Kinh tế - xã hội cả nước tháng Mười và 10 tháng năm 2022 - Tiếp tục đà phụ hồi tăng trưởng ở nhiều ngành, lĩnh vực

29/10/2022 - 11:05 AM
1. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Sản xuất nông nghiệp trong tháng Mười tập trung vào chăm sóc, thu hoạch lúa mùa, lúa thu đông trên cả nước và gieo trồng cây màu vụ đông ở phía Bắc. Chăn nuôi phát triển ổn định; hoạt động khai thác gỗ triển khai tích cực; nuôi trồng thủy sản phát triển khá do nhu cầu và giá xuất khẩu các sản phẩm thủy sản trọng điểm như cá tra, tôm nuôi tăng; tuy nhiên, khai thác thủy sản biển gặp khó khăn do thời tiết ngư trường không thuận lợi cho việc đánh bắt xa bờ.

a) Nông nghiệp

Lúa mùa

Vụ lúa mùa năm 2022 cả nước gieo cấy được 1.557 nghìn ha, bằng 99,9% vụ mùa năm trước, trong đó: Các địa phương phía Bắc đạt 1.023,2 nghìn ha, bằng 98,2%; các địa phương phía Nam đạt 533,8 nghìn ha, bằng 103,2%.

Tính đến trung tuần tháng Mười, cả nước thu hoạch được 893,1 nghìn ha lúa mùa, chiếm 57,4% diện tích gieo cấy và bằng 87,9% cùng kỳ năm trước, trong đó: Các địa phương phía Bắc thu hoạch được 614,1 nghìn ha, chiếm 60% và bằng 79,6%; các địa phương phía Nam thu hoạch được 279 nghìn ha, chiếm 52,3% và bằng 114,3%. Tiến độ thu hoạch lúa mùa năm nay ở các địa phương phía Bắc chậm hơn so với cùng kỳ năm trước do tác động của hiện tượng La Nina - thời tiết mát hơn làm kéo dài thời gian sinh trưởng của cây lúa vụ đông xuân nên ảnh hưởng đến tiến độ gieo cấy và thu hoạch lúa mùa. Ước tính năng suất lúa mùa đạt 52,66 tạ/ha, tăng 1 tạ/ha so với vụ mùa năm 2021; sản lượng đạt 8,2 triệu tấn, tăng 144 nghìn tấn.

Lúa hè thu

Cùng với chăm sóc và thu hoạch lúa mùa, các địa phương trên cả nước hoàn thành sản xuất lúa hè thu với diện tích gieo trồng đạt 1.915,6 nghìn ha, giảm 38,6 nghìn ha so với vụ hè thu năm 2021. Diện tích gieo cấy vụ hè thu năm nay giảm do chi phí đầu vào tăng cao nên người dân giảm diện tích xuống giống và chuyển đổi diện tích đất lúa kém hiệu quả, cho năng suất thấp sang trồng cây ăn quả, trồng cỏ hoặc chuyển sang nuôi trồng thủy sản cho hiệu quả kinh tế cao hơn. Theo báo cáo sơ bộ, năng suất lúa hè thu đạt 56,4 tạ/ha, giảm 0,6 tạ/ha so với vụ hè thu năm trước; sản lượng đạt 10,8 triệu tấn, giảm 340 nghìn tấn. Riêng vùng Đồng bằng sông Cửu Long, diện tích gieo trồng đạt 1.476,1 nghìn ha, giảm 32,9 nghìn ha[1] so với vụ hè thu năm 2021; năng suất đạt 56,5 tạ/ha, giảm 1,4 tạ/ha; sản lượng đạt 8,34 triệu tấn, giảm 314 nghìn tấn.

Lúa thu đông

Đến giữa tháng Mười, vùng Đồng bằng sông Cửu Long gieo cấy được 637,5 nghìn ha lúa thu đông, bằng 90,7% cùng kỳ năm trước. Đến nay, toàn vùng đã thu hoạch 279,2 nghìn ha, chiếm 43,8% diện tích gieo cấy và bằng 95,7% cùng kỳ năm trước. Diện tích lúa còn lại hiện nay chủ yếu ở giai đoạn chắc xanh đến chín, sinh trưởng và phát triển khá tốt.

Cây hàng năm

Tiến độ gieo trồng màu vụ đông tại các địa phương phía Bắc đạt thấp hơn so với cùng kỳ do thời tiết không thuận lợi, nhiều vùng bị ngập úng cùng với đó hiệu quả kinh tế từ các loại cây ngô, khoai lang, lạc không cao nên nông dân thu hẹp sản xuất.
Hình 1. Diện tích gieo trồng một số cây hàng năm
(Tính đến trung tuần tháng 10/2022)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022
Chăn nuôi

Chăn nuôi gia súc, gia cầm trong tháng phát triển ổn định, dịch bệnh cơ bản được kiểm soát. Hiện tại đang là thời điểm người chăn nuôi tập trung tái đàn, tăng đàn, chăm sóc đàn gia súc, gia cầm để cung ứng nguồn thịt ra thị trường những tháng cuối năm và các kỳ lễ tết sắp tới. Để ổn định thị trường sản xuất và tiêu thụ thịt trong nước, cần thực hiện quyết liệt và đồng thời nhiều biện pháp, chính sách chống đầu cơ, thao túng giá, đảm bảo quyền lợi của người chăn nuôi và người tiêu dùng.
Hình 2. Tốc độ tăng/giảm số lượng gia súc, gia cầm cuối tháng 10/2022
so với cùng thời điểm năm trước
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 1

Tính đến ngày 24/10/2022, cả nước không còn dịch lợn tai xanh; dịch cúm gia cầm còn ở Nghệ An; dịch lở mồm long móng còn ở Hà Tĩnh, Gia Lai; dịch viêm da nổi cục còn ở Quảng Ngãi, Đắk Lắk, Tiền Giang, Bến Tre và dịch tả lợn châu Phi còn ở 18 địa phương[2] chưa qua 21 ngày.

b) Lâm nghiệp

Diện tích rừng trồng mới tập trung cả nước tháng 10/2022 ước đạt 33,3 nghìn ha, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 7,8 triệu cây, tăng 2%; sản lượng củi khai thác đạt 1,5 triệu ste, tăng 0,7% sản lượng gỗ khai thác đạt 1.876,3 nghìn m3, tăng 6%. Sản lượng gỗ khai thác tăng cao so với cùng kỳ năm trước do hoạt động chế biến, xuất khẩu sản phẩm từ gỗ tăng khá, nhu cầu gỗ nguyên liệu cho các nhà máy chế biến tăng, giá gỗ keo tăng cao so cùng kỳ[3]. Một số địa phương có sản lượng gỗ khai thác tăng  so với cùng kỳ năm trước là: Quảng Trị tăng 64,9%; Thanh Hóa tăng 16,6%; Nghệ An tăng 13,5%.

Tính chung 10 tháng năm 2022, diện tích rừng trồng mới tập trung ước tính đạt 227 nghìn ha, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán đạt 78,3 triệu cây, tăng 5%; sản lượng củi khai thác đạt 15,4 triệu ste, tăng 0,3%; sản lượng gỗ khai thác đạt 15,6 triệu m3, tăng 6,2%.

Công tác bảo vệ rừng được ngành kiểm lâm nghiêm túc thực hiện, đồng thời các địa phương thực hiện tốt việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân nên diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng Mười và 10 tháng năm 2022 giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2021[4]. Diện tích rừng bị thiệt hại trong tháng 88,7 ha, giảm 28% so với cùng kỳ năm trước, trong đó chủ yếu do rừng bị chặt, phá với 88,2 ha, giảm 0,8%; diện tích rừng bị cháy là 0,5 ha, giảm 98,6%. Tính chung 10 tháng năm 2022, cả nước có 989,4 ha rừng bị thiệt hại, giảm 59,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích rừng bị cháy là 26,5 ha, giảm 98,2%; diện tích rừng bị chặt, phá là 963 ha, giảm 0,2%.

c) Thủy sản

Sản lượng thủy sản tháng Mười ước đạt 815,9 nghìn tấn, tăng 2,5% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể, cá đạt 583,5 nghìn tấn, tăng 2,4%; tôm đạt 123,2 nghìn tấn, tăng 3,7%; thủy sản khác đạt 109,2 nghìn tấn, tăng 2,1%.

Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong tháng ước đạt 517,5 nghìn tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 352,8 nghìn tấn, tăng 4,4%; tôm đạt 109,6 nghìn tấn, tăng 4,3%.

Sản lượng thu hoạch của cá tra trong tháng tiếp tục tăng so với cùng kỳ năm trước do cá tra là mặt hàng có lợi thế phù hợp với khả năng chi tiêu của người tiêu dùng trên thế giới trong bối cảnh lạm phát tăng cao cùng với đó giá cá tra ổn định giúp người nuôi có lãi[5]. Sản lượng cá tra trong tháng ước đạt 168,2 nghìn tấn, tăng 7,2% so với cùng kỳ năm trước.

Giá tôm nuôi cao và duy trì ở mức ổn định từ các tháng đầu năm 2022[6] cùng với việc phát triển các mô hình nuôi tôm thâm canh công nghệ cao, nuôi tôm siêu thâm canh giúp tăng sản lượng tôm nuôi. Sản lượng tôm thẻ chân trắng tháng Mười ước đạt 75,9 nghìn tấn, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 25,3 nghìn tấn, tăng 0,8%.

Sản lượng thủy sản khai thác trong tháng ước đạt 298,4 nghìn tấn, giảm 0,6% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 230,7 nghìn tấn, giảm 0,6%; tôm đạt 13,6 nghìn tấn, giảm 0,7%; thủy sản khác đạt 54,1 nghìn tấn, giảm 0,9%. Sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 279,9 nghìn tấn, giảm 0,7% so với cùng kỳ do điều kiện thời tiết ngư trường trong tháng Mười không thuận lợi cho ngư dân vươn khơi, bám biển.
 
Hình 3. Sản lượng thủy sản 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm 2021
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 2


Tính chung 10 tháng năm 2022, sản lượng thủy sản ước đạt 7.450,7 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 5.366,7 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 1.009,8 nghìn tấn, tăng 8,2%; thủy sản khác đạt 1.074,2 nghìn tấn, tăng 1,2%.

2. Sản xuất công nghiệp

Sản xuất công nghiệp tháng Mười tiếp tục phục hồi, ước tăng 3% so với tháng trước và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước do các doanh nghiệp đã chủ động hơn về lao động và kế hoạch sản xuất kinh doanh, khắc phục khó khăn để phục hồi, mở rộng sản xuất. Tính chung 10 tháng năm 2022, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước[7].

Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng Mười ước tăng 3% so với tháng trước[8] và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, so với cùng kỳ năm trước, ngành chế biến, chế tạo tăng 5,7%; ngành khai khoáng tăng 6,3%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 10,5%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 15,7%[9].

Tính chung 10 tháng năm 2022, IIP ước tăng 9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 tăng 3,8%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,6% (cùng kỳ năm 2021 tăng 5,1%), đóng góp 7,4 điểm phần trăm vào mức tăng chung; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,8%, đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 6,6%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; ngành khai khoáng tăng 5%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm trong mức tăng chung.

Chỉ số sản xuất 10 tháng năm 2022 của một số ngành công nghiệp trọng điểm cấp II tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất đồ uống tăng 31,5%; sản xuất trang phục tăng 19,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,7%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 17,5%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa tăng 17,3%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 16,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 12,8%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 11%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,8%; hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 10,2%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 9,7%. Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm: Sản xuất kim loại giảm 1,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic giảm 5,4%.

Biểu 1. Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP 10 tháng các năm 2018-2022
so với cùng kỳ năm trước của một số ngành công nghiệp trọng điểm
  %
  2018 2019 2020 2021 2022
Sản xuất đồ uống 8,0 10,7 -5,9 -4,3 31,5
Sản xuất trang phục 11,4 8,3 -5,3 5,5 19,2
Sản xuất da và các sản phẩm có liên quan 10,5 9,3 -2,8 4,1 17,7
Sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu 21,2 -3,4 30,8 -19,3 17,5
Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện 3,1 9,1 -6,8 4,1 17,3
Sản xuất máy móc, thiết bị
chưa được phân vào đâu
2,8 11,2 0,0 2,4 16,3
Sản xuất thiết bị điện 7,0 10,1 1,5 -1,7 12,8
Sản xuất phương tiện vận tải khác 6,0 -6,3 -9,9 -3,2 11,0
Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy 13,3 11,4 7,3 3,0 10,8
Hoạt động thu gom, xử lý và tiêu huỷ rác thải;
tái chế phế liệu
3,6 6,4 4,5 5,0 10,2
Sản xuất chế biến thực phẩm 7,8 9,2 4,3 0,7 9,7
Sản xuất kim loại 22,0 34,3 10,9 25,1 -1,5
Sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic 3,0 14,3 4,3 -2,0 -5,4
 
 
Chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng ở 61 địa phương và giảm ở 02 địa phương trên cả nước. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá cao do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao[10]. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp hoặc giảm do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chưa lấy lại đà tăng trưởng cao như thời điểm trước khi xảy ra dịch bệnh; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm[11].
 
Hình 4. Tốc độ tăng/giảm IIP 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 3
 
Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong 10 tháng năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Bia tăng 34,7%; thủy hải sản chế biến tăng 19,1%; linh kiện điện thoại tăng 16,5%; ô tô tăng 16,4%; thép thanh, thép góc tăng 15,2%; sơn hóa học tăng 11,1%; quần áo mặc thường tăng 10,7%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Dầu mỏ thô khai thác giảm 1,2%; ti vi giảm 1,4%; khí hóa lỏng LPG giảm 1,5%; vải dệt từ sợi nhân tạo giảm 2,3%; thức ăn cho thủy sản giảm 3,8%; điện thoại di động giảm 5,1%; phân hỗn hợp NPK giảm 5,9%; sắt, thép thô giảm 15,3%.
 
Số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 01/10/2022 tăng 0,8% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 10,2% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% và giảm 6,9%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,5% và tăng 4,8%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,1% và tăng 13,2%. Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 0,5% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 0,9% và tăng 10,9%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí không đổi và tăng 1%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,1% và tăng 3,6%.
 
3. Tình hình đăng ký doanh nghiệp[12]
 
Hoạt động sản xuất kinh doanh tháng Mười tiếp tục phục hồi nhất là lĩnh vực dịch vụ được dự báo sôi động hơn vào những tháng cuối năm nên số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới lĩnh vực thương mại dịch vụ tăng cao. Trong tháng cả nước có hơn 13 nghìn doanh nghiệp thành lập mới tăng 58,3% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới và quay trở lại hoạt động đạt 178,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó số doanh nghiệp thành lập mới tăng 34,3% và số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động tăng 49%.
 
Trong tháng Mười, cả nước có hơn 13 nghìn doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 106,9 nghìn tỷ đồng và số lao động đăng ký gần 76,9 nghìn lao động, tăng 13,6% về số doanh nghiệp, giảm 21,4% về vốn đăng ký và tăng 24,1% về số lao động so với tháng 9/2022. So với cùng kỳ năm trước, tăng 58,3% về số doanh nghiệp, giảm 1,5% về số vốn đăng ký và tăng 30,7% về số lao động. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong tháng đạt 8,2 tỷ đồng, giảm 30,8% so với tháng trước và giảm 37,8% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, cả nước còn có 3,9 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động, giảm 23,7% so với tháng trước và giảm 9,3% so với cùng kỳ năm 2021.
 
Tính chung 10 tháng năm 2022, cả nước có 125,8 nghìn doanh nghiệp đăng ký thành lập mới với tổng số vốn đăng ký gần 1.379,2 nghìn tỷ đồng và tổng số lao động đăng ký là 835 nghìn lao động, tăng 34,3% về số doanh nghiệp, tăng 5,7% về vốn đăng ký và tăng 18% về số lao động so với cùng kỳ năm trước. Vốn đăng ký bình quân một doanh nghiệp thành lập mới trong 10 tháng năm 2022 đạt 11 tỷ đồng, giảm 21,2% so với cùng kỳ năm 2021. Nếu tính cả 2.794,1 nghìn tỷ đồng vốn đăng ký tăng thêm của 42,6 nghìn lượt doanh nghiệp tăng vốn, tổng số vốn đăng ký bổ sung vào nền kinh tế trong 10 tháng năm 2022 là 4.173,3 nghìn tỷ đồng, tăng 31,1% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, còn có 52,7 nghìn doanh nghiệp quay trở lại hoạt động (tăng 49% so với cùng kỳ năm 2021), nâng tổng số doanh nghiệp thành lập mới và doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 10 tháng năm 2022 lên gần 178,5 nghìn doanh nghiệp, tăng 38,3% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân một tháng có 17,8 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động.
 
Theo khu vực kinh tế, 10 tháng năm nay có 1.684 doanh nghiệp thành lập mới thuộc khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước; hơn 31 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực công nghiệp và xây dựng, tăng 23,3%; gần 93,1 nghìn doanh nghiệp thuộc khu vực dịch vụ, tăng 39,1%.
 
Hình 5. Tình hình đăng ký doanh nghiệp 
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022
 
Cũng trong tháng Mười, có 4.058 doanh nghiệp đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 38,3% so với tháng trước và tăng 16,2% so với cùng kỳ năm 2021; có 4.200 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 0,3% và tăng 37,8%; có 1.602 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 5,7% và tăng 98,8%.
 
Tính chung 10 tháng năm 2022, số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 66,4 nghìn doanh nghiệp, tăng 36,9% so với cùng kỳ năm trước; 40,3 nghìn doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 15,2%; 15,4 nghìn doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 13,4%. Bình quân một tháng có 12,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
 
Biểu 2. Doanh nghiệp thành lập mới và giải thể 10 tháng năm 2022
phân theo một số lĩnh vực hoạt động
 
  Số lượng doanh nghiệp (Doanh nghiệp) Tốc độ tăng/giảm so với cùng kỳ năm trước (%)
Thành lập mới Giải thể Thành lập mới Giải thể
Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 44.413 5.436 39,2 9,0
Công nghiệp chế biến chế tạo 15.936 1.814 31,8 15,6
Xây dựng 13.596 1.413 17,6 12,1
Kinh doanh bất động sản 7.725 974 30,9 42,0
Vận tải kho bãi 6.055 572 26,2 -3,7
Dịch vụ lưu trú và ăn uống 5.426 751 75,2 -1,6
Sản xuất phân phối, điện, nước, gas 904 378 -11,5 25,2
 

4. Đầu tư

Vốn đầu tư từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười được các Bộ, ngành và địa phương nỗ lực tập trung triển khai, thực hiện và giải ngân với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Tính chung 10 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 67,1% kế hoạch, tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 10 tháng năm 2022 ước đạt 17,45 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng Mười ước đạt 53,6 nghìn tỷ đồng, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn Trung ương quản lý đạt gần 10 nghìn tỷ đồng, tăng 37,1%; vốn địa phương quản lý 43,6 nghìn tỷ đồng, tăng 21,6%. Tính chung 10 tháng năm 2022, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước ước đạt 387,7 nghìn tỷ đồng, bằng 67,1% kế hoạch năm và tăng 20,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 bằng 64,3% và giảm 7%). Cụ thể:

- Vốn đầu tư thực hiện do Trung ương quản lý ước đạt 69,4 nghìn tỷ đồng, bằng 62,3% kế hoạch năm và tăng 21,8% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 6. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2022 phân theo Bộ, ngành

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 1


- Vốn đầu tư thực hiện do địa phương quản lý ước đạt 318,3 nghìn tỷ đồng, bằng 68,2% kế hoạch năm và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó:

Vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh đạt 209,8 nghìn tỷ đồng, bằng 64,4% và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2021;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp huyện đạt 93,4 nghìn tỷ đồng, bằng 75,6% và tăng 27,8%;

Vốn ngân sách Nhà nước cấp xã đạt 15,1 nghìn tỷ đồng, bằng 86,2% và tăng 8,1%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2022 của một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

Hình 7. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2022 của một số địa phương
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 2

Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam[13] tính đến ngày 20/10/2022 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt gần 22,46 tỷ USD, giảm 5,4% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 8. Vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 20/10
các năm 2018-2022 (Tỷ USD)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 3


­­­- Vốn đăng ký cấp mới có 1.570 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 9,93 tỷ USD, tăng 14,2% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và giảm 23,7% về số vốn đăng ký. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 5,37 tỷ USD, chiếm 54% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 2,1 tỷ USD, chiếm 21,1%; các ngành còn lại đạt 2,46 tỷ USD, chiếm 24,8%.

Trong số 67 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư được cấp phép mới tại Việt Nam trong 10 tháng năm 2022, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất với 2,95 tỷ USD, chiếm 29,7% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Xin-ga-po 1,65 tỷ USD, chiếm 16,6%; Đan Mạch 1,32 tỷ USD, chiếm 13,3%; Trung Quốc 804,4 triệu USD, chiếm 8,1%; Hàn Quốc 779,5 triệu USD, chiếm 7,9%; Đặc khu hành chính Hồng Công (Trung Quốc) 752,2 triệu USD, chiếm 7,6%.

- Vốn đăng ký điều chỉnh có 880 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 8,74 tỷ USD, tăng 23,3% so với cùng kỳ năm trước.

Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 12,14 tỷ USD, chiếm 65% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 2,45 tỷ USD, chiếm 13,1%; các ngành còn lại đạt 4,08 tỷ USD, chiếm 21,9%.

- Vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 2.997 lượt với tổng giá trị góp vốn 3,79 tỷ USD, tăng 4,5% so cùng kỳ năm trước. Trong đó có 1.356 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 2,04 tỷ USD và 1.641 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 1,75 tỷ USD. Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,42 tỷ USD, chiếm 37,5% giá trị góp vốn; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 780,8 triệu USD, chiếm 20,6%; ngành còn lại 1,59 tỷ USD, chiếm 41,9%.

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 10 tháng năm 2022 ước tính đạt 17,45 tỷ USD, tăng 15,2% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 10 tháng trong 5 năm qua. Trong đó: Công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 13,68 tỷ USD, chiếm 78,4% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 1,34 tỷ USD, chiếm 7,7%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 1,29 tỷ USD, chiếm 7,4%.

Hình 9. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 10 tháng các năm 2018-2022

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 4


Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong 10 tháng năm 2022 có 90 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 390,1 triệu USD, gấp 1,8 lần so với cùng kỳ năm trước; có 19 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh tăng 61,9 triệu USD, giảm 85,5%.

Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 452,1 triệu USD, giảm 30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 224 triệu USD, chiếm 49,6% tổng vốn đầu tư; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 42,8 triệu USD, chiếm 9,5%; hoạt động khai khoáng đạt 39,8 triệu USD, chiếm 8,8%.

Trong 10 tháng năm 2022 có 25 quốc gia và vùng lãnh thổ nhận đầu tư của Việt Nam, trong đó: Xin-ga-po là nước dẫn đầu với 75,3 triệu USD, chiếm 16,7% tổng vốn đầu tư; Lào 70 triệu USD, chiếm 15,5%; Hoa Kỳ 38,2 triệu USD, chiếm 8,5%; Đức, Hà Lan, Pháp cùng đạt 34,7 triệu USD, cùng chiếm 7,7%.

5. Thu, chi ngân sách Nhà nước[14]

Thu ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2022 ước tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Chi ngân sách Nhà nước ước tăng 6,3% so với cùng kỳ năm 2021, đảm bảo nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, thanh toán các khoản nợ đến hạn, hỗ trợ người dân gặp khó khăn do dịch Covid-19 và khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh.

Hình 10. Thu, chi ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 4

Thu ngân sách Nhà nước:

Tổng thu ngân sách Nhà nước tháng 10/2022 ước đạt 130,3 nghìn tỷ đồng. Lũy kế tổng thu ngân sách Nhà nước 10 tháng năm 2022 đạt 1.464,3 nghìn tỷ đồng, bằng 103,7% dự toán năm và tăng 16,2% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, một số khoản thu chính như sau:

- Thu nội địa tháng 10/2022 ước đạt 110,1 nghìn tỷ đồng. Lũy kế 10 tháng năm 2022 đạt 1.157,7 nghìn tỷ đồng, bằng 98,4 % dự toán năm và tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu từ dầu thô tháng 10/2022 ước đạt 6,2 nghìn tỷ đồng; lũy kế 10 tháng năm 2022 đạt 65,5 nghìn tỷ đồng, bằng 232,4% dự toán năm và tăng 95% so với cùng kỳ năm trước.

- Thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu tháng 10/2022 ước đạt 14 nghìn tỷ đồng; lũy kế 10 tháng năm 2022 đạt 236,1 nghìn tỷ đồng, bằng 118,6% dự toán năm và tăng 21,9% so với cùng kỳ năm trước.

Chi ngân sách Nhà nước:

Tổng chi ngân sách Nhà nước tháng 10/2022 ước đạt 136,9 nghìn tỷ đồng; lũy kế 10 tháng năm 2022 ước đạt 1.219,2 nghìn tỷ đồng, bằng 68,3% dự toán năm và tăng 6,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, chi thường xuyên 10 tháng năm 2022 đạt 841,3 nghìn tỷ đồng, bằng 75,7% dự toán năm và tăng 5,4% so với cùng kỳ năm trước; chi đầu tư phát triển đạt 297,8 nghìn tỷ đồng, bằng 56,6% và tăng 16,8%; chi trả nợ lãi 78,3 nghìn tỷ đồng, bằng 75,5% và giảm 9,1%.

6. Thương mại, giá cả, vận tải và du lịch

a) Bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ tiếp tục phục hồi và tăng cao với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước đạt 486,4 nghìn tỷ đồng, tăng 1,5% so với tháng trước và tăng 17,1% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 4.643,6 nghìn tỷ đồng, tăng 20,2% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 5,1%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 16,1% (cùng kỳ năm 2021 giảm 6,8%).

Biểu 3. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Nghìn tỷ đồng

  Ước tính
tháng 10
năm 2022
Ước tính
10 tháng
năm 2022
Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)
 
  Tháng 10
năm 2022
10 tháng
năm 2022
 
Tổng số 486,4 4.643,6 17,1 20,2
Bán lẻ hàng hóa 379,3 3.675,4 9,6 15,0
Dịch vụ lưu trú, ăn uống 44,5 467,1 52,4 51,8
Du lịch lữ hành 2,1 19,7 424,0 291,6
Dịch vụ khác 60,5 481,4 52,5 36,5
 
 
 Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2022 tăng 13,9% so với 10 tháng năm 2019 - năm trước khi xảy ra dịch Covid-19. Mặc dù vậy, quy mô tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 10 tháng năm 2022 chỉ đạt 83,2% quy mô của chỉ tiêu này nếu ước tính trong điều kiện bình thường không xảy ra dịch Covid-19 từ năm 2020 đến nay.

Hình 11. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng  10 tháng các năm 2018-2022
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 5


Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2022 ước đạt 3.675,4 nghìn tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ năm trước (loại trừ yếu tố giá tăng 11%). Trong đó, nhóm vật phẩm văn hoá, giáo dục tăng 24,7%; may mặc tăng 17,3%; phương tiện đi lại (trừ ô tô) tăng 16%; lương thực, thực phẩm tăng 9,8%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 6,9%. Doanh thu bán lẻ hàng hóa 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Khánh Hòa tăng 30,2%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 26,7%; Bình Dương tăng 16,7%; Cần Thơ tăng 16,6%; Đà Nẵng tăng 14,6%; Hà Nội tăng 12,5%; Quảng Ninh tăng 11,2%; Hải Phòng tăng 9,5%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống 10 tháng năm 2022 ước đạt 467,1 nghìn tỷ đồng, tăng 51,8% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Cần Thơ tăng 126,1%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 110,8%; Đồng Nai và Đà Nẵng cùng tăng 78%; Hà Nội tăng 55,3%; Quảng Ninh tăng 48,2%.

Doanh thu du lịch lữ hành 10 tháng năm 2022 ước đạt 19,7 nghìn tỷ đồng, gấp 3,9 lần so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu 10 tháng năm 2022 của một số địa phương so với cùng kỳ năm trước như sau: Đà Nẵng tăng 741,4%; Cần Thơ tăng 647,4%; Hà Nội tăng 365%; Hải Phòng tăng 236%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 173,6%; Quảng Ninh tăng 47,7%.

Doanh thu dịch vụ khác 10 tháng năm 2022 ước đạt 481,4 nghìn tỷ đồng, tăng 36,5% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể mức tăng 10 tháng so với cùng kỳ năm trước của một số địa phương như sau: Đà Nẵng tăng 90,6%; Khánh Hòa tăng 70,6%; Cần Thơ tăng 58,3%; Đồng Nai tăng 54,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 31,4%; Hà Nội tăng 28,7%; Quảng Ninh tăng 23,8%; Bình Dương tăng 19,1%; Hải Phòng tăng 11,9%

b) Xuất nhập khẩu hàng hóa[15]

Trong tháng Mười, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 58,27 tỷ USD, tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm 2022, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 616,24 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 15,9%; nhập khẩu tăng 12,2%[16]. Cán cân thương mại hàng hóa 10 tháng năm 2022 ước tính xuất siêu 9,4 tỷ USD.

Hình 12. Xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2022

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 6


Xuất khẩu hàng hóa

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 9/2022 đạt 29,82 tỷ USD, thấp hơn 123 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 10/2022 ước đạt 30,27 tỷ USD, tăng 1,5% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 7,55 tỷ USD, tăng 8,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 22,72 tỷ USD, giảm 0,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 4,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 4,9%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 8,1%.

Tính chung 10 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 312,82 tỷ USD, tăng 15,9% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 80,36 tỷ USD, tăng 13,4%, chiếm 25,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 232,46 tỷ USD, tăng 16,8%, chiếm 74,3%.

Trong 10 tháng năm 2022 có 32 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 92,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 06 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 64,1%).

Biểu 4. Trị giá một số mặt hàng xuất khẩu 10 tháng năm 2022

 
 
 
Ước tính 10 tháng
năm 2022
(Triệu USD)
Tốc độ tăng/giảm
10 tháng năm 2022 so với
cùng kỳ năm trước (%)
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD    
Điện thoại và linh kiện 50.136 7,6
Điện tử, máy tính và linh kiện 46.595 14,0
Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác 38.305 28,1
Dệt, may 31.814 21,9
Giày dép 20.057 40,9
Gỗ và sản phẩm gỗ 13.475 11,4
 

Hình 13. Cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 10 tháng năm 2022 phân theo nhóm hàng
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 5

Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 10 tháng năm 2022, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản chiếm 1,3%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước; nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 89,1%, tăng 0,1 điểm phần trăm; nhóm hàng nông sản, lâm sản chiếm 6,6%, giảm 0,6 điểm phần trăm; nhóm hàng thủy sản chiếm 3%, tăng 0,4 điểm phần trăm.

Nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa sơ bộ tháng 9/2022 đạt 28,39 tỷ USD, thấp hơn 412 triệu USD so với số ước tính.

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 10/2022 ước đạt 28 tỷ USD, giảm 1,4% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 9,5 tỷ USD, giảm 1,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,5 tỷ USD, giảm 1,2%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng Mười tăng 7,1%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 6,2%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 7,5%.

Tính chung 10 tháng năm 2022, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 303,42 tỷ USD, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 105,28 tỷ USD, tăng 12,5%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 198,14 tỷ USD, tăng 12%.

Trong 10 tháng năm 2022 có 44 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 93% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 04 mặt hàng nhập khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 52,7%).
Biểu 5. Trị giá một số mặt hàng nhập khẩu 10 tháng năm 2022
 
  Ước tính 10 tháng năm 2022
(Triệu USD)
Tốc độ tăng/giảm
10 tháng năm 2022 so với
cùng kỳ năm trước (%)
Các mặt hàng đạt giá trị trên 10 tỷ USD    
Điện tử, máy tính và linh kiện 70.468 16,7
Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác 38.162 -0,5
Điện thoại và linh kiện 17.739 5,2
Vải 12.543 8,0
Chất dẻo 10.722 10,8
Sắt thép 10.282 6,7
 
Hình 14. Cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 10 tháng năm 2022 phân theo nhóm hàng
 

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 6

Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu 10 tháng năm 2022, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 93,7%, tăng 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 45%, giảm 1,2 điểm phần trăm; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 48,7%, tăng 1,3 điểm phần trăm. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng chiếm 6,3%, giảm 0,1 điểm phần trăm.

Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2022, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 93,4 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 100,7 tỷ USD. Trong 10 tháng năm 2022, xuất siêu sang EU ước đạt 26,7 tỷ USD, tăng 45,6% so với cùng kỳ năm trước; nhập siêu từ Trung Quốc 53,7 tỷ USD, tăng 18,8%; nhập siêu từ Hàn Quốc 32,1 tỷ USD, tăng 17,9%; nhập siêu từ ASEAN 10,1 tỷ USD, tăng 0,8%.
Hình 15. Thị trường xuất, nhập khẩu hàng hoá chủ yếu 10 tháng năm 2022

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 7

Cán cân thương mại hàng hóa sơ bộ tháng Chín xuất siêu 1,43 tỷ USD[17]; 9 tháng xuất siêu 7,13 tỷ USD; tháng Mười ước tính xuất siêu 2,27 tỷ USD. Tính chung 10 tháng năm 2022, cán cân thương mại hàng hóa ước tính xuất siêu 9,4 tỷ USD (cùng kỳ năm trước nhập siêu 0,63 tỷ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 24,9 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 34,3 tỷ USD.

c) Chỉ số giá tiêu dùng, chỉ số giá vàng và chỉ số giá đô la Mỹ

Giá thuê nhà tăng trở lại do nhu cầu của người dân tăng cao, một số địa phương tăng học phí năm học mới 2022-2023 đã làm cho chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 10/2022 tăng 0,15% so với tháng trước. So với tháng 12/2021, CPI tháng Mười tăng 4,16% và so với cùng kỳ năm trước tăng 4,3%.

Bình quân 10 tháng năm 2022, CPI tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước; lạm phát cơ bản tăng 2,14%.

Hình 16. Tốc độ tăng/giảm CPI của tháng 10 và 10 tháng 
các năm giai đoạn 2018-2022 (%)
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 8

Trong mức tăng 0,15% của CPI tháng 10/2022 so với tháng trước có 09 nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng và 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm.

Chín nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng gồm:

- Nhóm giáo dục tăng cao nhất với 2,35%, trong đó chỉ số giá dịch vụ giáo dục tăng 2,64% so với tháng trước do một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện tăng học phí năm học mới 2022-2023[18] đối với các trường mầm non, phổ thông và giáo dục thường xuyên công lập trên địa bàn. Ngoài ra, một số cơ sở giáo dục ngoài công lập phải tự chủ về kinh phí điều chỉnh mức tăng học phí phù hợp với quy định. Bên cạnh đó, vào năm học mới nên nhu cầu mua sắm sách vở và các dụng cụ học tập tăng. Giá sách giáo khoa tăng 0,29%; giá vở, giấy viết các loại tăng 0,09%; bút viết các loại tăng 0,18% so với tháng trước.

- Nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,69% (làm CPI chung tăng 0,13 điểm phần trăm) do sinh viên bắt đầu đi học nên nhu cầu thuê nhà tăng cao làm giá tiền thuê nhà ở tăng 8,85%; giá dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 0,49% do công sơn tường, lát gạch, xây tường, công lao động phổ thông tăng và nhu cầu xây dựng tăng cao; giá vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,08% do giá xi măng, gạch xây, gạch bê tông, tấm lợp, sơn tường tăng theo giá nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất. Ở chiều ngược lại, giá điện, nước sinh hoạt giảm lần lượt là 0,4% và 0,11% do nhu cầu sử dụng giảm; giá gas giảm 3,95% so với tháng trước do từ ngày 01/10/2022, giá gas trong nước điều chỉnh giảm 18.000 đồng/bình 12 kg sau khi giá gas thế giới giảm 65 USD/tấn (từ mức 640 USD/tấn xuống mức 575 USD/tấn); giá dầu hỏa giảm 5,07% so với tháng trước do ảnh hưởng của đợt điều chỉnh giá ngày 03/10/2022, 11/10/2022 và 21/10/2022.

- Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,34% do giá nguyên liệu sản xuất đồ uống và tỷ giá đô la Mỹ tăng cao[19].

- Nhóm may mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,2% do giá nguyên phụ liệu sản xuất, chi phí nhân công và nhu cầu mua sắm quần áo mùa đông tăng.

- Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,13% (làm CPI tăng 0,04 điểm phần trăm), trong đó: Lương thực tăng 0,13%[20] (làm CPI chung tăng 0,005 điểm phần trăm); thực phẩm tăng 0,1%[21] (làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm); ăn uống ngoài gia đình tăng 0,21% (làm CPI chung tăng 0,02 điểm phần trăm) do giá nguyên liệu chế biến cao.

- Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,12% tập trung chủ yếu ở các mặt hàng như: Giá đèn điện thắp sáng và đồ dùng bằng kim loại cùng tăng 0,34%; máy đánh trứng tăng 0,28%; máy vi tính và phụ kiện tăng 0,25%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,2%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,18%; bếp gas tăng 0,13%... Ở chiều ngược lại, giá máy xay sinh tố, ép hoa quả giảm 1,09%; bàn là điện giảm 1,74%; trang thiết bị nhà bếp giảm 1,86%.

- Nhóm thuốc và dịch vụ y tế Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch cùng tăng 0,06%.

- Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,23% tập trung chủ yếu ở mặt hàng đồ trang sức tăng 0,46%; cắt tóc gội đầu tăng 0,61%; dịch vụ chăm sóc người già tăng 0,69%; máy dùng điện cho chăm sóc cá nhân tăng 0,32%.

 (2) Hai nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm:

- Nhóm giao thông giảm 2,17% (làm CPI chung giảm 0,21 điểm phần trăm) do ảnh hưởng của các đợt điều chỉnh giá xăng dầu trong nước vào ngày 03/10/2022, 11/10/2022; 21/10/2022 và còn ảnh hưởng từ các đợt điều chỉnh giảm trong tháng 9/2022 làm cho giá xăng giảm 5,99%; giá dầu diezen giảm 0,6%. Ở chiều ngược lại, giá xe máy; phụ tùng ô tô; lốp, săm xe máy; lốp, săm xe đạp tiếp tục tăng lần lượt là 0,31%; 0,15%; 0,28%; 0,73% do nhu cầu tăng và nguồn cung hạn chế.

- Nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%.

Lạm phát cơ bản[22] tháng 10/2022 tăng 0,45% so với tháng trước, tăng 4,47% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 10 tháng năm 2022, lạm phát cơ bản tăng 2,14% so với cùng kỳ năm 2021, thấp hơn mức CPI bình quân chung (tăng 2,89%), điều này phản ánh biến động giá tiêu dùng chủ yếu do giá lương thực và giá xăng dầu.

Giá vàng trong nước biến động trái chiều với giá vàng thế giới. Tính đến ngày 25/10/2022, bình quân giá vàng thế giới ở mức 1.766,26 USD/ounce, giảm 0,66% so với tháng 9/2022 do các nhà đầu tư lo ngại Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) sẽ tăng lãi suất thêm 75 điểm cơ bản tại hai cuộc họp vào tháng 11 và tháng 12 năm nay khiến đồng USD có thể tăng giá mạnh so với các đồng tiền khác, kéo theo đà tăng lợi suất trái phiếu Mỹ và giá vàng thế giới có thể rơi vào thế bất lợi. Trong nước, chỉ số giá vàng tháng 10/2022 tăng 0,5% so với tháng trước; tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 10 tháng năm 2022 tăng 6,08%.

Đồng đô la Mỹ trên thị trường thế giới tăng sau khi FED tăng lãi suất và nhiều khả năng FED sẽ tiếp tục chính sách thắt chặt tiền tệ trong thời gian dài. Tính đến ngày 25/10/2022, chỉ số đô la Mỹ trên thị trường quốc tế đạt mức 112,24 điểm, tăng 1,35 điểm so với tháng trước. Trong nước, giá đô la Mỹ bình quân trên thị trường tự do quanh mức 24.080 VND/USD. Chỉ số giá đô la Mỹ tháng 10/2022 tăng 1,84% so với tháng trước và tăng 5,42% so với cùng kỳ năm 2021; bình quân 10 tháng năm 2022 tăng 1,17%.

d) Vận tải hành khách và hàng hóa

Hoạt động vận tải trong tháng Mười tăng trưởng tích cực cả về vận tải hành khách và hàng hóa so với cùng kỳ năm trước, trong đó vận chuyển hành khách gấp 2,7 lần và luân chuyển hành khách gấp 3,8 lần; vận chuyển hàng hóa tăng 32,9% và luân chuyển hàng hóa tăng 40,1%.

Tính chung 10 tháng năm 2022, vận chuyển hành khách tăng 44,9% và luân chuyển tăng 68,8% so với cùng kỳ năm trước; vận chuyển hàng hóa tăng 23,7% và luân chuyển tăng 32,6% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách tháng Mười ước đạt 296,4 triệu lượt khách vận chuyển, giảm 0,5% so với tháng trước và luân chuyển 14,4 tỷ lượt khách.km, tăng 0,3%. Tính chung 10 tháng năm 2022, vận tải hành khách ước đạt 3.086,7 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 44,9% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 27,4%) và luân chuyển đạt 146,1 tỷ lượt khách.km, tăng 68,8% (cùng kỳ năm trước giảm 34,7%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 3.083,2 triệu lượt khách vận chuyển, tăng 44,7% so với cùng kỳ năm trước và 134,5 tỷ lượt khách.km luân chuyển, tăng 56%; vận tải ngoài nước đạt 3,5 triệu lượt khách vận chuyển, gấp 33,1 lần và 11,6 tỷ lượt khách.km luân chuyển, gấp 30,1 lần cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách mặc dù đã có nhiều khởi sắc nhưng sản lượng vận chuyển 10 tháng năm nay chỉ bằng 73,8% và luân chuyển bằng 71,2% so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa có dịch Covid-19.

Biểu 5. Vận tải hành khách 10 tháng năm 2022 phân theo ngành vận tải

 
  Số lượt hành khách Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)
  Vận chuyển
(Triệu HK)
Luân chuyển
(T
HK.km)
Vận chuyển Luân chuyển
Tổng số 3.086,7 146,1 44,9 68,8
Đường sắt 3,7 1,4 187,1 140,2
Đường biển 6,9 0,3 61,7 79,5
Đường thủy nội địa 200,0 2,9 41,6 19,3
Đường bộ 2.833,2 93,2 43,8 31,4
Hàng không 42,9 48,3 215,6 288,7
 
Vận tải hàng hóa tháng Mười ước đạt 172,4 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,8% so với tháng trước và luân chuyển 39,7 tỷ tấn.km, giảm 1,8%. Tính chung 10 tháng năm 2022, vận tải hàng hóa ước đạt 1.644,1 triệu tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 23,7% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 7,1%) và luân chuyển 359,6 tỷ tấn.km, tăng 32,6% (cùng kỳ năm trước giảm 0,8%). Trong đó, vận tải trong nước đạt 1.608,4 triệu tấn vận chuyển, tăng 23,5% và 219,3 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 50,7%; vận tải ngoài nước đạt 35,7 triệu tấn vận chuyển, tăng 33,6% và 140,3 tỷ tấn.km luân chuyển, tăng 11,6%. Các doanh nghiệp đi vào hoạt động ổn định, xuất nhập khẩu tiếp tục khởi sắc nên nhu cầu vận tải hàng hóa trong và ngoài nước 10 tháng năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ các năm trước[23].

Biểu 6. Vận tải hàng hóa 10 tháng năm 2022 phân theo ngành vận tải

  Sản lượng hàng hóa Tốc độ tăng so với
cùng kỳ năm trước (%)
  Vận chuyển
(Triệu tấn)
Luân chuyển
(Tỷ tấn.km)
Vận chuyển Luân chuyển
Tổng số 1644,1 359,6 23,7 32,6
Đường sắt 4,8 3,8 4,9 19,6
Đường biển 87,8 192,1 28,2 37,9
Đường thủy nội địa 332,5 77,3 26,9 38,4
Đường bộ 1.218,8 81,3 22,6 18,9
Hàng không 0,2 5,1 6,2 11,4
 

 đ) Khách quốc tế đến Việt Nam[24]

Khách quốc tế đến Việt Nam tháng Mười[25] đạt 484,4 nghìn lượt người, tăng 12,1% so với tháng trước và gấp 45,9 lần so với cùng kỳ năm trước do Việt Nam đã mở cửa du lịch, các đường bay quốc tế được khôi phục trở lại. Tính chung 10 tháng năm 2022, khách quốc tế đến nước ta đạt 2.357,2 nghìn lượt người, gấp 18,8 lần so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn giảm 83,7% so với cùng kỳ năm 2019, năm chưa xảy ra dịch Covid-19.

Trong tổng số hơn 2.357,2 nghìn lượt khách quốc tế đến Việt Nam 10 tháng năm nay, khách đến bằng đường hàng không đạt 2.093,7 nghìn lượt người, chiếm 88,8% lượng khách quốc tế đến Việt Nam và gấp 24,9 lần so với cùng kỳ năm trước; bằng đường bộ đạt 262,8 nghìn lượt người, chiếm gần 11,2% và gấp 6,5 lần; bằng đường biển đạt 745 lượt người, chiếm 0,03% và tăng 49,3%.

Hình 17. Khách quốc tế đến Việt Nam 10 tháng năm 2022 phân theo vùng lãnh thổ

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 10 và 10 tháng năm 2022 7

 

7. Một số tình hình xã hội

a) Đời sống dân cư

Theo kết quả sơ bộ từ Khảo sát mức sống dân cư trong 10 tháng năm 2022, tình hình đời sống của hộ dân cư tiếp tục khả quan hơn. Tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập trong tháng không thay đổi và tăng lên so với tháng cùng kỳ năm 2021 là 84,1%; tỷ lệ hộ đánh giá có thu nhập giảm là 15,9%. Trong các nguyên nhân làm giảm thu nhập của hộ gia đình có 71,8% hộ gia đình đánh giá do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19; 20,0% hộ đánh giá do thành viên của hộ mất việc làm/tạm nghỉ việc và 16,3% hộ đánh giá do chi phí đầu vào cho các hoạt động SXKD của hộ tăng lên. Về tác động của các sự kiện tiêu cực đến đời sống trong 10 tháng năm 2022, các hộ gia đình đánh giá như sau: 57,4% hộ đang phải chịu những ảnh hưởng tiêu cực từ đại dịch Covid-19; 2,3% hộ gia đình chịu ảnh hưởng tiêu cực từ dịch bệnh đối với vật nuôi, cây trồng và có 1,9% hộ chịu ảnh hưởng do thiên tai.

Trong 10 tháng năm 2022, có 24,5% hộ gia đình nhận được sự trợ giúp từ các nguồn hỗ trợ khác nhau. Cụ thể, tỷ lệ hộ nhận được trợ giúp từ các chương trình, chính sách chung của quốc gia là 10,3%; từ họ hàng, người thân là 11,9%; từ các chương trình, chính sách của địa phương là 9,2%; từ các hoạt động từ thiện của các tổ chức và cá nhân khác là 5,2% và từ các nguồn khác là gần 0,2%.

Theo báo cáo của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội, tính đến ngày 24/10/2022 gói hỗ trợ theo Nghị quyết số 11/NQ-CP đã giải ngân khoảng 3.723,8 tỷ đồng hỗ trợ cho hơn 5 triệu người lao động tại 122.253 doanh nghiệp. Trong đó, hỗ trợ 3.196,6 tỷ đồng cho 4,8 triệu người lao động đang làm việc trong 93.286 doanh nghiệp; hỗ trợ 527,2 tỷ đồng cho 450 nghìn lao động quay trở lại thị trường lao động tại 28.967 doanh nghiệp. Ngoài ra, để người dân không bị thiếu đói, Chính phủ đã xuất cấp 1.380,3 tấn gạo cho người dân trong thời giáp hạt năm 2022, cụ thể: cấp xuất cho tỉnh Sóc Trăng 208,5 tấn; Nghệ An 693,5 tấn; Gia Lai 478,3 tấn.

b) Tình hình dịch bệnh, ngộ độc thực phẩm

Theo báo cáo của Bộ Y tế, trong tháng (19/9-18/10/2022), cả nước có 59.191 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (24 trường hợp tử vong); 6.605 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng; 24 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (01 trường hợp tử vong); 01 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 34 trường hợp sốt phát ban nghi sởi. Tính chung 10 tháng năm 2022, cả nước có 258.709 trường hợp mắc bệnh sốt xuất huyết (102 trường hợp tử vong); 55.444 trường hợp mắc bệnh tay chân miệng (03 trường hợp tử vong); 239 trường hợp mắc bệnh viêm não vi rút (05 trường hợp tử vong); 11 trường hợp mắc bệnh viêm màng não do não mô cầu; 239 trường hợp sốt phát ban nghi sởi.

Trên thế giới, dịch Covid-19 vẫn tiếp tục gia tăng về số ca mắc[26]. Tại Việt Nam, trong những ngày vừa qua số ca mắc mới Covid-19 liên tục giảm, số bệnh nhân nặng phải thở ô xy cũng giảm. Kể từ ca mắc Covid-19 đầu tiên tại Việt Nam vào ngày 23/01/2020 đến ngày 27/10/2022, Việt Nam có 11.499,4 nghìn trường hợp mắc, trong đó 10.602,3 nghìn trường hợp đã được chữa khỏi và 43,2 nghìn trường hợp tử vong.

Tỷ lệ tiêm vắc xin phòng Covid-19 mũi 3, mũi 4 và cho nhóm trẻ em từ 5 -11 tuổi ở một số địa phương còn thấp. Từ ngày 08/3/2021 đến ngày 26/10/2022, tổng số liều vắc xin phòng Covid-19 đã được tiêm là 261.608,5 nghìn liều, trong đó tiêm mũi 1 là 90.059,5 nghìn liều; tiêm mũi 2 là 84.433,8 nghìn liều; mũi bổ sung là 14.501,4 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 1 là 56.500 nghìn liều; mũi nhắc lại lần 2 là 16.113,8 nghìn liều.

Tổng số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống tính đến thời điểm 18/10/2022 là 220.580 người và số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là 112.368 người.

Về ngộ độc thực phẩm, trong tháng 10/2022 xảy ra 04 vụ với 37 người bị ngộ độc. Tính chung 10 tháng năm 2022, cả nước xảy ra 43 vụ với 581 người bị ngộ độc (11 người tử vong).

c) Hoạt động văn hóa, thể thao

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa có nhiều khởi sắc và đạt được những thành tựu quan trọng. Bên cạnh đó, nhận thức của toàn xã hội về di sản văn hóa, về vai trò của công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa từng bước được nâng cao. Nhiều di sản văn hóa được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, nổi bật trong tháng Mười là Lễ đón nhận Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Lễ hội truyền thống Lễ kết chạ Kiều Mai - Phú Mỹ.

Các phong trào tập luyện thể dục thể thao quần chúng được đẩy mạnh và tổ chức rộng khắp các địa phương, một số hoạt động nổi bật diễn ra trong tháng như: Đại hội thể dục thể thao diễn ra ở Ninh Bình, Sơn La, Hà Nam, Nam Định, Quảng Ninh, Lâm Đồng.

Về thể thao thành tích cao, trong tháng 10/2022 diễn ra một số sự kiện nổi bật như: Tại giải cờ vua trẻ châu Á năm 2022 diễn ra từ ngày 14-21/10/2022 tại In-đô-nê-xi-a, đội tuyển Việt Nam đã giành ngôi nhất toàn đoàn với 39 huy chương vàng, 21 huy chương bạc và 9 huy chương đồng; tổ chức thành công Giải vô địch điền kinh quốc gia các nội dung tiếp sức năm 2022 diễn ra ngày 13/10/2022 tại Hà Nội; Giải Bóng bàn các đội mạnh quốc gia năm 2022 diễn ra từ 17 - 23/10/2022 tại Đắk Lắk; Ngày hội Xe đạp phong trào toàn quốc lần thứ 3 năm 2022 diễn ra ngày 23/10/2022 tại Bình Thuận.

d) Tai nạn giao thông[27]

Trong tháng Mười (từ 15/9-14/10/2022), trên địa bàn cả nước xảy ra 899 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 645 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 254 vụ va chạm giao thông, làm 507 người chết, 349 người bị thương và 245 người bị thương nhẹ. So với tháng trước, số vụ tai nạn giao thông tăng 9% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 15,2% và số vụ va chạm giao thông giảm 4,2%) số người chết tăng 15,8%; số người bị thương tăng 13,7% và số người bị thương nhẹ giảm 13,1%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông tháng Mười tăng 12,7% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 23,1% và số vụ va chạm giao thông giảm 7,3%); số người chết tăng 34,5%; số người bị thương tăng 14,8% và số người bị thương nhẹ giảm 8,9%.

Tính chung 10 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 9.212 vụ tai nạn giao thông, bao gồm 6.430 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 2.782 vụ va chạm giao thông, làm 5.221 người chết, 3.312 người bị thương và 2.828 người bị thương nhẹ. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giao thông trong 10 tháng năm nay tăng 3,1% (số vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên tăng 11,6%; số vụ va chạm giao thông giảm 12,3%); số người chết tăng 15,4%; số người bị thương tăng 10,4% và số người bị thương nhẹ giảm 11,7%. Bình quân 1 ngày trong 10 tháng, trên địa bàn cả nước xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông, gồm 21 vụ tai nạn giao thông từ ít nghiêm trọng trở lên và 9 vụ va chạm giao thông, làm 17 người chết, 11 người bị thương và 9 người bị thương nhẹ.

đ) Thiệt hại do thiên tai[28]

Thiệt hại do thiên tai trong tháng Mười chủ yếu do ảnh hưởng của bão, mưa lớn, ngập lụt, sạt lở đất làm 26 người chết và mất tích, 193 người bị thương; 18,1 nghìn ngôi nhà bị sập đổ, cuốn trôi và hư hỏng; 495,5 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 10,4 nghìn ha lúa và 17,9 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản do thiên tai gây ra trong tháng là 7,41 nghìn tỷ đồng (trong đó thiệt hại do bão, mưa lũ là 7,38 nghìn tỷ đồng, chiếm 99,7% tổng thiệt hại), gấp gần 7 lần cùng kỳ năm ngoái. Một số đại phương chịu thiệt hại nặng nề: Quảng Nam thiệt hại 3.395,3 tỷ đồng; Đà Nẵng thiệt hại 1.519,2 tỷ đồng; Nghệ An thiệt hại 947,7 tỷ đồng; Quảng Ngãi thiệt hại 415,2 tỷ đồng; Thanh Hóa thiệt hại 376,1 tỷ đồng; Thừa Thiên - Huế thiệt hại 238,9 tỷ đồng...

Tính chung 10 tháng năm nay, thiên tai làm 160 người chết và mất tích, 279 người bị thương; 37,3 nghìn ngôi nhà bị sập đổ và hư hỏng; 748,7 nghìn con gia súc, gia cầm bị chết; 212,5 nghìn ha lúa và 62,7 nghìn ha hoa màu bị hư hỏng; tổng giá trị thiệt hại về tài sản ước tính 14.025,3 tỷ đồng, gấp 5,8 lần cùng kỳ năm 2021.

e) Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Trong tháng 10/2022, theo báo cáo từ các Cục Thống kê tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các cơ quan chức năng đã phát hiện 1.870 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 1.618 vụ với tổng số tiền phạt gần 27 tỷ đồng, tăng 17,7% so với tháng trước và tăng 59,9% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm nay đã phát hiện 18.522 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 16.133 vụ với tổng số tiền phạt là 222,5 tỷ đồng, tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước.

Trong tháng[29], cả nước xảy ra 106 vụ cháy, nổ, làm 3 người chết và 8 người bị thương, thiệt hại ước tính 31,1 tỷ đồng, tăng 108,5% so với tháng trước và tăng 141,4 cùng kỳ năm trước. Tính chung 10 tháng năm nay, trên địa bàn cả nước xảy ra 1.391vụ cháy, nổ, làm 107 người chết và 93 người bị thương, thiệt hại ước tính 567,6 tỷ đồng, tăng 59,1% so với cùng kỳ năm trước./.

TỔNG CỤC THỐNG KÊ

 


 

[1] Một số tỉnh có diện tích giảm nhiều: An Giang giảm 7,9 nghìn ha; Long An giảm 4,1 nghìn ha; Vĩnh Long giảm 3,5 nghìn ha; Trà Vinh giảm 2,8 nghìn ha.

[2] Cao Bằng, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Điện Biên, Hòa Bình, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Bình Phước, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, Kiên Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng và Bạc Liêu.

[3] Trong tháng 10, giá gỗ keo bóc vỏ tại Quảng Trị bán cho nhà máy sản xuất với giá 1.400 nghìn đồng/tấn, tăng 350 nghìn đồng/tấn so với cùng kỳ năm 2021.

[4] Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tính đến 15/10/2022.

[5] http://agromonitor.vn/group/48/280/giam-sat-gia: Tại các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long Với, giá cá tra nguyên liệu loại 0,8-1,0 kg/con dao động từ 28.000-31.500 đồng/kg người nuôi đã có có lãi từ 4.000-6.000 đồng/kg

[6] http://agromonitor.vn/group/47/272/giam-sat-gia: Giá tôm thẻ chân trắng loại 100 con/kg dao động từ 88.000-94.000 đồng/kg; loại 80 con/kg dao động từ 100.000-106.000 đồng/kg; giá tôm sú loại 20 con/kg dao động ở mức 300.000 đồng/kg, tăng 20.000 đồng/kg so với cùng kỳ năm trước.

[7] Tốc độ tăng chỉ số sản xuất công nghiệp 10 tháng các năm 2018-2022 so với cùng kỳ năm trước lần lượt là: 10,3%; 9,5%; 2,6%; 3,8%; 9,0%.

[8] Tốc độ tăng chỉ số IIP tháng 10/2022 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn là: Hà Tĩnh tăng 24,2%; Phú Thọ tăng 18,4%; Hải Phòng tăng 9,2%; Vĩnh Phúc tăng 6,4%; Long An tăng 5,8%; Bắc Giang tăng 5,4%; Thái Nguyên tăng 5%; Quảng Ninh tăng 3,3%; Hưng Yên tăng 3%; Tiền Giang tăng 2,4%; Bình Dương tăng 1,4%; Đồng Nai tăng 1,3%.

[9] Đơn hàng sụt giảm, giá thép thế giới có nhiều biến động, giá nguyên vật liệu đầu vào ở mức cao, ảnh hưởng của bão số 6 làm hoạt động sản xuất công nghiệp tại một số tỉnh miền Trung bị gián đoạn… dẫn đến chỉ số sản xuất ngành chế biến, chế tạo tháng 10/2022 chỉ tăng 5,7% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số IIP ngành điện tháng 10/2022 tăng cao do chỉ số sản xuất của ngành điện dùng trong lĩnh vực thương nghiệp, khách sạn nhà hàng tăng 65,9% (cùng kỳ năm trước ngành sản xuất và phân phối điện tăng thấp 3,1%). Chỉ số IIP ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng cao 15,7% do ngành thoát nước và xử lý nước thải tăng 22,7%; ngành hoạt động thu gom, xử lý và tiêu hủy rác thải, tái chế phế liệu tăng 29,3% (cùng kỳ năm trước giảm lần lượt là 1,7% và 3,5%).

[10] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng cao: Bắc Giang tăng 41,8%; Cần Thơ tăng 38,4%; Vĩnh Long tăng 30,8%; Kiên Giang tăng 27%; Quảng Nam tăng 25,2%; Khánh Hòa tăng 24,9%; Bình Phước tăng 22,9%; Sơn La tăng 11,5%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao: Đắk Lắk tăng 38,8%; Lai Châu tăng 29,8%; Sơn La tăng 27,8% do thủy điện tăng cao.

[11] Địa phương có chỉ số sản xuất của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng thấp hoặc giảm là: Bình Định tăng 6,7%; Bắc Kạn tăng 6,8%; Ninh Bình tăng 4%; Đắk Nông tăng 0,6%; Hà Tĩnh giảm 12,3%. Địa phương có chỉ số của ngành sản xuất và phân phối điện 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước giảm: Quảng Ninh giảm 4,5%; Bình Thuận giảm 1,1%; Hà Tĩnh giảm 32,2%; Trà Vinh giảm 36%. Địa phương có ngành khai khoáng 10 tháng năm 2022 so với cùng kỳ năm trước tăng thấp hoặc giảm: Bà Rịa - Vũng Tàu tăng 2,6%; Hà Tĩnh giảm 3,8%; Cà Mau giảm 17,4%; Bình Định giảm 20,6%.

[12] Nguồn: Hệ thống thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ngày 26/10/2022.

[13]Theo báo cáo của Cục Đầu tư nước ngoài, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhận ngày 22/10/2022.

[14] Theo Báo cáo tình hình cân đối Ngân sách Nhà nước đến ngày 28/10/2022 của Bộ Tài chính.

[15] Ước tính tổng trị giá xuất khẩu, nhập khẩu tháng 10/2022 do Tổng cục Hải quan cung cấp ngày 27/10/2022. Tổng cục Thống kê ước tính trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu tháng 10/2022 dựa trên số liệu sơ bộ về trị giá xuất, nhập khẩu một số mặt hàng chủ yếu đến hết ngày 25/10/2022 do Tổng cục Hải quan cung cấp.

[16] Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa 10 tháng năm 2021 đạt 540,3 tỷ USD, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu đạt 269,8 tỷ USD, tăng 17,4%; nhập khẩu đạt 270,5 tỷ USD, tăng 28,7%.

[17] Ước tính tháng Chín xuất siêu 1,14 tỷ USD.

[18] Tốc độ tăng chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tháng Mười so với tháng trước của một số địa phương: Khánh Hòa tăng 83,56%; Lai Châu tăng 56,18%; Nam Định tăng 51,72%; Ninh Thuận tăng 47,49%; Bình Thuận tăng 45,47%; Phú Yên tăng 39,48%; Thái Bình tăng 37,19%; Đồng Tháp tăng 25,18%; Thanh Hóa tăng 18,4%; Bạc Liêu tăng 10,31%; Hà Giang tăng 9,37%; Tiền Giang tăng 8,28%.

[19] Giá nước khoáng tăng 0,44% so với tháng trước; giá nước giải khát có ga tăng 0,48%; nước uống tăng lực đóng chai tăng 0,25%; rượu bia tăng 0,44% và thuốc hút tăng 0,2%.

[20] Chỉ số giá mỳ sợi, mỳ, phở, cháo ăn liền tăng 0,34%; bột mỳ tăng 0,26%; bột ngô tăng 0,88%; ngô tăng 1,01%; miến tăng 0,2%; bánh mỳ tăng 0,74%; ngũ cốc ăn liền tăng 0,32% do giá nguyên liệu đầu vào tăng. Riêng chỉ số giá nhóm gạo giảm 0,02% do các địa phương đã thu hoạch xong vụ lúa hè thu nên nguồn cung dồi dào.

[21] Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 5, áp thấp nhiệt đới kết hợp với không khí lạnh gây mưa to tại nhiều địa phương làm ngập úng nhiều diện tích cây trồng và gây khó khăn cho hoạt động khai thác thủy sản biển làm một số mặt hàng tăng giá: Giá thủy hải sản tươi sống tăng 0,31%; giá rau tươi, khô và chế biến tăng 2,22%. Ngoài ra, giá nước mắm, nước chấm tăng 0,32%; sữa, bơ, pho mát tăng 0,32%; đường, mật tăng 0,26%; bánh, mứt, kẹo tăng 0,12%; chè, cà phê, ca cao tăng 0,26% do giá nguyên vật liệu tăng. Ở chiều ngược lại, giá thịt lợn giảm 1,41% do nguồn cung dồi dào (làm CPI chung giảm 0,05 điểm phần trăm); giá thịt gia cầm giảm 0,21%; giá dầu mỡ ăn và chất béo giảm 0,26%.

[22] CPI sau khi loại trừ lương thực, thực phẩm tươi sống, năng lượng và mặt hàng do Nhà nước quản lý bao gồm dịch vụ y tế và giáo dục.

[23] Vận tải hàng hóa 10 tháng năm 2022 tăng 6,2% về vận chuyển và tăng 19,8% về luân chuyển so với cùng kỳ năm 2019.

[24] Theo báo cáo của Cục cửa khẩu, Bộ Tư lệnh Bộ đội biên phòng, Bộ Quốc phòng và Cục Xuất nhập cảnh, Bộ Công an.

[25] Kỳ báo cáo từ ngày 21/9/2022-20/10/2022.

[26] Từ cuối tháng 12/2019 đến ngày 27/10/2022 trên thế giới có 634.321,4 nghìn trường hợp mắc Covid-19 (6.588,1 nghìn trường hợp tử vong).

[27] Theo báo cáo nhanh từ Văn phòng Bộ Công an và Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông vận tải) ngày 23/10/2022.

[28] Tổng hợp Báo cáo từ 63 Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, kỳ báo cáo từ ngày 19/9-18/10/2022.

[29] Theo báo cáo nhanh từ Bộ Công an ngày 23/10/2022.

Các bài viết khác
Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top