Phạm vi và nguồn thông tin đánh giá lại quy mô Tổng sản phẩm trong nước

03/09/2019 - 10:38 AM - 285 lượt xem
Phạm vi đánh giá lại quy mô Tổng sản phẩm trong nước
 
Theo quy định hạch toán và điều kiện thực tiễn của mỗi quốc gia, khu vực kinh tế chưa được quan sát (gồm 5 thành tố); mỗi thành tố cấu thành của nó được xem xét, đo lường và bổ sung vào quy mô GDP với các mức rất khác nhau. Hiện, Tổng cục Thống kê triển khai thực hiện đánh giá lại quy mô GDP chính là thực hiện nội dung của thành tố thứ năm của khu vực kinh tế chưa được quan sát, đó là “Hoạt động kinh tế bị bỏ sót trong các chương trình thu thập dữ liệu thống kê”. Thực hiện đánh giá lại quy mô GDP chỉ xem xét, rà soát các hoạt động kinh tế thuộc phạm vi sản xuất theo quy định của Việt Nam, chưa đề cập tới các hoạt động kinh tế ngầm và kinh tế bất hợp pháp thuộc khu vực kinh tế chưa được quan sát.

 
Phạm vi và nguồn thông tin đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước

Ảnh minh họa, nguồn Internet
 
Phạm vi đánh giá lại quy mô Tổng sản phẩm trong nước bao gồm:
 
(i) Xem xét, soát các ngành trong nền kinh tế giai đoạn 2010-2017
 
Thực hiện xem xét, soát từ nguồn thông tin và kết quả tính toán chi tiết đến 88 ngành kinh tế cấp 2; 21 ngành kinh tế cấp 1 và 3 khu vực kinh tế cho giai đoạn 2010-2017 của toàn bộ nền kinh tế.
 
Trong ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản, căn cứ vào Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản năm 2011 và 2016 để xác định các hoạt động bị thiếu, các sản phẩm chưa chi tiết hoặc chưa cập nhật. Các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản được phân chi tiết theo theo mã sản phẩm cấp 9 trên cơ sở bảng giá gồm 661 sản phẩm, theo từng nhóm sản phẩm tách chi tiết theo phẩm cấp, chất lượng của sản phẩm; bổ sung số liệu sản lượng sản phẩm chất lượng cao, sản phẩm mới của địa phương. Phân tách chi tiết như vậy sẽ đảm bảo đầy đủ hơn về phạm vi do đã bổ sung phần giá trị sản phẩm tăng lên từ kết quả thực hiện chuyển dịch cơ cấu sản phẩm trong hoạt động nông nghiệp và thủy sản thời gian qua. Trên cơ sở số liệu GO tính chi tiết theo mã sản phẩm cấp 9, VA được tổng hợp và tính toán chi tiết cho 3 ngành kinh tế cấp 2; tổng hợp lên ngành cấp 1 và khu vực I (nông, lâm nghiệp và thủy sản).
 
Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính, sự nghiệp năm 2012 và Tổng điều tra kinh tế năm 2017 là căn cứ quan trọng cho các ngành công nghiệp, xây dựng, thương mại và dịch vụ xem xét lại phạm vi tính toán. Tổng điều tra kinh tế đảm bảo nguồn thông tin đầy đủ và chi tiết, hạn chế tối đa bất cập về suy rộng số liệu của điều tra chọn mẫu; khắc phục tình trạng bỏ sót quan sát, thiếu hợp tác giữa các đơn vị… Ngoài ra, việc kết nối dữ liệu doanh nghiệp từ cơ quan thuế cũng là nguồn thông tin quan trọng bổ sung các doanh nghiệp còn bị bỏ sót trong danh mục của các cuộc điều tra thống kê.
 
Trong ngành công nghiệp, GO đã được bổ sung phạm vi còn thiếu từ kết quả Tổng điều tra kinh tế, chi tiết đến ngành kinh tế cấp 2: bổ sung phần GO của các đơn vị thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các đơn vị sự nghiệp... VA được tổng hợp, tính toán lại từ 34 ngành kinh tế cấp 2, tổng hợp lên ngành kinh tế cấp 1 và khu vực II (công nghiệp và xây dựng).
 
Trong ngành xây dựng, GO được rà soát, tính toán chi tiết cho 3 ngành kinh tế cấp 2, phân theo doanh nghiệp, xã/phường, hộ dân cư, các đơn vị hành chính - sự nghiệp. VA được tổng hợp, tính toán cho 3 ngành kinh tế cấp 2, tổng hợp lên ngành kinh tế cấp 1 và khu vực II (công nghiệp và xây dựng).
 
Trong ngành dịch vụ, GO được bổ sung đầy đủ phạm vi hơn từ các cuộc tổng điều tra kinh tế; được tính chi tiết từ ngành kinh tế cấp 2; bổ sung phần GO hoạt động viễn thông của Tập đoàn Viettel, bổ sung phần hoạt động ngoài ngân sách của các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp, bổ sung phần khấu hao tài sản của các cơ quan quản lý nhà nước… VA được tổng hợp, tính toán chi tiết cho 49 ngành kinh tế cấp 2, tổng hợp lên ngành kinh tế cấp 1 và khu vực III (dịch vụ). Đối với ngành dịch vụ có sử dụng ngân sách nhà nước, thực hiện ước tính bổ sung các hoạt động còn thiếu.
 
Hệ thống chỉ số giá được hoàn thiện, cập nhật những thay đổi về quyền số của một số hàng hóa và dịch vụ mới đặc thù, hoặc chiếm tỷ trọng lớn, bổ sung danh mục, bổ sung chi tiết bảng giá của 661 sản phẩm cho ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản; thực hiện nối chuỗi chỉ số giá vật liệu xây dựng trong CPI với chỉ số giá nguyên, nhiên vật liệu dùng cho sản xuất; bổ sung các chỉ số giá còn thiếu của 85 ngành kinh tế cấp 2 cho cả nước, theo 8 vùng. Cập nhật hệ số IC đến ngành kinh tế cấp 2 của cả nước.
 
(ii) Bổ sung, cập nhật một số nội dung theo phương pháp luận của Hệ thống tài khoản quốc gia 2008 và hệ thống phân loại mới
 
SNA 2008 đã đưa ra một số thay đổi liên quan đến phạm vi tài sản bao gồm: Mở rộng phạm vi tài sản là các sản phẩm nghiên cứu và phát triển; đánh giá lại phân loại tài sản. Khung lý thuyết mới đã phân biệt cụ thể hơn giữa tài sản do sản xuất và tài sản không do sản xuất tạo ra; không căn cứ vào hình thái để phân chia tài sản thành tài sản vô hình và tài sản hữu hình như trước đây. Tài sản cố định thuộc nhóm tài sản do sản xuất tạo ra được phân tách chi tiết hơn và bổ sung một số loại tài sản cố định mới bao gồm: Giá trị cải tạo đất, thiết bị công nghệ thông tin, hệ thống vũ khí, chi phí chuyển nhượng của tài sản không do sản xuất tạo ra, tài sản sở hữu trí tuệ, giá trị nghiên cứu và phát triển, định giá mỏ, cơ sở dữ liệu. Nhóm tài sản không do sản xuất tạo ra được bổ sung một số loại tài sản mới bao gồm: Vùng phủ sóng radio, các nguồn tài nguyên khác (không bao gồm đất, năng lượng, khoáng sản, tài nguyên sinh vật không do nuôi trồng và nước); giấy chứng nhận quyền sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên; giấy chứng nhận cho phép thực hiện các hoạt động đặc biệt; quyền đối với hàng hóa và dịch vụ tương lai trên cơ sở độc quyền. Trong các loại tài sản được bổ sung mới này, một số tài sản đã được tính toán vào tài khoản quốc gia trong quá trình đánh giá lại quy mô GDP như: Bổ sung, cập nhật giá trị các sản phẩm nghiên cứu và phát triển, phần mềm tin học sử dụng trong nội bộ doanh nghiệp/cơ sở kinh doanh; giá trị cải tạo đất, chi phí chuyển nhượng tài sản không từ sản xuất theo phương pháp luận của Hệ thống tài khoản quốc gia 2008.
 
Cập nhật Hệ thống phân ngành kinh tế 2018 theo Quyết định số 27/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/7/2018 và Hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo Quyết định số 43/2018/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 01/11/2018.
 
(iii) Thực hiện đánh giá theo giá hiện hành và giá so sánh năm 2010
 
Đánh giá lại quy mô GDP theo giá hiện hành và giá so sánh để phản ánh quy mô, cơ cấu của GDP theo ngành kinh tế. GDP giá hiện hành kết hợp với các chỉ tiêu vĩ mô khác để nghiên cứu, xem xét các cân đối lớn trong nền kinh tế để so sánh kết quả hoạt động trong nền kinh tế, của các địa phương, của các ngành kinh tế với nhau.
 
Đánh giá lại quy mô GDP theo giá so sánh để đánh giá tốc độ tăng trưởng theo từng ngành kinh tế qua các năm. Đó chính là mức tăng về lượng của toàn bộ nền kinh tế thể hiện qua so sánh quy mô GDP các năm theo giá so sánh năm gốc 2010.
 
(iv) Tính toán lại các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp có liên quan
 
Bên cạnh việc rà soát, biên soạn lại GDP theo giá hiện hành và so sánh từ năm 2010 đến 2017 cần xem xét chỉ tiêu này trong mối quan hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác có liên quan. Trong điều kiện phạm vi tính toán được mở rộng và đầy đủ hơn, quy mô GDP thay đổi dẫn đến các quan hệ, cân đối lớn của nền kinh tế thay đổi. Đánh giá lại quy mô GDP ảnh hưởng đến các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp khác có liên quan và làm thay đổi các chỉ tiêu biểu hiện quan hệ tài chính, quan hệ cung - cầu và các cân đối lớn trong nền kinh tế. Từ đó, có những phân tích, đánh giá, xem xét thấu đáo hơn kết quả và hiệu quả hoạt động kinh tế của đất nước trong một chuỗi năm. Đây là căn cứ quan trọng để xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách phù hợp với năng lực của quốc gia.
 
Nguồn thông tin phục vụ đánh giá lại quy mô tổng sản phẩm trong nước
 
Nguồn thông tin phục vụ cho rà soát, đánh giá lại quy mô nền kinh tế chủ yếu dựa trên kết quả các cuộc tổng điều tra và điều tra thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện gần nhất; khai thác hồ sơ hành chính; báo cáo thống kê và các nguồn thông tin khác.
 
(i) Tổng điều tra và điều tra toàn bộ
 
Đây là cơ sở đầy đủ nhất về nguồn thông tin cho hầu hết các ngành trong nền kinh tế. Tổng điều tra cơ sở kinh tế, hành chính sự nghiệp năm 2012 và Tổng điều tra kinh tế năm 2017 là căn cứ để các ngành công nghiệp, xây dựng, dịch vụ đánh giá lại số liệu VA của năm 2011 và 2016. Khối doanh nghiệp, cơ quan quản nhà nước, đơn vị sự nghiệp và khối cá thể cùng được rà soát và tính toán lại số liệu trên cơ sở thông tin thu thập trong 2 kỳ tổng điều tra này.
 
Điều tra toàn bộ các tập đoàn, tổng công ty là căn cứ để tính toán, phân bổ GO các hoạt động đa ngành kinh tế, đa lĩnh vực, đa địa bàn cho các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
 
Tổng điều tra Nông thôn, nông nghiệp và thủy sản 2011, 2016 là căn cứ quan trọng của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản để thực hiện rà soát, tính toán đánh giá lại số liệu VA của ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2011 và năm 2016.
 
(ii) Điều tra hàng năm
 
Tổng điều tra cung cấp danh sách tổng thể và thông tin chi tiết, đầy đủ cho năm báo cáo. Từ đó làm cơ sở để rà soát và cập nhật dàn mẫu và suy rộng cho các năm giữa hai kỳ Tổng điều tra. Điều tra hàng năm cung cấp những thông tin thực tế phản ánh hiện trạng, xu thế biến động của các hoạt động kinh tế trong năm đáp ứng nhu cầu thông tin phục vụ quản lý của các cấp lãnh đạo và người dùng tin. Kết hợp với số liệu tổng thể từ tổng điều tra và số liệu điều tra trong năm để có thể xem xét về cả chiều rộng và chiều sâu của nền kinh tế năm báo cáo.
 
(iii) Báo cáo thống kê
 
Hệ thống chế độ báo cáo thống kê nhằm thu thập, tổng hợp các thông tin cần thiết cho quá trình sản xuất số liệu thống kê. Chế độ báo cáo thống kê được thiết lập từ Trung ương đến địa phương trong nội bộ ngành thống kê và trong các bộ, ban, ngành khác. Do thực hiện phân công, phân cấp, phân nhiệm, chế độ báo cáo thống kê được thu gọn, nhằm kiểm tra và bổ sung cho thông tin còn thiếu của điều tra thống kê. Tuy nhiên, số liệu chính thức từ báo cáo thống kê là nguồn thông tin quan trọng, có tính pháp lý, đảm bảo cho biên soạn GDP chính thức năm và các chỉ tiêu thống kê quan trọng khác.
 
(iv)) Hồ sơ hành chính
 
Số liệu chính thức từ các bộ, ban, ngành là nguồn thông tin quan trọng, đáng tin cậy cho việc cập nhật, đánh giá lại những sai số trong số liệu điều tra và số liệu ước tính của cơ quan thống kê. Do hạn chế về nguồn lực và khả năng cung cấp thông tin của các đối tượng điều tra nên Tổng cục Thống kê không thể thu thập tất cả các thông tin chi tiết cho từng ngành, từng lĩnh vực qua kênh điều tra thống kê và báo cáo chính thức. Thông tin từ các bộ, ban, ngành thống nhất với tiêu chuẩn của cơ quan thống kê sẽ là bằng chứng cụ thể để phản ánh rõ nét kết quả hoạt động sản xuất trong lĩnh vực mà các bộ, ban, ngành được phân công quản lý.
 
Ngoài các thông tin trực tiếp từ các bộ, ban, ngành, báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh là nguồn thông tin cơ bản và quan trọng của cơ quan thống kê. Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, điều tra thống kê không thể bao quát toàn bộ các đối tượng điều tra, đơn vị điều tra thì báo cáo tài chính là nguồn thông tin bổ sung rất hiệu quả và tiết kiệm.
 
(v) Nguồn thông tin khác
 
Bên cạnh các nguồn thông tin chính thức nói trên, nguồn thông tin khác từ các phương tiện thông tin đại chúng được tham khảo bởi tính cập nhật và khả năng khai thác dễ dàng, nhanh chóng. Thông tin về doanh nghiệp, báo cáo tài chính của các công ty niêm yết được công khai trên mạng; trên sàn giao dịch chứng khoán; thông tin từ một số tổ chức điều tra nghiên cứu thị trường; thông tin chuyên ngành của các ngân hàng, bảo hiểm, các doanh nghiệp, và tập đoàn lớn… được lưu giữ trên mạng đã và đang được cơ quan thống kê khai thác, sử dụng./.
 
(Nguồn: Tổng cục Thống kê)

Liên kết website
Liên kết website
Thăm dò ý kiến

Đánh giá khách quan của bạn về thông tin chúng tôi cung cấp? Vui lòng tích vào ô bên dưới để trả lời!

Top