộng từ tháng trước; sản lượng ước đạt 13,3 triệu tấn,
 
giảm 358,9 nghìn tấn. Trong đó, vùng đồng bằng sông Cửu Long đã kết thúc vụ lúa đông xuân 2022 với diện tích gieo cấy đạt 1.506,9 nghìn ha, giảm 12,7 nghìn ha; năng suất đạt 70,8 tạ/ha, giảm 1,5 tạ/ha; sản lượng đạt 10,67 triệu tấn, giảm 314,7 nghìn tấn.
 
Lúa hè thu
 
Cùng với thu hoạch lúa đông xuân, đến trung tuần tháng Năm, các địa phương phía Nam đã gieo trồng được 1.154,3 nghìn ha lúa hè thu, bằng 105,3% cùng kỳ năm trước, trong đó vùng Đồng bằng sông Cửu Long đạt 1.062,7 nghìn ha, bằng 103,8%. Tiến độ gieo trồng lúa hè thu năm nay nhanh hơn so với cùng kỳ do vụ lúa đông xuân gieo trồng và thu hoạch theo khung thời vụ sớm hơn năm trước. Hiện lúa hè thu đang ở giai đoạn đẻ nhánh đến chắc xanh, cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt. Mùa mưa năm nay đến sớm hơn mọi năm nên các địa phương tập trung sản xuất lúa hè thu, tranh thủ làm đất xuống giống để tránh khô hạn có thể xảy ra vào cuối mùa vụ. Đối với vùng an toàn nguồn nước tưới, sản xuất tập trung canh tác đúng lịch thời vụ; vùng có nguy cơ hạn hán, không đủ lượng nước cho cây trồng vào cuối vụ, cần chuyển từ cơ cấu sản xuất 3 vụ sang 2 vụ lúa/năm, hoặc bố trí lại thời vụ sản xuất phù hợp và áp dụng kỹ thuật canh tác để hạn chế khô hạn gây hại cây lúa.
 
Cây hàng năm
 
Cùng với việc gieo cấy lúa, các địa phương trên cả nước đang tiến hành gieo trồng cây hoa màu. Diện tích trồng rau đậu các loại tăng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân. Tuy nhiên, diện tích khoai lang và đậu tương, lạc tiếp tục giảm so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do hiệu quả kinh tế không cao. Nếu trong thời gian tới, diện tích nhóm cây trồng này tiếp tục giảm sẽ ảnh hưởng đến việc chủ động nguồn nguyên liệu trong nước để sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm
(Tính đến trung tuần tháng 5/2022)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022
Chăn nuôi
 
Chăn nuôi trâu, bò trong tháng ổn định. Chăn nuôi lợn và gia cầm hồi phục do dịch bệnh kiểm soát tốt, người chăn nuôi chủ động được nguồn giống và nhu cầu thị trường tăng cao. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi vẫn gặp khó khăn do giá thức ăn ở mức cao, đặc biệt đối với hộ chăn nuôi quy mô nhỏ.
Hình 2. Tốc độ tăng số lượng gia súc, gia cầm cuối tháng 5/2022 so với cùng thời điểm năm trước
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 1
Tính đến ngày 23/5/2022, cả nước không còn dịch tai xanh và dịch lở mồm long móng; dịch cúm gia cầm còn ở Tiền Giang; dịch tả lợn châu Phi còn ở 23 địa phương và dịch viêm da nổi cục còn ở 7 địa phương chưa qua 21 ngày.
 
b) Lâm nghiệp
 
Tháng 5/2022, có mưa trên diện rộng ở nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh thuộc khu vực Bắc Trung Bộ, các chủ rừng tích cực trồng rừng mới. Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng Năm ước đạt 27,5 nghìn ha, tăng 3,1­% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7,7 triệu cây, tăng 6,4%. Gỗ đã đến tuổi thu hoạch, thời tiết trong tháng thuận lợi cho việc khai thácvận chuyển, do đó sản lượng gỗ khai thác trong tháng tăng phục vụ tốt nhu cầu chế biến gỗ đang tăng của các cơ sở chế biến tại các địa phương. Sản lượng gỗ khai thác tháng Năm đạt 1.885,8 nghìn m3, tăng 7% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng củi khai thác đạt 1,6 triệu ste, giảm 2,4%. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác trong tháng cao như: Quảng Nam 225,7 nghìn m3, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước; Quảng Ngãi 189,4 nghìn m3, tăng 6,1%; Nghệ An 180,2 nghìn m3, tăng 8,9%; Quảng Trị 132,0 nghìn m3, tăng 11,2%; Phú Thọ 101,1 m3, tăng 9,3%.
 
Trong 5 tháng đầu năm nay với điều kiện thời tiết thuận lợi, lĩnh vực lâm nghiệp đạt nhiều kết quả tích cực: Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước đạt 93,5 nghìn ha, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 42,4 triệu cây, tăng 6,7%; sản lượng gỗ khai thác đạt 6,3 triệu m3, tăng 5,3%; sản lượng củi khai thác đạt 7,9 triệu ste, tăng 1,3%.
 
Trong tháng Năm[1], cả nước có 134,8 ha rừng bị thiệt hại, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 9,5 ha, giảm 81,2%; diện tích rừng bị chặt phá là 125,3 ha, tăng 54%. Các tỉnh có diện tích rừng bị chặt phá cao trong tháng là: Bắc Kạn 21,3 ha, Kon Tum 14,6 ha, Gia Lai 9,3 ha, Điện Biên 8,1 ha, Cao Bằng 5,3 ha. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, diện tích rừng bị thiệt hại là 496,7 ha, giảm 17,8% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Diện tích rừng bị cháy là 23,2 ha, giảm 86,6%; diện tích rừng bị chặt phá là 473,5 ha, tăng 9,6%.
 
c) Thủy sản
 
Sản lượng thủy sản tháng Năm ước đạt 756,9 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 544 nghìn tấn, tăng 2,2%; tôm đạt 98,3 nghìn tấn, tăng 8,6%; thủy sản khác đạt 114,6 nghìn tấn, tăng 1,3%.
 
Ước tính tháng 5 năm 2022, sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 400,9 nghìn tấn, tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 268,2 nghìn tấn, tăng 5,4%; tôm đạt 85,7 nghìn tấn, tăng 10,2%; thủy sản khác đạt 47 nghìn tấn, tăng 4,2%.
 
Tính tới trung tuần tháng Năm, giá cá tra nguyên liệu tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long giữ mức giá ổn định so với trước dịp lễ 30/4[2]. Xuất khẩu cá tra sang các thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc... khả quan do mức giá cá tra xuất khẩu của các doanh nghiệp chế biến trong nước cạnh tranh tốt và mặt hàng cá tra là nguồn thay thế cho một số phân khúc cá thịt trắng bthiếu hụt có nguồn cung từ Nga. Các doanh nghiệp chế biến trong nước tận dụng cơ hội để gia tăng các đơn hàng xuất khẩu khi giá xuất khẩu bình quân sản phẩm cá tra phi lê đông lạnh sang hầu hết các thị trường tăng mạnh[3]. Thời tiết trong tháng thuận lợi cho việc ương thả giống. Bên cạnh đó, giá cá tra giống có xu hướng giảm sau thời gian tăng mạnh[4]. Sản lượng cá tra trong tháng ước đạt 134,1 nghìn tấn, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm nguyên liệu trong tháng tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long ổn định so với tháng trước[5]. Tôm thẻ chân trắng đang bước vào vụ thu hoạch, mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng thâm canh, siêu thâm canh hai giai đoạn, ứng dụng công nghệ cao phát triển tích cực đã mang tới hiệu quả kinh tế cao. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Năm ước tính đạt 57,5 nghìn tấn, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 22,2 nghìn tấn, giảm 0,4%.
 
Sản lượng thủy sản khai thác tháng 5/2022 ước đạt 356 nghìn tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 275,8 nghìn tấn, giảm 0,7%; tôm đạt 12,6 nghìn tấn, giảm 0,8%; thủy sản khác đạt 67,6 nghìn tấn, giảm 0,6%. Tháng Năm là tháng bắt đầu vụ cá Nam, tuy nhiên ngư dân tiếp tục gặp khó khăn do giá nhiên liệu tăng cao làm tăng chi phí các chuyến đánh bắt thủy sản, đặc biệt đối với các tàu đánh bắt xa bờ. Sản lượng khai thác biển trong tháng ước đạt 341,3 nghìn tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ năm trước.
Hình 3. Sản lượng thủy sản nuôi trồng và khai thác
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, sản lượng thủy sản ước đạt 3.356,9 nghìn tấn, tăng 2,3% so với cùng kỳ năm trước do nuôi trồng thủy sản đạt kết quả tích cực, nhất là các sản phẩm thủy sản trọng điểm như cá tra, tôm thẻ chân trắng có sản lượng tăng cao liên tiếp từ tháng 3/2022. Sản lượng thủy sản nuôi trồng 5 tháng đầu năm ước đạt 1.769,3 nghìn tấn, tăng 5,5%; sản lượng khai thác đạt 1.587,6 nghìn tấn, giảm 1% (trong đó, sản lượng khai thác biển đạt 1.518,6 nghìn tấn, giảm 1%).
 
2. Sản xuất công nghiệp
 
Sản xuất công nghiệp tháng Năm tiếp tục xu hướng phục hồi, ước tính tăng 4% so với tháng trước và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước do dịch Covid-19 được kiểm soát, các doanh nghiệp đã thích ứng với bối cảnh mới, khắc phục khó khăn để phục hồi và mở rộng sản xuất kinh doanh. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước[6].
 
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 5/2022 ước tính tăng 4% so với tháng trước[7] và tăng 10,4% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, so với cùng kỳ năm trước, ngành chế biến, chế tạo tăng 12,1%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 5,5%; ngành khai khoáng tăng 4,2%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,4%.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, IIP ước tính tăng 8,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 10%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,2% (cùng kỳ năm 2021 tăng 12,5%), đóng góp 7,2 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 5,5%, đóng góp 0,5 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 4,1%, đóng góp 0,6 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,5%, đóng góp 0,04 điểm phần trăm trong mức tăng chung.
 
Chỉ số sản xuất 5 tháng đầu năm 2022 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất trang phục tăng 22%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,4%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 16,8%; khai thác than cứng và than non, sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng cùng tăng 13,5%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 11,6%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 11,5%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 11,2%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 13,8%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 9,8%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 3%; sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế giảm 2,6%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên, khai khoáng khác cùng giảm 1,7%.

 Biểu 1. Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 5 tháng đầu năm các năm 2018-2022
so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm

                                                                                                                               %

 

2018

2019

2020

2021

2022

 
Sản xuất trang phục

 

10,5

 
7,2

 
-6,8

 
9,1

 
22,0

Sản xuất thiết bị điện

11,4

10,6

-6,0

13,5

20,4

Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu

14,7

-0,7

26,0

-0,1

16,8

Khai thác than cứng và than non

9,3

12,5

4,5

-4,5

13,5

Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan

9,8

7,7

-2,9

11,5

13,5

Sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học

18,3

3,1

7,4

15,4

11,6

Sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn

(trừ máy móc, thiết bị)

17,2

4,1

2,6

9,9

11,5

Sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu

5,8

11,7

-7,6

11,5

11,2

Khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên

-3,1

-3,3

-11,1

-10,2

-1,7

Khai khoáng khác

-1,0

-0,4

-2,0

3,1

-1,7

Sản xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế

6,6

82,9

11,4

0,8

-2,6

Thoát nước và xử lý nước thải

11,0

5,3

0,4

-2,2

-3,0

Sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị

-2,5

9,5

-13,0

-0,2

-9,8

Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic

2,3

13,8

1,3

10,8

-13,8

Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 61 địa phương và giảm ở 02 địa phương trên cả nước. Một số địa phương có chỉ số IIP tăng cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo phục hồi mạnh mẽ khi dịch bệnh được kiểm soát[8]. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chưa lấy lại đà tăng trưởng cao như thời điểm trước khi xảy ra dịch bệnh[9].

Hình 4. Tốc độ tăng/giảm IIP 5 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương (%)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 2

Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 5 tháng đầu năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Linh kiện điện thoại tăng 21,6%; phân u rê tăng 17,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 14,5%; than sạch tăng 13,4%; thủy hải sản chế biến tăng 11,4%; bia tăng 10,5%; ô tô tăng 10,3%; bột ngọt tăng 9,5%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Ti vi giảm 18,2%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 9,8%; điện thoại di động giảm 7,1%; thức ăn cho thủy sản giảm 7%; xăng, dầu giảm 3,7%; sắt, thép thô giảm 3,5%; dầu mỏ thô khai thác giảm 2%; khí đốt thiên nhiên dạng khí giảm 1,4%.
 
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/5/2022 tăng 1,4% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 4,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 4,5%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,1% và giảm 1,3%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,8% và tăng 6%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,2% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 2,2% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,5% và tăng 4,8%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 1,2%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải không đổi và tăng 2,4%.
 
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[10]
 
Thực hiện nhất quán phương châm “Sống chung an toàn với dịch Covid-19”, đồng thời đẩy mạnh thực hiện Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội, kinh tế Việt Nam đang phục hồi khá nhanh và khởi sắc trên nhiều lĩnh vực. Trong 5 tháng đầu năm 2022, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2021; số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 57,8% và số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể giảm 14%.
 
Trong tháng Năm, cả nước có 13,4 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký gần 125,8 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký 89,5 nghìn lao động, giảm 10,9% về số doanh nghiệp, giảm 23,4% về vốn đăng ký và giảm 14,6% về số lao động so với tháng 4/2022[11]. So với cùng kỳ năm trước, tăng 15,2% về số doanh nghiệp, giảm 16,5% về số vốn đăng ký và tăng 24% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 9,4 tỷ đồng, giảm 14% so với tháng trước và giảm 27,5% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có 5.207 doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 26% so với tháng trước và tăng 6,4% so với cùng kỳ năm 2021.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, cả nước có 63 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký là 761 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký 437,7 nghìn lao động, tăng 12,9% về số doanh nghiệp, giảm 2,2% về vốn đăng ký và tăng 6,1% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 5 tháng đầu năm 2022 đạt 12,1 tỷ đồng, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm 2021. Nếu tính cả 1.684,3 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 22,1 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động thì tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 5 tháng đầu năm 2022 là 2.445,3 nghìn tỷ đồng, tăng 39,5% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 35,6 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 57,8% so với cùng kỳ năm 2021), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 5 tháng đầu năm 2022 lên 98,6 nghìn doanh nghiệp, tăng 25,8% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 19,7 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
 
Theo khu vực kinh tế, 5 tháng đầu năm nay có 913 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm trước; gần 16,2 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 5,9%; 45,9 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 15,8%.
 

Hình 5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 3

Cũng trong tháng Năm, có 4.964 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 7,9% so với tháng trước và tăng 46% so với cùng kỳ năm 2021; có 4.186 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 11,3% và giảm 1,1%; có 1.339 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 9,1% và tăng 4,7%.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn 45,9 nghìn doanh nghiệp, tăng 44,2% so với cùng kỳ năm trước; 19 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, giảm 4,8%; 6,9 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, giảm 14%. Bình quân một tháng có 14,4 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.

Biểu 2. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể 5 tháng đầu năm 2022
phân theo một số lĩnh vực hoạt động

 

Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp)

Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)

Thành lập mới

Giải thể

Thành lập mới

Giải thể

Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy

22.146

2.508

19,5

-14,7

Công nghiệp chế biến chế tạo

8.190

760

13,8

-17,5

Xây dựng

7.156

565

0,5

-22,0

Kinh doanh bất động sản

4.520

425

29,0

3,2

Vận tải kho bãi

3.212

265

22,3

-28,4

Dịch vụ lưu trú và ăn uống

2.458

352

22,4

-22,6

Sản xuất phân phối, điện, nước, gas

493

174

-25,0

3,0

 

4. Đầu tư

Trong tháng Năm, vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước được các Bộ, ngành và địa phương nỗ lực triển khai, giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh thực hiện trong bối cảnh các hoạt động sản xuất kinh doanh trên đà hồi phục nhanh. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước tăng 9,5% so với cùng kỳ. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2022 ước tính đạt 7,71 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 05/2022 ước đạt 38,1 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt 7 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8%; vốn địa phương quản lý 31,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,4%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 147,8 nghìn tỷ đồng, bằng 27,7% kế hoạch năm và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 26,9% và tăng 15,6%). Cụ thể:

- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý đạt 25,3 nghìn tỷ đồng, bằng 24,9% kế hoạch năm và tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 24,7% và tăng 28%).

Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước
5 tháng đầu năm 2022 phân theo Bộ, ngành

Tỷ đồng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 1 

- Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý đạt 122,5 nghìn tỷ đồng, bằng 28,4% kế hoạch năm và tăng 8,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 27,3% và tăng 13,4%), trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 80,5 nghìn tỷ đồng, bằng 26,9% và tăng 4,1% so với cùng kỳ năm 2021;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 36,1 nghìn tỷ đồng, bằng 31,1% và tăng 19,6%;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 5,9 nghìn tỷ đồng, bằng 37,3% và tăng 8,1%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2022 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

Hình 7. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2022 của một số địa phương

 

Tỷ đồng

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 2

 Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[12] tính đến ngày 20/5/2022 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 11,71 tỷ USD, giảm 16,3% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 8. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam
tính đến ngày 20/5 các năm 2018-2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 3

 - Vốn đăng ký cấp mới có 578 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 4,12 tỷ USD, giảm 5,7% về số dự án và giảm 53,4% về số vốn đăng ký so với cùng kỳ năm trước; trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 2,68 tỷ USD, chiếm 65% tổng vốn đăng ký cấp mới; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 834,7 triệu USD, chiếm 20,3%; các ngành còn lại đạt 604,9 triệu USD, chiếm 14,7%.

Trong số 47 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2022, Đan Mạch là nhà đầu tư lớn nhất với 1,32 tỷ USD, chiếm 32,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 798,4 triệu USD, chiếm 19,4%; Trung Quốc 505,3 triệu USD, chiếm 12,3%; Nhật Bản 428,7 triệu USD, chiếm 10,4%; Đài Loan 296,5 triệu USD, chiếm 7,2%.

 - Vốn đăng ký điều chỉnh có 395 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 5,61 tỷ USD, tăng 45,4% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,39 tỷ USD, chiếm 65,7% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,94 tỷ USD, chiếm 20%; các ngành còn lại đạt 1,4 tỷ USD, chiếm 14,3%.

- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 1.339 lượt với tổng giá trị góp vốn 1,98 tỷ USD, tăng 51,6% so cùng kỳ năm trước. Trong đó có 630 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 973,5 triệu USD và 709 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1.009,1 triệu USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,05 tỷ USD, chiếm 53,1% giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 427,3 triệu USD, chiếm 21,6%; ngành còn lại 502,4 triệu USD, chiếm 25,3%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 5 tháng đầu năm 2022 ước tính đạt 7,71 tỷ USD, tăng 7,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 5,86 tỷ USD, chiếm 76,1% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 686,1 triệu USD, chiếm 8,9%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 639,8 triệu USD, chiếm 8,3%.

Hình 9. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện
5 tháng đầu năm
các năm 2018-2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 4

 

Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 5 tháng đầu năm 2022 có 43 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 293,4 triệu USD, gấp hơn 2 lần so với cùng kỳ năm trước[13]; có 14 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 44,9 triệu USD, giảm 88,9%[14].
Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 338,3 triệu USD, giảm 38,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 204,4 triệu USD, chiếm 60,4% tổng vốn đầu tư; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm đạt 35,3 triệu USD, chiếm 10,4%; khai khoáng đạt 33,5 triệu USD; chiếm 9,9 %.

Trong 5 tháng đầu năm 2022 có 19 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Lào là nước dẫn đầu với 64,5 triệu USD, chiếm 19,1% tổng vốn đầu tư; Xin-ga-po 38,9 triệu USD, chiếm 11,5%; Hoa Kỳ 37,3 triệu USD, chiếm 11%; Đức, Hà Lan, Pháp cùng đạt 34,7 triệu USD, cùng chiếm 10,3%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[15]

Thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2022 tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2021, đảm bảo các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn cũng như chi trả kịp thời cho các đối tượng theo quy định.

Hình 10. Thu, chi ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 4

Thu ngân sách Nhà nước:

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 5/2022 ước đạt 126,7 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2022 đạt 806,4 nghìn tỷ đồng, bằng 57,1% dự toán năm và tăng 18,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa tháng 5/2022 ước đạt 96,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2022 đạt 646 nghìn tỷ đồng, bằng 54,9% dự toán năm và tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu từ dầu thô tháng 5/2022 ước đạt 5,2 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2022 đạt 29,4 nghìn tỷ đồng, bằng 104,4% dự toán năm và tăng 90,9% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 5/2022 ước đạt 25,1 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2022 đạt 130,8 nghìn tỷ đồng, bằng 65,7% dự toán năm và tăng 29,7% so với cùng kỳ năm trước.

Chi ngân sách Nhà nước:

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 5/2022 ước đạt 128,1 nghìn tỷ đồng; lũy kế 5 tháng đầu năm 2022 ước đạt 589,1 nghìn tỷ đồng, bằng 33% dự toán năm và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên 5 tháng đầu năm 2022 đạt 428,4 nghìn tỷ đồng, bằng 38,6% dự toán năm và tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 115,9 nghìn tỷ đồng, bằng 22% và tăng 13,6%; chi trả nợ lãi 43,6 nghìn tỷ đồng, bằng 42% và giảm 8,3%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Đời sống sinh hoạt của người dân trở về trạng thái bình thường của những năm trước dịch Covid-19, nhu cầu du lịch tăng mạnh cùng với sự kiện SEA Games 31 vừa được tổ chức tại Việt Nam làm cho hoạt động thương mại, dịch vụ trong tháng Năm trở nên nhộn nhịp và sôi động. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú, ăn uống và dịch vụ du lịch lữ hành phục hồi mạnh mẽ với doanh thu tăng lần lượt là 69,3% và 324,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2022 ước đạt 477,3 nghìn tỷ đồng, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 22,6% so với cùng kỳ năm trước, đạt quy mô và tốc độ tăng cao hơn so với cùng kỳ các năm trước khi xảy ra dịch Covid-19[16]. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 2.257,1 nghìn tỷ đồng, tăng 9,7% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3% (cùng kỳ năm 2021 giảm 1%).

Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Nghìn tỷ đồng

 

Ước tính

tháng 5
năm 2022

Ước tính
5 tháng
năm 2022

Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)

 

 

Tháng 5
năm 2022

5 tháng
năm 2022

 

Tổng số

         477,3

        2.257,1

      22,6

        9,7

Bán lẻ hàng hóa

     375,4

        1.806,7

      18,3

        9,8

Dịch vụ lưu trú, ăn uống

           55,1

           225,8

      69,3

      15,7

Du lịch lữ hành

             1,5

               5,8

    324,3

      34,7

Dịch vụ khác

           45,3

           218,8

      15,1

        2,5

 

 

 

 

 

 

 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2022 có quy mô cao hơn và đang dần bắt kịp tốc độ tăng của cùng kỳ các năm trước khi xảy ra dịch bệnh.

 Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 5 tháng các năm 2018-2022

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 5

Doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2022 tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 13,1%; vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 12,8%; phương tiện đi lại tăng 3,1%; may mặc tăng 0,2%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 1,6%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 5 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 19,4%; Cần Thơ tăng 17,3%; Quảng Ninh tăng 15,4%; Hải Phòng tăng 12,6%; Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 11,2%; Đồng Nai tăng 10,6%; Hà Nội tăng 10,4%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 7,7%.
 
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 5 tháng đầu năm 2022 tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước khi nhu cầu của người dân tăng cao cùng với chuỗi sự kiện SEA Games 31 đã giúp doanh thu của ngành này trong tháng Năm tăng 69,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, doanh thu của một số địa phương tăng/giảm như sau: Cần Thơ tăng 39,7%; Hà Nội tăng 34,2%; Đồng Nai tăng 22,6%; Quảng Ninh tăng 17,3%; Hải Phòng tăng 10,5%; Bình Dương tăng 11,4%; Đà Nẵng tăng 11,2%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,2%; Vĩnh Long giảm 8,3%; Bắc Giang giảm 8,9%; Quảng Ngãi giảm 9,8%; Long An giảm 13%; Tiền Giang giảm 24,4%.
 
Doanh thu du lịch lữ hành 5 tháng đầu năm 2022 tăng 34,7% so với cùng kỳ năm trước do hoạt động du lịch phục hồi mạnh mẽ và sự kiện SEA Games 31 đã thu hút nhiều đoàn quốc tế đến Việt Nam. Doanh thu của một số địa phương tăng/giảm như sau: Khánh Hòa tăng 347,6%; Cần Thơ tăng 88,2%; Phú Thọ tăng 80,6%; Quảng Nam tăng 67,8%; Hà Nội tăng 61,1%; Quảng Bình tăng 29,6%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 0,9%; Đà Nẵng giảm 6,5%; Phú Yên giảm 16,2%, Quảng Ngãi giảm 24,7%; Ninh Thuận giảm 35,2%; Hà Tĩnh giảm 90,4%.
 
Doanh thu dịch vụ khác 5 tháng đầu năm 2022 tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước, cụ thể mức tăng/giảm của một số địa phương như sau: Đồng Nai tăng 21,7%; Khánh Hòa tăng 20,0%; Đà Nẵng tăng 18,3%; Quảng Ninh tăng 17,1%; Cà Mau tăng 13,2%; Thái Nguyên tăng 12,1%; Cần Thơ tăng 11,0%; Hải Phòng tăng 8,4%; Hà Nội tăng 7,6%; Bình Dương tăng 7,5%; Bắc Kạn giảm 1,1%; Đắk Nông giảm 1,2%; Nghệ An giảm 3,1%; Thành phố Hồ Chí Minh giảm 11,4%.
 
b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa[17]
 
Trong tháng Năm, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 62,69 tỷ USD, giảm 4,7% so với tháng trước và tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 305,1 tỷ USD, tăng 15,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 16,3%; nhập khẩu tăng 14,9%[18]. Cán cân thương mại hàng hóa 5 tháng đầu năm ước tính xuất siêu 516 triệu USD.
 

Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 6

Xuất khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 4/2022 đạt 33,32 tỷ USD, cao hơn 59 triệu USD so với số ước tính.
 
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 5/2022 ước đạt 30,48 tỷ USD, giảm 8,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,25 tỷ USD, giảm 7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 22,23 tỷ USD, giảm 9,1%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Năm tăng 16,4%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 14,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 17,1%.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 152,81 tỷ USD, tăng 16,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 40,25 tỷ USD, tăng 20,8%, chiếm 26,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 112,56 tỷ USD, tăng 14,8%, chiếm 73,7%.
 
Trong 5 tháng đầu năm 2022 có 26 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 6 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 62,3%).
 

Biểu 4. Trị giá một số mặt hàng xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2022

 
 

Ước tính 5 tháng
năm 2022
(Triệu USD)

Tốc độ tăng/giảm
5 tháng năm 2022 so với
cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD

 

 

Điện thoại và linh kiện

24.864

14,3

Điện tử, máy tính và linh kiện

21.908

10,6

Máy móc thiết bị, dụng cụ PT khác

17.181

16,4

Dệt, may

14.932

21,7

Giày dép

9.367

11,4

Gỗ và sản phẩm gỗ

6.995

4,7

Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2022 phân theo nhóm hàng
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 5

 Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 5 tháng đầu năm 2022, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản chiếm 1,4%, tăng 0,4 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 88,6%, giảm 0,5 điểm phần trăm; nhóm hàng nông sản, lâm sản chiếm 6,9%, giảm 0,5 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm 3,1%, tăng 0,6 điểm phần trăm.
 
Nhập khẩu hàng hóa
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 4/2022 đạt 32,47 tỷ USD, cao hơn 259 triệu USD so với số ước tính.
 
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 5/2022 ước đạt 32,21 tỷ USD, giảm 0,8% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 12,03 tỷ USD, tăng 6,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 20,18 tỷ USD, giảm 4,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Năm tăng 12,9%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 15,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 11,4%.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 152,29 tỷ USD, tăng 14,9% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 53,36 tỷ USD, tăng 14,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 98,93 tỷ USD, tăng 14,9%.
 
Trong 5 tháng đầu năm 2022 có 28 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 85,7% tổng kim ngạch nhập khẩu.
 

Biểu 5. Trị giá một số mặt hàng nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2022

 

Ước tính 5 tháng năm 2022
(Triệu USD)

Tốc độ tăng/giảm
5 tháng năm 2022 so với
cùng kỳ năm trước (%)

Các mặt hàng đạt giá trị trên 5 tỷ USD

 

 

Điện tử, máy tính và LK

36.018

28,6

Máy móc thiết bị, DC PT khác

18.153

-4,0

Điện thoại và linh kiện

9.076

19,3

Vải

6.548

10,9

Chất dẻo

5.543

9,7

Sắt thép

5.444

17,1

 

Hình 14. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2022 phân theo nhóm hàng
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 6

 Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 5 tháng đầu năm 2022, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,9%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 44,8%, giảm 0,3 điểm phần trăm; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 49,1%, tăng 0,4 điểm phần trăm. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,1%, giảm 0,1 điểm phần trăm.

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2022, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 46,7 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 49,6 tỷ USD. Trong 5 tháng đầu năm 2022, xuất siêu sang EU ước đạt 13,4 tỷ USD, tăng 43,6% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 27,1 tỷ USD, tăng 15,5%; nhập siêu từ Hàn Quốc 17,9 tỷ USD, tăng 46,6%; nhập siêu từ ASEAN 6,5 tỷ USD, tăng 6,4%; nhập siêu từ Nhật Bản 742 triệu USD, tăng 18,2%.

Hình 15. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu 5 tháng đầu năm 2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 7


Cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ tháng Tư xuất siêu 849 triệu USD[19]; 4 tháng đầu năm xuất siêu 2,25 tỷ USD; tháng Năm ước tính nhập siêu 1,73 tỷ USD. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 516 triệu USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 1,24 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 13,11 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 13,63 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 5/2022 tăng 0,38% so với tháng trước; tăng 2,48% so với tháng 12/2021 và tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước. Giá xăng dầu trong nước tăng theo giá thế giới; giá lương thực, thực phẩm, giá hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng thiết yếu tăng theo giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào là những nguyên nhân chủ yếu làm CPI tháng Năm tăng.

Bình quân 5 tháng đầu năm 2022, CPI tăng 2,25% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 1,29% của 5 tháng đầu năm 2021, nhưng thấp hơn mức tăng của 5 tháng đầu năm 2017-2020[20]; lạm phát cơ bản tăng 1,1%.

Hình 16. Tốc độ tăng/giảm CPI của tháng 5 và 5 tháng các năm giai đoạn 2018-2022 (%)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 7

Trong mức tăng 0,38% của CPI tháng 5/2022 so với tháng trước có 10 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 01 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.
(1) Mười nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:
- Nhóm giao thông có mức tăng cao nhất với 2,34% (làm CPI chung tăng 0,23 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá xăng dầu vào ngày 04/5/2022, 11/5/2022 và 23/5/2022 làm cho giá xăng tăng 5,93%; giá dầu diezen tăng 3,99%. Bên cạnh đó, giá dịch vụ giao thông công cộng tăng 1,06% do giá nhiên liệu tăng; giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 0,05%; thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,22%; phụ tùng tăng 0,17%.
 
- Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,74% do giá dịch vụ du lịch trọn gói tăng 3,15% và khách sạn, nhà khách tăng 0,94% khi nhu cầu du lịch tăng trở lại. Bên cạnh đó, thiết bị văn hóa trong tháng tăng 0,19% so với tháng trước; thời tiết chuyển sang mùa hè nên nhu cầu tập thể dục của người dân tăng lên làm cho dịch vụ thể thao tăng 0,33%.
 
- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,33% do giá nguyên liệu đầu vào và giá vận chuyển tăng, cụ thể: Giá nước giải khát có ga tăng 0,2% so với tháng trước; nước quả ép tăng 0,1%; rượu bia tăng 0,45% và thuốc hút tăng 0,28%.
 
- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,27% (làm CPI chung tăng 0,09 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,28%[21] (tác động CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm); thực phẩm tăng 0,22%[22] (tác động tăng 0,05 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,4%[23] (tác động CPI chung tăng 0,03 điểm phần trăm).
 
- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,22% do chủ yếu ở các mặt hàng có nhu cầu tiêu dùng tăng cao vào mùa hè: Giá máy điều hòa nhiệt độ tăng 0,43% so với tháng trước; giá quạt điện tăng 0,21%; giá tủ lạnh tăng 0,41%... Ở chiều ngược lại, giá bình nước nóng giảm 0,27% so với tháng trước và giá bếp gas giảm 0,28%.
 
- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,19%, tập trung chủ yếu ở mặt hàng đồ dùng cá nhân như máy dùng điện chăm sóc cá nhân tăng 0,07%; dịch vụ phục vụ cá nhân tăng 0,15%; dịch vụ hiếu hỉ tăng 0,3%; dịch vụ vệ sinh môi trường 0,47%.
 
- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,18% do giá nguyên phụ liệu sản xuất tăng vì ảnh hưởng của chiến tranh Nga và U-crai-na; chiến lược zero Covid từ Trung Quốc. Theo đó, giá quần áo may sẵn tăng 0,25%; mũ nón tăng 0,2%; dịch vụ may mặc tăng 0,25%; dịch vụ giày, dép tăng 0,4%.
 
- Nhóm giáo dục tăng 0,17% (làm CPI chung tăng 0,01 điểm phần trăm) do một số địa phương tăng học phí năm học 2021-2022 trở lại sau thời gian miễn, giảm do ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm cho nhóm dịch vụ giáo dục tăng 0,17% so với tháng trước[24].
 
- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%.
 
- Nhóm bưu chính viễn thông tăng 0,01%.
 
 (2) Nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm: Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,13% do giá gas giảm 5,38%[25]. Bên cạnh đó, một số mặt hàng trong tháng có giá tăng so với tháng trước: Giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,66%[26]; giá dầu hỏa tăng 3,95%[27]; giá điện sinh hoạt tháng Năm tăng 0,7%[28]; giá nước sinh hoạt tăng 1,03%.
 
Lạm phát cơ bản[29] tháng 5/2022 tăng 0,29% so với tháng trước, tăng 1,61% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 5 tháng đầu năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 1,1% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,25%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực và giá xăng dầu.
 
Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/5/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.845 USD/ounce, giảm 4,6% so với tháng 4/2022 do đồng USD mạnh lên và lợi suất trái phiếu tăng trở lại làm giảm sức hấp dẫn của vàng. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 5/2022 giảm 0,52% so với tháng trước; tăng 9,86% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 5 tháng đầu năm 2022 tăng 6,48%.
 
Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng sau khi Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED) nâng lãi suất 0,5 điểm phần trăm vào ngày 04/5/2022. Tính đến ngày 25/5/2022, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 103,53 điểm, tăng 2,78 điểm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 23.147 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 5/2022 tăng 0,65% so với tháng trước và tăng 0,21% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 5 tháng đầu năm 2022 giảm 0,49%.
 
d) Vận tải hành khách và hàng hóa
 
Vận tải hành khách tháng Năm khôi phục mạnh mẽ với số lượt hành khách vận chuyển tăng 34% so với cùng kỳ năm trước và luân chuyển tăng 45,7% do hiệu quả chính sách mở cửa du lịch của Việt Nam từ ngày 15/3/2022 và chuỗi sự kiện SEA Games 31 được tổ chức tại Hà Nội và một số địa phương. Vận tải hàng hóa tiếp tục phát triển tích cực với tốc độ tăng 22,8% về vận chuyển và tăng 22,4% về luân chuyển so với cùng kỳ năm trước.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, vận chuyển hành khách giảm nhẹ 0,3% so với cùng kỳ năm trước, luân chuyển hành khách tăng 4,2% và vận chuyển hàng hóa tăng 11,3%, luân chuyển hàng hóa tăng 16,4%.
 
Vận tải hành khách tháng 5/2022 ước đạt 361,6 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 4,6% so với tháng trước và luân chuyển 16 tỷ lượt khách.km, giảm 0,1%, chủ yếu do vận tải hàng không giảm mạnh 17,2% về vận chuyển và giảm 15% về luân chuyển so với tháng Tư - tháng có nhiều kỳ nghỉ lễ lớn. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, vận tải hành khách đạt 1.572,3 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước[30] (cùng kỳ năm 2021 tăng 4,2%) và luân chuyển đạt 70,2 tỷ lượt khách.km, tăng 4,2% (cùng kỳ năm trước tăng 0,1%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 1.572 triệu lượt khách, giảm 0,3% so với cùng kỳ năm trước và 69,2 tỷ lượt khách.km, tăng 2,9%; vận tải ngoài nước có sự phục hồi tích cực từ hiệu quả của chính sách mở cửa du lịch và sự kiện SEA Games 31 diễn ra tại Việt Nam, đạt 262,1 nghìn lượt khách, tăng 414,6% và 1.067,5 triệu lượt khách.km, tăng 477,7%.

Biểu 6. Vận tải hành khách 5 tháng đầu năm 2022 phân theo ngành vận tải

 

 

Số lượt hành khách

Tốc độ tăng/giảm so với
cùng kỳ năm trước (%)

 

 Vận chuyển
(Triệu HK)

Luân chuyển
(Tỷ HK.km)

 Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

1.572,3

70,2

-0,3

4,2

Đường sắt

1,2

0,4

5,7

-12,0

Đường biển

4,1

0,2

32,8

17,6

Đường thủy nội địa

112,3

2,1

12,6

13,5

Đường bộ

1.439,0

51,8

-1,4

-3,1

Hàng không

15,7

15,7

21,7

37,9

 

 Vận tải hàng hóa tháng 5/2022 ước đạt 184,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,4% so với tháng trước và luân chuyển 37,5 tỷ tấn.km, tăng 1,7%. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, vận tải hàng hóa đạt 834,2 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 10,5%) và luân chuyển 170,7 tỷ tấn.km, tăng 16,4% (cùng kỳ năm trước tăng 11,2%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 816,8 triệu tấn vận chuyển, tăng 11,3% và 102,1 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 21,6%; vận tải ngoài nước đạt 17,4 triệu tấn vận chuyển, tăng 8,4% và 68,7 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 9,5%. Các doanh nghiệp đi vào hoạt động ổn định, xuất nhập khẩu tiếp đà khởi sắc cùng với sự kiện SEA Games 31 tổ chức tại Việt Nam nên nhu cầu vận tải hàng hóa trong và ngoài nước tăng cao so với cùng kỳ năm 2021.

Biểu 7. Vận tải hàng hóa 5 tháng đầu năm 2022 phân theo ngành vận tải

 

 

Sản lượng hàng hóa

Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)

 

Vận chuyển
(Triệu tấn)

Luân chuyển
(Tỷ tấn.km)

Vận chuyển

Luân chuyển

Tổng số

834,2

170,7

11,3

16,4

Đường sắt

2,5

1,9

9,3

25,0

Đường biển

41,7

84,1

19,9

19,3

Đường thủy nội địa

154,7

37,8

13,2

19,0

Đường bộ

635,2

45,2

10,3

8,6

Hàng không

0,1

1,7

11,3

37,0

 

 đ) Khách quốc tế đến Việt Nam[31]
 
Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Năm[32] đạt 172,9 nghìn lượt người, tăng 70,6% so với tháng trước và gấp 12,8 lần so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại và nhiều đoàn khách quốc tế đến Việt Nam tham dự SEA Games 31. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 365,3 nghìn lượt người, gấp 4,5 lần so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn giảm 95% so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa xảy ra dịch Covid-19.
 
Trong tổng số 365,3 nghìn lượt khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm 2022, khách đến bằng đường hàng không đạt 320,7 nghìn lượt người, chiếm 87,8% lượng khách quốc tế đến Việt Nam, gấp 6,3 lần so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 44,5 nghìn lượt người, chiếm 12,2% và tăng 47%; bằng đường biển đạt 95 lượt người, chiếm 0,03% và giảm 50,8%.
 

Hình 17. Khách quốc tế đến Việt Nam 5 tháng đầu năm 2022 phân theo vùng lãnh thổ
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2022 8

7. Một số tình hình xã hội
 
a) Đời sống dân cư và công tác an sinh xã hội
 
Theo kết quả sơ bộ từ Khảo sát mức sống dân cư trong 5 tháng đầu năm 2022, tình hình đời sống của hộ dân cư đã khả quan hơn. Tỷ lệ hộ có thu nhập tăng so với cùng kỳ năm trước là 34,7% cao hơn 12,6 điểm phần trăm so với tỷ lệ tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm (tỷ lệ hộ có thu nhập giảm là 22,1%); tỷ lệ hộ có thu nhập không thay đổi là 43,3%. Trong các nguyên nhân làm giảm thu nhập của hộ gia đình có tới 83,7% hộ gia đình đánh giá thu nhập giảm do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; 17,9% hộ đánh giá thu nhập giảm là do thành viên của hộ mất việc làm/tạm nghỉ việc và 13,8% hộ đánh giá thu nhập giảm là do chi phí đầu vào cho các hoạt động SXKD của hộ tăng lên. Bên cạnh đó, dịch Covid-19 đã ảnh hưởng phần lớn đến đời sống dân cư khi 72,6% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19; hộ gia đình chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh khác và hộ gia đình chịu ảnh hưởng từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng có cùng tỷ lệ là 2,1%.
 
Trong 5 tháng đầu năm 2022, có 28,2% hộ gia đình nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 13,1%; từ họ hàng, người thân là 12,7%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 11,1%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 6,9% và từ các nguồn khác là gần 0,2%.
 
Các gói hỗ trợ do ảnh hưởng dịch Covid-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 01/7/2021; Nghị quyết số 126/NQ-CP ngày 8/10/2021 và Nghị quyết số 116/NQ-CP ngày 24/9/2021 của Chính phủ đã được thực hiện hiệu quả. Gói hỗ trợ theo Nghị quyết 11/NQ-CP, tính đến ngày 20/5/2022, đã hỗ trợ tiền thuê nhà cho 2.431 người với số tiền 1,7 tỷ đồng. Để đảm bảo người dân không bị thiếu lương thực trong kỳ giáp hạt, xuất cấp không thu tiền 1.396,1 tấn gạo từ nguồn dự trữ quốc gia cho tỉnh Tuyên Quang (310,8 tấn gạo) và Quảng Trị (1085,3 tấn gạo).
 
b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm
 
Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/4-18/5/2022), cả nước có 11.157 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (07 trường hợp tử vong); 4.488 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (01 trường hợp tử vong); 19 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 01 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 14 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, cả nước có 25.861 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (13 trường hợp tử vong); 5.554 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (01 trường hợp tử vong); 61 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút; 03 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 35 trường hợp sốt phát ban nghi sởi.
 
Số ca mắc mới Covid-19 ở khu vực châu Mỹ đang có xu hướng tăng trở lại trong bối cảnh nhiều nước đã chấm dứt các biện pháp bắt buộc đeo khẩu trang và giãn cách xã hội[33]. Tại Việt Nam, các địa phương tiếp tục chủ động thực hiện các biện pháp phòng chống dịch Covid-19 phù hợp với tình hình mới, bảo vệ sức khỏe người dân. Tính đến 16h00 ngày 27/5/2022, Việt Nam có 10.715,2 nghìn trường hợp mắc, trong đó 9.431,5 nghìn trường hợp đã được chữa khỏi và 43,1 nghìn trường hợp tử vong.
 
Tiến độ tiêm vắc xin phòng Covid-19 cho trẻ em từ 5 đến dưới 12 tuổi, tiêm mũi 3 và mũi 4 cho người trên 18 tuổi được đẩy nhanh. Tính đến ngày 26/5/2022, tổng số liều vắc xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 220.141,2 nghìn liều, trong đó tiêm mũi 1 là 84.207,5 nghìn liều; tiêm mũi 2 là 77.409,5 nghìn liều; tiêm mũi 3 là 1.507 nghìn liều;  mũi bổ sung là 15.051,1 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 1 là 41.832,7 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 2 - mũi 4 là 133,4 nghìn liều.
 
Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/5/2022 là 216.331 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 111.573 người.
 
Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng Năm xảy ra 04 vụ với 15 người bị ngộ độc (01 người tử vong). Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, cả nước xảy ra 11 vụ với 263 người bị ngộ độc (02 người tử vong).
 
c) Hoạt động văn hóa, thể thao
 
Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa vật thể và phi vật thể luôn được các địa phương quan tâm, đầu tư, nhằm phát huy được giá trị di sản, tạo ra những sản phẩm du lịch độc đáo. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” tiếp tục được triển khai rộng khắp trên cả nước đã tạo dựng được môi trường văn hóa lành mạnh, giúp người dân có điều kiện nâng cao chất lượng cuộc sống.
 
Phong trào thể thao quần chúng tiếp tục được đẩy mạnh gắn với cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”; phong trào thể dục thể thao thanh thiếu nhi trong trường học, nhà văn hoá, nhà thiếu nhi, khu dân cư ngày càng sôi nổi, đa dạng, phong phú, thu hút đông đảo trẻ em tham gia.
 
Về thể thao thành tích cao, tại SEA Games 31, Đoàn thể thao Việt Nam đã đạt được kết quả ấn tượng, xếp thứ nhất toàn đoàn với 446 huy chương, trong đó có 205 huy chương vàng, 125 huy chương bạc và 116 huy chương đồng[34].
 
d) Tai nạn giao thông[35]
 
Trong tháng Năm (từ 15/4-14/5/2022), trên địa bàn cả nước xảy ra 925 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 616 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 309 vụ va chạm giao thông, làm 485 người chết, 322 người bị thương và 325 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông giảm 11,6% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 16,4% và số vụ va chạm giao thông tương đương tháng trước) số người chết giảm 19,2%; số người bị thương giảm 15,3% và số người bị thương nhẹ tăng 4,8%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Năm giảm 3,8% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 1,6% và số vụ va chạm giao thông giảm 8%); số người chết giảm 1,2%; số người bị thương tăng 1,3% và số người bị thương nhẹ giảm 9%.
 
Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 4.733 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 3.319 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 1.414 vụ va chạm giao thông, làm 2.761 người chết, 1.649 người bị thương và 1.429 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 5 tháng đầu năm nay giảm 8,7% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên giảm 0,9%; số vụ va chạm giao thông giảm 22,9%); số người chết tăng 4%; số người bị thương giảm 7,3% và số người bị thương nhẹ giảm 28,9%. Bình quân 1 ngày trong 5 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông, gồm 22 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 9 vụ va chạm giao thông, làm 18 người chết, 11 người bị thương và 9 người bị thương nhẹ.
 
đ) Thiệt hại do thiên tai[36]
 
Thiệt hại do thiên tai trong tháng Năm chủ yếu do ảnh hưởng của mưa lớn, ngập lụt, sạt lở đất làm 24 người chết, 20 người bị thương; 2,4 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; 15,9 nghìn ha lúa và 8,7 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 605,8 tỷ đồng (trong đó tỉnh Lạng Sơn thiệt hại tới 390,6 tỷ đồng, chiếm 64,5% tổng giá trị thiệt hại), gấp 2,7 lần so với cùng kỳ năm ngoái. Tính chung 5 tháng đầu năm nay, thiên tai làm 43 người chết và mất tích, 31 người bị thương; 5,2 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; 135,9 nghìn ha lúa và 25,1 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 4.213,7 tỷ đồng, gấp 13,5 lần cùng kỳ năm 2021.
 
e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
 
Trong tháng 05/2022, cơ quan chức năng đã phát hiện 1.813 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.529 vụ với tổng số tiền phạt 19,3 tỷ đồng, tăng 9% so với tháng trước và giảm 9,6% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm nay đã phát hiện 9.072 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 7.615 vụ với tổng số tiền phạt là 102,7 tỷ đồng, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm trước.
 
Trong tháng[37], cả nước xảy ra 154 vụ cháy, nổ, làm 10 người chết và 3 người bị thương, thiệt hại ước tính 33,2 tỷ đồng, tăng 47,5% so với tháng trước và tăng 15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2022, trên địa bàn cả nước xảy ra 734 vụ cháy, nổ, làm 44 người chết và 38 người bị thương, thiệt hại ước tính 112,5 tỷ đồng, giảm 57,8% so với cùng kỳ năm trước./.
 
TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 


[1] Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính từ ngày 16/4/2022 đến 15/5/2022.

[2] Giá cá tra loại 0,8-1,1 kg/con dao động trong khoảng 31.500-33.000 đồng/kg, tăng hơn 10.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Nguồn: http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia

[3] Nguồn: https://vasep.com.vn/san-pham-xuat-khau/ca-tra/xuat-nhap-khau/gia-ca-tra-xuat-di-my-cao-hon-ca-muc-dinh-nam-2019-24446.html

[4] Giá cá tra giống trong tháng loại từ 28-35 con/kg ở mức 30.000-32.000 đồng/kg, giảm 8.000 đồng/kg so với tháng 4/2022. Nguồn: http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia

[5] Giá tôm thẻ tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long cỡ 100 con/kg, giá từ 88.000-94.000 đồng/kg, tăng 3.000-4.000 đồng/kg, cỡ 80 con/kg, giá từ 98.000-104.000 đồng/kg, tăng 4.000-5.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước. Giá tôm sú tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long loại 20 con/kg ướp đá ổn định dao động từ 220.000-250.000 đồng/kg. Nguồn: https://thuysanvietnam.com.vn/gia-tom-nguyen-lieu-tuan-09-14-05-2022/

[6] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng đầu năm các năm 2018-2022 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10,3%; 9,5%; 1,7%; 10%; 8,3%.

[7] Tốc độ tăng chỉ số IIP tháng 5/2022 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn là: Bình Dương tăng 9%; Hà Tĩnh tăng 6,9%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 6,5%; Hải Dương tăng 3,6%; Vĩnh Long tăng 3,4%; Thái Nguyên tăng 3%; Long An tăng 2,7%; Quảng Ninh tăng 2,3%...

[8] Một số địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 5 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng cao là: Bạc Liêu tăng 7,8%; Quảng Bình tăng 10,9%; Lai Châu tăng 13%; Thanh Hóa tăng 17,3%; Bắc Ninh tăng 19,9%; Quảng Nam tăng 22,4%; Bình Phước tăng 22,6%; Hà Giang tăng 25,8%; Bắc Giang tăng 45,7%.

[9] Một số địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 5 tháng đầu năm 2022 so với cùng kỳ năm trước giảm hoặc tăng thấp là: Trà Vinh giảm 1,3%; Hà Tĩnh giảm 0,1%; Ninh Bình tăng 1,3%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 2,1%; Đắk Nông tăng 3,8%; Bắc Kạn tăng 4,1%; Tiền Giang tăng 4,5%; Long An tăng 5%.

[10] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 25/5/2022.

[11] Mặc dù, số doanh nghiệp thành lập mới trong tháng 5/2022 giảm so với tháng 4/2022 (tháng thường có số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập cao nhất trong năm) nhưng vẫn được ghi nhận là tháng có số doanh nghiệp thành lập mới tăng cao nhất so với cùng kỳ giai đoạn 2016-2021 (số doanh nghiệp thành lập mới tháng Năm các năm 2016–2022 lần lượt là: 10.019 DN; 10.954 DN; 11.027 DN; 10.693 DN; 10.728 DN; 11.601 DN; 13.370 DN).

[12] Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/5/2022.

[13] Vốn đầu tư ra nước ngoài cấp mới 5 tháng năm 2022 tăng mạnh so với cùng kỳ do 5 tháng đầu năm 2022 có 05 dự án lớn mới được cấp GCNĐKĐT là dự án Công ty cổ phần giải pháp năng lượng Vines sang Hoa Kỳ, Ca-na-da, Pháp, Đức, Hà Lan với tổng vốn đầu tư mỗi dự án trên 34,7 triệu USD.

[14] Vốn đầu tư điều chỉnh giảm mạnh do trong 5 tháng năm 2021 có nhiều dự án lớn điều chỉnh tăng vốn: dự án của Vingroup tại Hoa Kỳ điều chỉnh tăng 300 triệu USD; dự án Công ty TNHH Đầu tư và phát triển cao su Đông Dương tại Cam-pu-chia tăng 76 triệu USD và 01 dự án của Vinfast tại Đức tăng 32 triệu USD.

[15] Theo Báo cáo tình hình cân đối Ngân sách Nhà nước 5 tháng đầu năm 2022 của Bộ Tài chính.

[16] Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 5/2018 đạt 362,9 nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước; tháng 5/2019 đạt 400,6 nghìn tỷ đồng, tăng 10,4%.

[17] Ước tính tổng trị giá xuất khẩu, nhập khẩu tháng 5/2022 do Tổng cục Hải quan cung cấp ngày 27/5/2022. Tổng cục Thống kê ước tính trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu tháng 5/2022 dựa trên số liệu sơ bộ về trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu đến hết ngày 26/5/2022 do Tổng cục Hải quan cung cấp.

[18] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 5 tháng đầu năm 2021 đạt 264 tỷ USD, tăng 34,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 131,4 tỷ USD, tăng 31,1%; nhập khẩu đạt 132,6 tỷ USD, tăng 37,7%.

[19] Ước tính tháng Tư xuất siêu 1,07 tỷ USD.

[20] Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng 5 tháng đầu năm 2017-2020 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: tăng 4,47%; tăng 3,01%; tăng 2,74%, tăng 4,39%.

[21] Chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,25% (Gạo tẻ ngon tăng 0,35%; gạo tẻ thường tăng 0,25%) theo giá gạo xuất khẩu và giá vật tư phân bón, nguyên liệu đầu vào sản xuất ở mức cao. Bên cạnh đó, giá nguyên liệu đầu vào, giá cước vận chuyển tăng tác động đến giá các mặt hàng lương thực chế biến khác (giá mỳ sợi, mỳ, phở tăng 0,85% so với tháng trước; bột mì tăng 0,8%; bánh mì tăng 0,53%; bún, bánh phở, bánh đa tăng 0,33%; miến tăng 0,32%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,31%).

[22] Giá thức ăn chăn nuôi, giá vận chuyển tăng làm cho giá thịt gia cầm tăng 1,03% (giá thịt gà tăng 1,12%; thịt gia cầm khác tăng 0,69%; thịt gia cầm đông lạnh tăng 2,16%); giá thủy hải sản tươi sống tăng 0,18% (giá cá tăng 0,13%; giá tôm tăng 0,24%; giá thủy hải sản tươi sống khác tăng 0,25%); giá thịt lợn tăng 0,02% (thịt chế biến tăng 0,3%; thịt quay, giò chả tăng 0,31%; thịt hộp tăng 0,25%; thịt chế biến khác tăng 0,24%); giá dầu mỡ ăn và chế biến tăng 1,47% (giá nước mắm, nước chấm tăng 0,8%; đường, mật tăng 0,27%; sữa, bơ, pho mát tăng 0,33%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,47%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,16%). Ở chiều ngược lại, nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 0,39% chủ yếu do giá rau muống giảm 4,25%; đỗ quả tươi giảm 1,38%; rau dạng củ, quả giảm 1,62% vì vào chính vụ nên nguồn cung nhiều.

[23] Giá giá xăng dầu cùng với giá nguyên liệu chế biến ở mức cao. Trong đó, chỉ số giá ăn ngoài gia đình tăng 0,46%; uống ngoài gia đình tăng 0,28% và đồ ăn nhanh mang đi tăng 0,14%.

[24] Tốc độ tăng chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tháng 5/2022 so với tháng trước của một số địa phương: Sóc Trăng tăng 14,16%; Cà Mau tăng 12,99%; Hà Nội tăng 0,33%; Phú Yên tăng 0,14%; Nam Định và Lai Châu cùng tăng 0,08%; An Giang tăng 0,06%; Đồng Tháp tăng 0,05%.

[25] Từ ngày 01/5/2022, giá gas trong nước điều chỉnh giảm 29.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới giảm 95 USD/tấn (từ mức 950 USD/tấn xuống mức 855 USD/tấn).

[26] Giá thép tăng khi giá nguyên liệu từ quặng sắt, thép phế liệu… tăng; giá nguyên vật liệu đầu vào trong sản xuất xi măng như xăng dầu và than đá tăng cao. Ngoài ra, giá một số sản phẩm vật liệu xây dựng khác cũng tăng cao như đá, cát, gạch xây dựng.

[27] Ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá ngày 04/5/2022, 11/5/2022 và 23/5/2022.

[28] Chỉ số giá điện sinh hoạt tháng 5/2022 được tính dựa trên doanh thu và sản lượng điện tiêu dùng từ ngày
01-30/4/2022, do đó phản ánh biến động trễ một tháng so với các mặt hàng khác.

[29] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

[30] Do 2 tháng đầu năm nay số ca nhiễm Covid-19 tăng mạnh, người dân hạn chế đi lại.

[31] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh,
Bộ Công
an.

[32] Kỳ báo cáo từ ngày 21/4/2022-20/5/2022.

[33] Tính đến 16h00 ngày 27/5/2022 trên thế giới có 530.468,2 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (6.308,1 nghìn trường hợp tử vong).

[34] Với thành tích này, Việt Nam vượt xa kỷ lục của In-đô-nê-xi-a lập tại SEA Games 19 với 410 huy chương, trong đó 194 huy chương vàng, 101 huy chương bạc và 115 huy chương đồng. Tiếp theo là các đoàn Thái Lan, In-đo-nê-xi-a, Phi-li-pin, Xin-ga-po, Ma-lai-xi-a, Mi-an-ma, Cam-pu-chia, Lào, Bru-nây và Ti-mo Lét-xtê.

[35] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải) từ ngày 15/4 đến ngày 14/5/2022.

[36] Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/4-18/5/2022.

[37] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/5/2022.

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top