Xóa mù chữ cho trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi

13/10/2020 - 08:40 AM - 46 lượt xem
Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), giáo dục là một quyền cơ bản của con người, mọi bé gái và bé trai ở Việt Nam đều có quyền đi học, học hỏi và phát triển. Đặc biệt đối với trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi, giáo dục là phương thức hiệu quả nhất đem lại cơ hội phát triển bình đẳng, cơ hội thay đổi tương lai cho các em. Chính vì vậy, từ lâu Chính phủ đã không ngừng quan tâm, đẩy mạnh xóa mù chữ cho trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi, đặc biệt là trẻ em trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn trong vùng nhằm tạo điều kiện cho các em tiếp cận với các cơ hội một cách bình đẳng.
 
     Kết quả Điều tra thu thập thông tin về hiện trạng kinh tế xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 do Tổng cục Thống kê thực hiện tại hơn 56,4 nghìn thôn thuộc các xã vùng dân tộc thiểu số trên toàn quốc tính đến ngày 1/10/2019 đã cho thấy bức tranh rõ nét hơn về tình hình phổ cập cũng như cơ sở vật chất, điều kiện giáo dục dành cho trẻ em khu vực này. Theo kết quả Điều tra, Việt Nam có trên 1,4 triệu trẻ em vùng dân tộc thiểu số trong độ tuổi học tiểu học - cấp học phổ cập xóa nạn mù chữ, tương đương độ tuổi từ 5-9 tuổi; trong đó, các dân tộc Tày, Thái, Khmer, Mường, Mông, Nùng là các dân tộc có trẻ em trong độ tuổi học tiểu học đông nhất. Trong nhiều năm qua, nhờ sự nỗ lực của Đảng, Nhà nước, các bộ ngành liên quan và các địa phương, công tác giáo dục, xóa nạn mù chữ cho trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số đã đạt được những thành tựu đáng khích lệ. Tỷ lệ trẻ em dân tộc thiểu số trong độ tuổi đi học phổ thông nhưng không đi học đã giảm gần hai lần, từ 26,4 năm 2009 xuống còn 15,5 năm 2019.

 
Xóa mù chữ cho trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi 2
Ảnh minh họa, nguồn Internet
 
     Mặc dù vậy, hiện nay ở Việt Nam vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định về sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của trẻ em giữa các vùng, đặc biệt là với trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi. Trẻ em đồng bào dân tộc thiểu số vẫn gặp nhiều khó khăn trên hành trình tiếp cận với con chữ khiến cho tình trạng mù chữ trong trẻ vẫn chưa được xóa bỏ hoàn toàn. Nguyên nhân chủ yếu là do sự thiếu thốn cơ sở vật chất, giao thông đi lại, hạn chế về dân trí... tại khu vực các em sinh sống. Theo thống kê vẫn còn tồn tại tình trạng trẻ em trong độ tuổi tiểu học nhưng không được đi học. Hiện cả nước có 19/53 dân tộc thiểu số có tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường trên 20%, trong đó dân tộc Brâu có tỷ lệ cao nhất (35,4%), tiếp đến là dân tộc Xtiêng (35,3%). Dân tộc Sán Dìu và Tày có tỷ lệ trẻ em ngoài nhà trường thấp nhất trong 53 dân tộc thiểu số, tương ứng là 3,7% và 5,1%. Riêng cấp tiểu học, cứ 100 em trong độ tuổi đi học cấp tiểu học thì có khoảng 2 em không được đến trường. Trong đó, ở dân tộc Raglay là 3,1%, Gia Rai 2,9%, Kháng 1,9%, Mông 0,1%, Ngái 0,5%, Chăm 0,4%, Xtiêng 0,8%...; tỷ lệ trẻ đi học tiểu học đúng tuổi đạt 96,9%.

     Những khó khăn về giao thông đi lại, hoàn cảnh gia đình, sự nghèo khó với những gánh nặng mưu sinh từ nhỏ cũng là một trong những nguyên nhân lớn ngăn cản trẻ em vùng dân tộc thiểu số và miền núi tiếp cận với việc học nhằm xóa nạn mù chữ: Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo của các hộ dân tộc thiểu số vẫn đang cao gấp 3,5 lần tỷ lệ nghèo và cận nghèo chung của cả nước; Số hộ dân tộc thiểu số nghèo chiếm 22,3%, hộ cận nghèo chiếm 13,2%, trên tổng số hộ dân tộc thiểu số của cả nước. Tỷ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo cao tập trung ở các tỉnh Điện Biên, Quảng Bình, Bình Định, Khánh Hòa, Lai Châu...; dân tộc Chứt có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao nhất với 89,3%.
 
     Kết quả thống kê cũng cho thấy, tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số của Việt Nam hiện nay có 1,4% tổng số thôn không có điện lưới quốc gia; 5,2% tổng số thôn có đường giao thông đến xã, huyện... chưa được rải nhựa, bê tông hay sỏi, đá; vẫn còn 16,3% địa bàn của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực biên giới chưa có phòng học kiên cố. Con số này ở một số tỉnh thuộc vùng trung du miền núi phía Bắc, Tây Nguyên và Nam Bộ còn cao hơn nữa. Điển hình là tại Bắc Kạn là 26%; Tuyên Quang 25,8%; Điện Biên 24,6%; Đắk Lắk 20,9%; Hậu Giang 29,5%... Trong khi đó, số điểm trường kiên cố và phòng học kiên cố của điểm trường vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn có tỷ lệ thấp hơn, lần lượt là 54,4% và 65,5%.
 
     Kết quả điều tra cho biết còn 1,2% trên tổng số 7,81 triệu trẻ em dưới 5 tuổi chưa được đăng ký khai sinh. Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc quản lý hộ tịch và việc tiếp cận các chính sách, quyền lợi cho trẻ em trong đó có giáo dục. Nhất là tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, trẻ em dưới 5 tuổi chưa được đăng ký khai sinh cao nhất trong các vùng kinh tế - xã hội, lần lượt là 2,3% và 2,9%. Đây cũng là hai vùng tập trung nhiều đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, có địa hình miền núi, cao nguyên đi lại khó khăn, tập trung nhiều hộ nghèo đa chiều của cả nước.
 
     Mặt khác, tỷ lệ kết hôn cận huyết vẫn còn tồn tại thậm chí tồn tại với tỷ lệ cao cùng với những hủ tục lạc hậu chưa được bãi bỏ của một số dân tộc ít nhiều cũng làm ảnh hưởng đến sức khỏe, thể chất của trẻ, góp phần làm giảm cơ hội được đi học của trẻ em những khu vực đó, nhất là đối với trẻ em gái khi nạn tảo hôn vẫn còn diễn ra.
 
     Trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam, việc trẻ em nói chung và trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng không được tiếp cận với nền giáo dục có chất lượng cũng đồng nghĩa với việc đã tước đoạt một nguồn tăng trưởng tiềm năng trong tương lai của đất nước. Trẻ em không được đi học, không được tiếp cận với chữ viết, giáo dục không chỉ làm giảm tiềm năng cá nhân của các em mà còn kìm hãm trình độ dân trí, giảm các cơ hội bình đẳng và làm tăng các chu kỳ nghèo đói và bất lợi của mọi thế hệ và cả quốc gia.
 
     Để hoàn thành chỉ tiêu trong các mục tiêu phát triển bền vững, với quyết tâm “không để trẻ em nào ở lại phía sau”, trong nhiều năm qua, Việt Nam đã rất nỗ lực thực hiện nhiều hành động thiết thực xóa nạn mù chữ trên cả nước nói chung và xóa mù chữ cho trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng bằng nhiều hình thức cả trực tiếp và gián tiếp. Chính phủ đã chỉ đạo xây dựng và ban hành nhiều cơ chế, chính sách ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi như: Quyết định 692/ QĐ-TTg ngày 04/5/2013 phê duyệt Đề án “Xóa mù chữ đến năm 2020”; Nghị định số 86/2015/NĐ-CP ngày 02/10/2015 có quy định về chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; Nghị định số 116/2016/ NĐ-CP ngày 18/7/2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn, Nghị định 57/2017/NĐ-CP quy định chính sách ưu tiên tuyển sinh, hỗ trợ học tập đối với trẻ mẫu giáo, học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số rất ít người;…
 
     Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững được ban hành theo Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ, nêu rõ 17 mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam đến năm 2030 mang nhiều ý nghĩa thiết thực trong công tác xóa mù chữ cho trẻ em. Trong đó, nhiều mục tiêu và chỉ tiêu cụ thể nhắm đến giải quyết các vấn đề còn thiếu hụt của trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi một cách toàn diện, tạo điều kiện cho các em được hưởng quyền lợi xã hội một cách bình đẳng như: Chấm dứt mọi hình thức nghèo ở mọi nơi có chú trọng đến trẻ em dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn; Đảm bảo dinh dưỡng, tăng cường thể chất, đảm bảo sức khỏe cho cả trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi. Qua đó tạo điều kiện ban đầu để trẻ em được tiếp cận với giáo dục và các cơ hội khác. Đặc biệt phải kể đến Mục tiêu số 4 về Đảm bảo nền giáo dục có chất lượng, công bằng, toàn diện và thúc đẩy các cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người trong đó có trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi.
 
     Để thanh toán nạn mù chữ trong trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi cần tập trung vào một số giải pháp cụ thể:
 
     Huy động và có cơ chế hiệu quả hỗ trợ người dân đưa con trong độ tuổi đến trường, đặc biệt là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số; Nâng cao chất lượng và tăng cường công tác quản lý chất lượng giáo dục tiểu học và trung học cơ sở; Đảm bảo ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục được tập trung ưu tiên cho giáo dục phổ cập, giáo dục ở những vùng đặc biệt khó khăn, dân tộc thiểu số và các đối tượng chính sách xã hội.
 
     Đối với trẻ trong giai đoạn trẻ thơ và mầm non chuẩn bị vào cấp tiểu học, cần nâng cao nhận thức cộng đồng, nhất là trẻ em ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hộ nghèo về sự cần thiết của phát triển toàn diện sức khỏe và trí tuệ của trẻ từ giai đoạn trẻ thơ. Cần có chính sách hỗ trợ kịp thời để đảm bảo các trẻ em nghèo, nhóm trẻ có hoàn cảnh đặc biệt có điều kiện tiếp cận dịch vụ chăm sóc giai đoạn trẻ thơ và giáo dục mầm non, chuẩn bị bước vào cấp tiểu học
 
     Song song với đó, cần rà soát, hoàn thiện và xây dựng hệ thống tiêu chí về cơ sở hạ tầng giáo dục; tăng cường nguồn vốn đầu tư ngân sách nhà nước để đầu tư phát triển nâng cấp cơ sở vật chất trường, lớp, điểm trường, trường nội trú nhất là cấp mầm non và tiểu học theo chuẩn hóa, thân thiện với trẻ, cung cấp môi trường học tập an toàn và hiệu quả cho trẻ. Tăng cường xã hội hóa, kêu gọi trách nhiệm cộng đồng trong công tác xóa mù chữ cho trẻ em dân tộc thiểu số và miền núi.
 
     Chú trọng nâng cao nhận thức trong cộng đồng người dân tộc thiểu số và miền núi về công tác phòng chống mù chữ, chống tái mù chữ bằng các hình thức: Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về tầm quan trọng của việc biết chữ đối với sự phát triển của cá nhân, gia đình và cộng đồng; tuyên truyền về công tác xóa mù chữ gắn kết với việc xây dựng xã hội học tập và các phong trào thi đua của địa phương.
 
     Ngoài ra, cần tăng cường ưu tiên đào tạo nhân lực cho các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn bằng nhiều hình thức phù hợp; bồi dưỡng tiếng dân tộc thiểu số, văn hóa, phong tục tập quán của các dân tộc thiểu số cho giáo viên và cán bộ làm công tác xóa mù chữ, chống tái mù chữ cho người dân, đặc biệt là trẻ em dân tộc thiểu số. Khuyến khích, tạo điều kiện thu hút đội ngũ giáo viên bám thôn, bản tại địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng giao thông đi lại khó khăn; có chính sách hỗ trợ đối với người tham gia dạy xóa mù chữ ở những địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn./.

 
Thu Hiền

Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top